Đảng Bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2006 - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÀO THỊ BÍCH HỒNG

(Màu M58,4 quyen, 240 trang)
ĐẢNG BỘ TỈNH BẠC LIÊU LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 62 22 56 01
LUN N TIN S LCH S
NGI HNG DN KHOA HC
PGS.TS Hong Hng
H Ni - 2011 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ……………………………………………………………………

Lời cam đoan …………………………………………………………………….

Mục lục …………………………………………………………………………

2.1. Đƣờng lối của Đảng và chủ trƣơng mới của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu …….
74
2.1.1. Đường lối của Đảng ………………………………………………
74
2.1.2. Những chủ trương mới của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu………………………
80
2.2. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ………………… ….………
88
2.2.1. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ……………….………
88
2.2.2. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu kinh tế thành phần ….
114
Tiểu kết ………………………………………………………………………….
135
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ………………………
136
3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ ……… …………………………….
136
3.1.1. Ưu điểm …………………………………………………………………….
136
3.1.2. Hạn chế …………………………….……………………………………….
151
3.2. Một số kinh nghiệm và vấn đề đặt ra .………….………………………….
162
3.2.1. Một số kinh nghiệm ………………………………………………
162
3. 2.2. Những vấn đề đặt ra ……………………………………………………….
172
Tiểu kết ……………………………………………………………………………
181


KTTT
KTTN
UBND
USD
XHCN
Ban Bí thư
Ban chấp hành
Ban chấp hành Trung ương
Bộ Chính trị
cơ cấu kinh tế
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
công nghiệp hóa
chủ nghĩa xã hội
doanh nghiệp nhà nước
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
hiện đại hóa
hợp tác xã
nhà xuất bản
các Nền kinh tế mới công nghiệp hóa (Newly Industrializing
Economies)
Viện trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance)
kinh tế tập thể
kinh tế tư nhân
ủy ban nhân dân
Đô la Mỹ
xã hội chủ nghĩa


Bảng 3.4. Vốn đầu tư phát triển của Nhà nước (theo ngành kinh tế)
151
Bảng 3.5. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế …………………………
159
Bảng 3.6. Cơ cấu các thành phần kinh tế trong tổng sản phẩm (1997-2006) …
182 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Một trong những nội dung cốt lõi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy
mạnh CNH, HĐH, là sự hình thành và biến đổi CCKT
*
cả nước nói chung và mỗi địa
phương nói riêng.
Đặc trưng cho CCKT của nền kinh tế quốc dân là cơ cấu ngành, cơ cấu thành
phần và cơ cấu vùng , trong đó cơ cấ u ngà nh giữ vai trò quan trọ ng hơn cả . Cơ cấu
ngành và thành phần chỉ có thể được hình thành và phát triển trên phạm vi vùng lãnh
thổ và phạm vi cả nước. Việc phân bố sản xuất trên những vùng lãnh thổ một cách
hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các ngành và thành phần kinh tế.
Để có CCKT hợp lý cần phải có nhận thức đúng và sự lãnh đạo, điều hành một
cách năng động, sáng tạo của Trung ương và các cấp bộ đảng, chính quyền địa
phương, nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, miền. Lực lượng sản
xuất luôn luôn biến động, phát triển trong quá trình tái sản xuất, vì thế CCKT cũng
thường xuyên biến đổi.
Sự hình thành và biến đổi CCKT gắn liền với sự phát triển kinh tế của một
quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, đồng thời chịu tác động của bối cảnh kinh tế thế giới,
nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập.

Bạc Liêu là một tỉnh ven biển, thuộc bán đảo Cà Mau, được tái lập năm 1997
(tách ra từ tỉnh Minh Hải). Nhân dân Bạc Liêu giàu truyền thống yêu nước và cách
mạng, anh dũng trong đấu tranh chống ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất.
Tỉnh Bạc Liêu có những điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi
trồng thủy sản.
Thực hiện đường lối CNH, HĐH của Đảng, Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu đã lãnh
đạo nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng, từng bước CDCCKT, nhất là kinh tế nông
nghiệp trong tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa, nhằm sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực. Quá trình đó đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần cải thiện đời
sống người lao động, tạo ra những chuyển biến tích cực về mặt xã hội.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế chưa phát triển mạnh, lực lượng lao động còn
tập trung quá nhiều trong nông nghiệp, nên quá trình CDCCKT gặp nhiều khó khăn
và tốc độ còn chậm, kể cả cơ cấu ngành nghề, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng, vì
thế, hiệu quả kinh tế của tỉnh vẫn chưa cao.
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng, sự
CDCCKT phải bắt đầu từ nông nghiệp, và phải đặt nó trong mối quan hệ với công
nghiệp và dịch vụ, nhưng từ nhận thức đến thực tiễn ở mỗi địa phương có những
điểm khác nhau, do những điều kiện lịch sử cụ thể chi phối.
Trước đây, khi làm luận văn cao học, tôi đã bước đầu nghiên cứu đề tài Đảng
bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm
2003 và nhận thấy một trong những nguyên nhân phát triển của nông nghiệp Bạc
Liêu là có sự lãnh đạo CDCCKT của Đảng bộ tỉnh theo đường lối của Đảng.
Việc nghiên cứu, tổng kết sự lãnh đạo của mỗi đảng bộ địa phương trong quá
trình thực hiện chủ trương của Đảng về CDCCKT, không chỉ góp phần làm rõ một sự
vận động lịch sử đã và đang diễn ra trên mỗi địa bàn, đúc rút những kinh nghiệm của
mỗi địa phương, mà còn có thể cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc giải quyết
những vấn đề về nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn đối với sự phát
triển kinh tế của đất nước hiện nay.
và bài học rút ra từ CDCCKT trong một số mô hình CNH và quá trình thay đổi nhận
thức trong cách tiếp cận về CNH, HĐH và CDCCKT ngành thể hiện trong các văn
kiện của Đảng qua các thời kỳ. Qua đánh giá quá trình CDCCKT ngành ở Việt Nam
trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới, các tác giả đã so sánh với các nhóm NIEs
trong khu vực Đông Á, đồng thời phân tích, đánh giá tác động ảnh hưởng của những
nhân tố mới trên thế giới và trong nước đối với xu hướng CDCCKT Việt Nam…

4
Cuốn sách đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về CDCCKT ngành, một vấn đề cơ
bản nhất trong CDCCKT nói chung.
Cuốn sách chuyên khảo Phát triển kinh tế vùng trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa do TS Nguyễn Xuân Thu và TS Nguyễn Văn Phú đồng chủ biên
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006) đã trình bày một cách tổng quan về vùng,
phân vùng kinh tế. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá vùng dưới góc cạnh khác nhau,
các tác giả đã rút ra những nhận định quan trọng về tính đa dạng và phân dị của các
điều kiện và yếu tố phát triển vùng, mức độ và khả năng khai thác nguồn lực của từng
vùng lãnh thổ. Từ đó xác định khả năng và sự nắm bắt, vận dụng khoa học công nghệ
cũng như đường hướng bước đi theo hướng CNH, HĐH trên các kiểu và loại vùng.
Qua đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội từng kiểu và loại vùng khác nhau,
các tác giả đã rút ra những nhận định về việc khơi dậy các tiền năng, thế mạnh của
các vùng (các vùng lớn, các vùng trọng điểm, ngoài trọng điểm, đô thị, nông thôn,
vùng khó khăn). Đồng thời rút ra những xu hướng phát triển của các vùng, đặc biệt về
xu hướng biến đổi cơ cấu lãnh thổ, về chênh lệch vùng, về sự bất bình đẳng giữa các
vùng, về kết hợp cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ trên các vùng, về làn sóng di dân từ
nông thôn vào đô thị, về tồn tại nguy cơ bất ổn chính trị ở một số vùng, về ô nhiễm
môi trường và sự suy giảm tài nguyên vùng, về mối quan hệ liên vùng… Thành công
chính của cuốn sách này là đã bước đầu phân tích và luận giải về sự phát triển kinh tế
vùng trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước. Tuy nhiên, cuốn sách chỉ tập trung trình
bày một cách khái quát về sự phát triển của các vùng kinh tế trên quy mô cả nước, mà
chưa đi sâu vào nghiên cứu từng vùng kinh tế riêng biệt.

góc độ của nhà nghiên cứu kinh tế, các tác giả đã nêu rõ những luận cứ khoa học về
tính tất yếu khách quan và sự phát triển lâu dài của sở hữu tư nhân và KTTN ở Việt
Nam, đi sâu phân tích làm rõ KTTN thực sự là một bộ phận cấu thành của kinh tế
XHCN; vai trò, vị trí của KTTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH, mối quan hệ của vai
trò chủ đạo của KTNN với vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN; vấn đề đảng viên làm KTTN, lợi ích kinh tế - xã hội mà nó mang lại… Trên
cơ sở đó, tập thể tác giả đã đề xuất một số chính sách có tính hệ thống và đồng bộ về
KTTN trong cơ chế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Các chính sách này
xoay quanh tiêu điểm là bảo đảm sự phát triển lâu dài, bình đẳng, công nhận quyền
hợp pháp và không hạn chế đối với KTTN trong mọi lĩnh vực, hướng KTTN đóng
góp tích cực vào công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Từ góc độ khoa học kinh tế, còn có nhiều công trình nghiên cứu như: Chuyển
dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế của nông nghiệp Việt Nam theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “thời đại kinh tế tri

6
thức” của Lê Quốc Sử, (Nxb Thống kê, TP.Hồ Chí Minh, 2001); Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân do Ngô Đình
Giao (chủ biên), (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003); Các giải pháp phát triển
kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XXI của Trần Xuân Kiên, (Nxb Thanh niên, Hà Nội,
2003; Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2006) thành tựu và những vấn đề đặt
ra do PGS, TS Đặng Thị Loan, GS, TSKH Lê Du Phong và PGS, TS Hoàng Văn Hoa
đồng chủ biên (Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2006); Cơ cấu kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và nghiên cứu thống kê cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
(Sách chuyên khảo), Phan Công Nghĩa, (Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội,
2007)… Những công trình này cung cấp một cái nhìn khái quát về CDCCKT ở Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, cũng như việc
nghiên cứu thống kê về cơ cấu kinh tế và CDCCKT.
Nhiều luận án tiến sĩ kinh tế cũng có đề cập đến vấn đề CDCCKT như Xu
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí

của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới của PGS,TS Nguyễn Văn
Khánh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003)… là những tác phẩm có đề cập đến sự
CDCCKT ngành nông nghiệp nói chung trong cả nước và vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng nói riêng.
Một số Hội thảo khoa học đã đi sâu bàn về CDCCKT như: Hội thảo Những
vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (Do Ủy ban Kế
hoạch Nhà nước và Trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ trì, 1995); đề tài Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn đồng bằng sông Hồng theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, thực trạng và giải pháp (Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, 1998 ); Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1995 - 2000 (Do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trường, nay là Bộ khoa học công nghệ, chủ trì); Thực hiện đường lối phát triển nông
nghiệp, nông thôn của Đảng ở đồng bằng sông Cửu Long trong những năm đổi mới
(Do Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
chủ trì, 2002)…
Nghiên cứu về CDCCKT còn có những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa
học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, như: Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, luận án tiến sĩ của
Nguyễn Văn Vinh (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2010); Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

8
nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997-2003 của Đào Thị Vân (Trung tâm Đào tạo,
Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà nội, 2004); Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2003 của Đặng
Kim Oanh (Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc
gia Hà nội, 2005); Đảng bộ huyện Từ Sơn chỉ đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế những năm 1999-2005 của Chu Thị Thanh Tâm (Trường Đại học Khoa học Xã hội

Kinh tế trang trại tiềm năng và phát triển do Nguyễn Trường Giang chủ biên
(Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc liêu phát hành, 2004, lưu hành nội bộ) đã khảo cứu sự
hình thành và phát triển một mô hình kinh tế mới trong nông nghiệp, nông thôn - mô
hình kinh tế trang trại. Kinh tế trang trại Bạc Liêu hình thành và phát triển cùng với
quá trình Bạc Liêu tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Qua số liệu thống
kê, tập thể tác giả đã làm nổi bật hiệu quả của mô hình kinh tế này đối với sự phát
triển chung của tỉnh: “… quá trình hình thành và đi lên của kinh tế trang trại là quá
trình chuyển biến từ sản xuất nhỏ, manh mún lên sản xuất hàng hóa trong nông - lâm
- ngư nghiệp. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tích lũy để công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông thôn. Kinh tế trang trại phát triển không chỉ góp phần tăng thu nhập cho
người nông dân, mà quan trọng hơn là tạo ra tiền đề bên trong để phát triển công
nghiệp và dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn, nâng cao dân trí, tay nghề cho lao
động ở nông thôn [271, tr. 28]. Song bên cạnh mặt tích cực, các tác giả cũng chỉ ra
những khó khăn của kinh tế trang trại: phát triển tự phát, trình độ quản lý của các chủ
trang trại thấp, khả năng tự tìm thị trường tiêu thụ kém, thiếu vốn trong sản xuất và
khả năng tích tụ ruộng đất ngày càng tăng cùng với xu hướng phát triển quy mô của
các trang trại… Trên cơ sở làm rõ lợi ích và những khó khăn của mô hình kinh tế
trang trại, tập thể tác giả khẳng định: “Hình thành và phát triển trang trại là một trong
những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường. Song để tồn tại và phát triển đòi hỏi các
chủ trang trại phải có chí, có tâm, có vốn và có kỹ thuật” [271, tr. 25]. Cuốn sách đã
cung cấp những luận cứ quan trọng để tiếp tục nghiên cứu sự CDCCKT thành phần ở
Bạc Liêu.
Kỷ niệm 10 năm tái lập tỉnh, Cục Thống kê tỉnh Bạc liêu biên soạn cuốn Bạc
Liêu mười năm xây dựng và phát triển (1997-2006), năm 2006. Đây là một trong
những tài liệu đánh giá tương đối toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh
Bạc Liêu trong 10 năm (1997-2006). Ngoài những phân tích khái quát, tài liệu còn
cung cấp các thông tin bằng số, nhằm lượng hóa những gì đạt được và chưa đạt được
của chặng đường 10 năm. Với khối lượng thông tin phong phú và đa dạng, được thu
thập, xử lý và tập hợp một cách khoa học bởi những chuyên viên thống kê của tỉnh,
cuốn sách đã làm rõ những chuyển biến đáng kể về kinh tế, xã hội của tỉnh Bạc Liêu.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân kỳ lịch sử, trình bày và phân tích các sự kiện lịch sử một cách có hệ
thống theo trình tự thời gian, gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong mỗi giai đoạn;
làm rõ bước phát triển trong sự lãnh đạo CDCCKT của Đảng bộ.

11
- Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu trong quá
trình lãnh đạo CDCCKT.
- Trình bày và đánh giá đúng những kết quả cụ thể về CDCCKT diễn ra dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ qua những khoảng thời gian khác nhau, bao gồm cả những
thành tựu và hạn chế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu về CDCCKT trên
địa bàn tỉnh.
- Quá trình hiện thực hóa những chủ trương của Đảng bộ về CDCCKT, thể
hiện qua hoạt động của các cấp bộ đảng, chính quyền, ban ngành chức năng ở địa
phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về CDCCKT trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH.
- Những điều kiện về tự nhiên và xã hội của tỉnh Bạc Liêu có ảnh hưởng đến
việc xác định và thực hiện chủ trương CDCCKT của tỉnh.
- Những biện pháp tổ chức thực hiện của các cấp bộ đảng, chính quyền và các
ban, ngành trong tỉnh Bạc Liêu về CDCCKT.
- Diễn biến thực tế của sự CDCCKT, bao gồm CDCCKT ngành, CDCCKT
vùng và CDCCKT thành phần, mà chủ yếu là CDCCKT ngành.
- Thời gian của đề tài là từ năm 1997 đến năm 2006. Năm 1997 là thời điểm
tỉnh Bạc Liêu và Đảng bộ tỉnh được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Minh Hải. Năm
2006 chỉ là mốc thời gian có ý nghĩa tương đối vì đó là thời điểm xác định đề tài luận

sử.
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, so
sánh, phân tích và tổng hợp để làm rõ sự phát triển.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Luận án được chia thành ba chương:
Chương 1: Bước đầu lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm
1997-2000
Chương 2: Tăng cường lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm
2001-2006
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

13

Chương 1
BƢỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TRONG NHỮNG NĂM 1997-2000

1.1. Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu
và chủ trƣơng của Đảng bộ
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cơ cấu kinh tế trước ngày tái lập tỉnh
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
Tỉnh Bạc Liêu được tái lập từ ngày 1-1-1997 trên cơ sở chia tách từ tỉnh Minh
Hải thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Sau khi được tái lập, Bạc Liêu gồm 7 đơn vị

nhiễm phèn, mặn của thổ nhưỡng.
Toàn tỉnh Bạ c Liêu có 1.497 km sông, rạch, trong đó có 9 sông lớn với tổng
chiều dài 253 km, 24 kênh trục và kênh cấp 1 với tổng chiều dài 354 km, 143 kênh
cấp 2 và kênh vượt cấp với tổng chiều dài 325 km và kênh cấp 3 với tổng chiều dài
565 km. Là một trong những tỉnh có hệ thống sông rạch nhiều nhất so với cả nước ,
Bạc Liêu có tiềm năng lớn để phát triển vậ n tải biển và du lịch, cùng với những vườn
cây ăn trái, xen những cánh rừng phòng hộ ven biển tạo nên sự hấp dẫn cho du lịch
sinh thái. Tuy nhiên, hệ thống sông rạch cũng tạo sự chia cắt địa bàn, gây khó khăn
cho giao thông đường bộ.
Khí hậu tỉnh Bạc Liêu mang những đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận
xích đạo; đồng thời chịu ảnh hưởng rõ rệt của biển, một năm chia làm 2 mùa: mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch, với lượng
mưa trung bình 1.867,8 mm/năm, mùa mưa chiếm trên 90% lượng mưa cả năm. Do
nằm ở vĩ độ thấp (9
0
00 vĩ Bắc) nên tỉnh Bạc Liêu ít bị ảnh hưởng của bão và áp thấp
nhiệt đới.
Bạc Liêu không bị ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt hệ thống sông Cửu Long ,
nhưng chịu ảnh hưởng của chế độ thủ y triều biển Đông và một phần chế độ nhật triều
biển Tây. Nhờ vậy nửa diện tích Bắc Quốc lộ 1A có thể chuyển đổi để nuôi trồng
thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Do những điều kiện về thổ nhưỡng , thủy văn và các đặc trưng về thời tiết , khí
hậu, Bạc Liêu có khả nă ng sử dụng 83,58% diện tích đất tự nhiên để trồng lúa , cây

15
hàng năm , cây lâu năm ; đất trồng rừng , nuôi tôm, làm muối là 13,49%; đất sông,
kênh rạch khoảng 2,9%.
Tỉnh Bạc Liêu có 152.000 ha đất tự nhiên dần được ngọt hóa theo tiến độ thực
hiện Chương trình ngọt hóa Quản lộ Phụng Hiệp của Trung ương với 176.000 ha đất
sản xuất nông nghiệp, trong đó có 70.000 ha đất sản xuất lúa trong vùng ngọt hóa [38,

nghề bậc thấp và chưa qua đào tạo…[238, tr. 3]. Đội ngũ cán bộ quản lý vừa thiếu, vừa yếu về chuyên môn,
nghiệp vụ, tác động không nhỏ đến điều hành sản xuất, kinh doanh và tìm kiếm thị trường [238, tr. 12-15].

16
23% tổng số hộ (gần 40 ngàn hộ). Sở dĩ hạt lúa của Bạc Liêu mấy chục năm dài sau
giải phóng không vươn xa được, đơn giản là vì không chế biến, xuất khẩu.
Hoạt động thương mại - dịch vụ của Bạc Liêu khi tái lập tỉnh còn rất nhiều khó
khăn. “Chất lượng hàng xuất khẩu thấp, mẫu mã đơn điệu, công nghệ lạc hậu mang
nhiều tính chất sơ chế nên hiệu quả kinh tế thấp” [238, tr. 16].
Về xã hộ i , Tỉnh Bạc Liêu có dân số 795.323 người (1997), với mật độ 317
người/km
2
, thấp hơn mức bình quân chung của đồng bằng sông Cửu Long. Dân số
khu vực thành thị chiếm 24%, nông thôn 76%. Nếu chia theo nông nghiệp và phi
nông nghiệp thì tỷ lệ tương ứng là 79% và 21%. Tỷ lệ này chứng tỏ một bộ phận khá
đông dân số ở thành thị vẫn sống bằng nghề nông.
Thành phần dân tộc ở Bạc Liêu chủ yếu là người Kinh (chiếm 89,5%), người
Hoa chiếm 2,5%, người Khơme chiếm gần 8%. Dân cư trong tỉnh phân bố không đều,
thường tập trung ở thị xã, thị trấn, ven kênh rạch [238, tr. 1-2].
Sinh sống trên mảnh đất lịch sử giàu truyền thống yêu nước và cách mạng ,
ngườ i dân Bạ c Liêu mang né t đặ c thù là cần cù , thông minh , sáng tạo , hào hiệp ,
phóng khoáng. Cùng với phong trào cách mạng chung của cả nước , Đả ng bộ và nhân
dân Bạ c Liêu đã có nhữ ng đó ng gó p quan trọ ng và o sự nghiệ p đấ u tranh giả i phó ng
dân tộ c, thố ng nhấ t Tổ quố c và xây dự ng CNXH.
Những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hộ i khá thuận lợi chí nh là nguồ n nội lực
để Bạc Liêu tiến hành CDCCKT , đẩy mạnh CNH, HĐH. Tuy nhiên trong quá trình
đó, Bạc Liêu phải vượt qua không ít khó khăn do kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất
là hệ thống giao thông đường bộ chưa phát triển ở nông thôn; nguồn lao động chủ yếu
vẫn là lao động phổ thông. Nền kinh tế còn mang nặng tính thuần nông, sản xuất
hàng hóa chưa phát triển. Điều đó cũng quy định CDCCKT ở Bạc Liêu phải bắt đầu

hình thành nền nông nghiệp hàng hóa. Nghị quyết chủ trương sắp xếp và tổ chức lại
sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp;
gắn trồng trọt với chăn nuôi; gắn nông - lâm - ngư nghiệp với công nghiệp chế biến
và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn… Đây là những bước đột phá
mở đầu cho CDCCKT theo hướng sản xuất hàng hóa.
Tháng 3-1989, Hội nghị lần thứ sáu BCHTƯ (khóa VI) khẳng định những
chuyển biến rõ rệt trong CDCCKT nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của
BCT, đồng thời làm rõ thêm tư tưởng đổi mới, thể hiện ở ba quan điểm lớn: 1- Mọi tổ
chức sản xuất kinh doanh do người lao động tự động góp vốn, góp sức và được quản
lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập
thể hóa là HTX; 2- HTX và tập đoàn sản xuất là các đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều
hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; 3- Gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh

18
tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng với HTX,
còn chủ động phát triển sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức, khuyến khích xã
viên làm giàu; đồng thời có chính sách, biện pháp cụ thể để giúp các hộ nghèo có
thêm điều kiện để vươn lên làm ăn tốt.
Hội nghị còn chỉ rõ những phương hướng và cụ thể hóa đổi mới cơ chế quản lý
vĩ mô của Nhà nước nhằm kiên quyết xóa bỏ bao cấp, xác lập đầy đủ chế độ tự chủ
trong sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, xóa bỏ độc quyền trong kinh doanh,
tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các đơn vị sản xuất kinh doanh năng động.
Đại hội VII của Đảng (6 -1991) tổng kết thành tựu 5 năm đổi mới, khẳng định
những kết quả thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế “gắn liền với
những chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư và bố trí lại cơ cấu
kinh tế” [43, tr. 19-20]. Đại hội đề ra những định hướng lớn trong chính sách kinh tế,
trong đó có quan điểm phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với quá trình xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, CDCCKT theo hướng từng bước CNH, thoát khỏi tình
trạng nông nghiệp lạc hậu. “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp
chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình

thôn Việt Nam, xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn từ năm 1993 đến năm 2000, đồng thời đề ra phương hướng và giải pháp cụ
thể để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội nông thôn, xây dựng nông thôn mới
theo định hướng XHCN.
Hộ i nghị xác định mục tiêu : Một là, phát triển nhanh, vững chắc nông - lâm -
ngư, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng và
hiệu quả kinh doanh để thu hút đại bộ phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao
động, giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực thực phẩm; đáp ứng nhu cầu nguyên
liệu cho công nghiệp và tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, bảo vệ môi trường sinh
thái. Hai là, cải thiện một bước đời sống văn hoá của nông dân, tăng diện giàu và đủ
ăn, xoá đói giảm nghèo. Ba là, xây dựng nông thôn mới.
Trên cơ sở xác định các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nông thôn trong thời
kỳ mới, Hội nghị đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông
thôn, thể hiện trên những điểm chủ yếu là: 1- Đặt sự phát triển của kinh tế nông
nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình CNH, HĐH đất
nước. Đổi mới CCKT nông nghiệp theo hướng coi trọng đúng mức sản xuất lương
thực; tăng nhanh sản lượng, năng suất, nâng cao chất lượng sản xuất và chế biến
lương thực; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản phẩm nông nghiệp; thâm canh
mở rộng diện tích một số cây công nghiệp, mở rộng phát triển cây ăn quả và xây
dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn… CDCCKT nông thôn theo hướng phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status