Đảng bộ tỉnh quảng trị lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo từ năm 2001 đến năm 2010 luận văn ths lịch sử 60 22 56 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

=============================

PHẠM THỊ THÙY NHUNG

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRỊ LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

=============================

PHẠM THỊ THÙY NHUNG

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRỊ LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60.22.56

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐOÀN THẾ HANH


1


2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị về phát triể n giáo du ̣c
- đào ta ̣o (2005 - 2010) ........................................................................... 53
2.2. Quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiêṇ và kế t quả (2005 - 2010).. 56
2.2.1. Quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiêṇ ......................................... 56
2.2.2. Những kết quả đạt được ............................................................. 70
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ........ 87
3.1. Nhận xét chung ............................................................................... 87
3.1.1. Về những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự
nghiệp giáo dục và đào tạo .................................................................... 87
3.1.2. Về quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Quảng
Trị đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo ............................................... 89
3.1.3. Về những thành tựu cơ bản ........................................................ 94
3.1.4. Những hạn chế chính và nguyên nhân .................................... 100
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu ....................................................... 102
3.2.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát
triển giáo dục - đào tạo ........................................................................ 103
3.2.2. Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về
chất lượng ............................................................................................. 105
3.2.3. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý Nhà nước về giáo dục và đào
tạo. ......................................................................................................... 109
3.2.4. Tăng cường các nguồn lực, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
cho giáo dục và đào tạo, thực hiện xã hội hóa giáo dục .................... 111
3.2.5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
............................................................................................................... 115
KẾT LUẬN .................................................................................................. 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 124

học công nghệ phải đi trước một bước trong quá trình phát triển đất nước. Với
vai trò ấy, giáo dục - đào tạo là yếu tố quan trọng nhất trong chiến lược con
người của Đảng, là hạt nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

3


Qua 25 năm đổi mới (1986 - 2011), nước ta đã đạt được những kết quả
quan trọng về giáo dục và đào tạo. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào
tạo đã đạt trên 20% tổng chi ngân sách. Việc phát triển giáo dục - đào tạo ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đặc biệt quan tâm.
Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển. Đến năm 2010, nước ta đã đạt
chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010
chiếm 40% tỉ lệ lao động đang làm việc…Có được những thành tựu như vậy
là nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, là sự đóng góp tích cực của nhiều
địa phương trong cả nước.
Quảng Trị là tỉnh có truyền thống hiếu học, khuyến học và truyền thống
cách mạng, đời sống kinh tế những năm gần đây có bước khởi sắc, nhu cầu
học tập của người dân không ngừng tăng lên, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của
tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan trọng… Có được những điều đó là do
nhận được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự chăm lo, tạo
mọi điều kiện thuận lợi của các đoàn thể cho ngành giáo dục - đào tạo phát
triển. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì chất lượng giáo dục ở
các vùng - miền chưa đồng đều; trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy, học
tập còn nhiều bất cập; các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục vẫn còn… Đó là
những vấn đề lớn đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Quảng Trị phải có hướng lãnh đạo,
giải quyết đối với vấn đề giáo dục - đào tạo của tỉnh nhà nhằm thúc đẩy sự
nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển hơn nữa để cùng cả nước thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục
(1/1996). Trong bài phát biểu này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng
định: muốn đưa sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước nhanh chóng đến thắng
lợi thì dứt khoát phải phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục - đào tạo.

5


Những cuốn sách, bài viết trên đều khẳng định vai trò vô cùng quan
trọng của việc đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục - đào tạo và sự phát triển của
giáo dục - đào tạo là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cập đến sự phát triển
giáo dục - đào tạo của từng địa phương.
*Các nhà quản lý giáo dục có nhiều công trình, bài viết sau:
GS.TS Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế
kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Cuốn sách này đã trình bày
tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục nước ta
qua các giai đoạn lịch sử; phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển
nguồn nhân lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và phương hướng phát
triển giáo dục trong thời gian tới.
GS.TS. Phạm Minh Hạc (chủ biên) cuốn: Nhân tố mới về giáo dục và
đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002 đã nêu lên những chuyển biến tích cực về chất lượng
dạy và học; có được những kết quả này là do có sự đổi mới về phương pháp
của cả thầy và trò, phong trào học tập trong nhân dân được đẩy mạnh. Từ đó
xuất hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để góp phần thực hiện
thắng lợi đường lối giáo dục và đào tạo của Đảng.
Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng với Giáo dục Việt Nam hướng tới
tương lai, vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 đã nêu
lên những vấn đề đặt ra đối với giáo dục Việt Nam, đồng thời cũng tìm đến

đến sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước nhà
trong từng giai đoạn cũng như cụ thể từng địa phương.
*Một số luận văn, luận án:
- Hoàng Thị Hằng: “Chiến lược con người của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay”.

7


- Bùi Minh Hằng: “Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo
dục - đào tạo trong công cuộc đổi mới (1986 - 1996) (qua thực tiễn của
tỉnh Đắc Lắc)”.
- Hà Văn Định: “Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1986 đến năm 2000”.
- Lê Văn Nê: “Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo
dục- đào tạo trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2000)”.
- Trần Xuân Tĩnh: “Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo sự nghiệp
giáo dục - đào tạo (1991 - 2000)”.
- Trần Văn Dũng: “Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
- đào tạo (1991 - 2000)”.
- Chu Bích Thảo: “Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo thực hiện chiến
lược phát triển giáo dục - đào tạo (1991 - 2001)”.
- Nguyễn Thị Thanh: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo
dục - đào tạo (1997 - 2006)”.
Những luận văn trên rất phong phú, đa dạng về nội dung và phạm vi
nghiên cứu nhưng đều nhằm tìm phương hướng cho sự phát triển giáo dục đào tạo của từng địa phương cũng như cả nước. Đối với tỉnh Quảng Trị, vấn
đề giáo dục chỉ được biết qua các báo cáo năm học, hoặc các bài viết ở các tập
san của tỉnh,... Hạn chế của các công trình này là sự kiện, nhân chứng chưa
nhiều, phân tích chưa sâu, chưa thấy được bước trưởng thành cũng như mặt
còn yếu kém, để từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục. Và cho đến nay, chưa

bộ tỉnh Quảng Trị đối với sự phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương.
- Thời gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề trên từ năm 2001(năm bắt
đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đồng thời cũng là năm Đảng
bộ tỉnh chọn: “Năm Giáo dục” của tỉnh Quảng Trị) đến năm 2010 (năm kết
thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV).

9


- Không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Quảng Trị.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về giáo dục - đào tạo; vai trò
của nhân tố con người, tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo trong tiến trình
cách mạng.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học Lịch sử Đảng
(phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic). Ngoài hai phương pháp chính,
luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh…để
nghiên cứu về sự phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh Quảng Trị.
* Nguồn tư liệu: Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh.
- Các văn kiện của Đảng về vấn đề giáo dục - đào tạo.
- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị từ năm 2001 đến năm
2010.
- Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Các kế hoạch, báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Các báo cáo hàng năm của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị.

DỤC – ĐÀ O TẠO 5 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2001 – 2005)
1.1. Tình hình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo trước năm 2001
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị nằm trên địa bàn duyên hải Bắc Trung Bộ

. Phía Bắc giáp

huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A
Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp tỉnh
Savanakhet và Salavan, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Tỉnh có diê ̣n tích tự nhiên là 474.699 km2, có 10 đơn vi ̣hành chính, bao
gồ m 1 thành phố , 1 thị xã và 8 huyê ̣n với 138 xã, phường, thị trấn. Dân số
khoảng 601.670 người.
Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị
trí quan trọng - điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của hành lang
kinh tế Đông - Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianma qua cửa khẩu quốc tế
Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng,
Vũng Áng... Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh
tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương
mại, dịch vụ và du lịch. Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về
đường bộ, đường sắt và đường thuỷ. Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến
giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông và
nhánh Tây), tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc qua tỉnh và Quốc lộ 9 gắn
với đường xuyên Á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh
trong vùng và cả nước. Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể
phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua
đường xuyên Á.

12



- xã hội

nói chung và giáo dục - đào ta ̣o nói riêng.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị là một tỉnh chịu nhiều mất mát , đau thương trong cuô ̣c chiế n
tranh chố ng Mỹ cứu nước . Sau hơn 30 năm khôi phu ̣c và phát triể n , kinh tế xã hội của tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng

. Từ mô ṭ tin̉ h khó

khăn, tỉ lệ người nghèo đói cao , kế t cấ u ha ̣ tầ ng thấ p kém , lạc hậu , đến nay
tỉnh từng bước phát triển vượt qua giai đoạn khó khăn và vươn lên không
ngừng. Thu nhâ ̣p bin
̀ h quân đầ u người năm 1996 là 2,6 triê ̣u đồ ng, năm 2000

13


đa ̣t 2,9 triê ̣u đồ ng, năm 2005 đạt 5,16 triệu đồng và đến năm 2010 đạt 16 triệu
đồng (tương đương 845USD). Cơ cấ u kinh tế chuyể n dich
̣ theo hướ ng tích
cực: tỉ trọng GDP của các ngành công nghiê ̣p - xây dựng chiế m 34,7%, ngành
nông - lâm - ngư nghiê ̣p chiế m 29,9%, ngành dịch vụ chiếm 35,4%. Tố c đô ̣
tăng trưởng GDP bình quân 5 năm ở giai đoạn 1996 - 2000 đạt 8,5%, giai
đoạn 2001 - 2005 đạt 8,7%, đến giai đoạn 2005 - 2010 đạt 10,8%.
Về tiề m năng du lich,
̣ Quảng Trị có hệ thố ng di tích lich
̣ sử , văn hóa nổ i
tiế ng của đấ t nước và thế giới . Đó là Thành cổ Quảng Tri ̣ , hàng rào điện tử
Macnamara, Làng địa đạo Vịnh Mốc, căn cứ Khe Sanh , làng Vây, sân bay Tà

Toàn tỉnh có 346.287 người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng
57,5% dân số; số người trong độ tuổi lao động tăng thêm bình quân mỗi năm
khoảng 3.000 - 4.000 người. Đội ngũ lao động được đào tạo, có chuyên môn
kỹ thuật của tỉnh còn hạn chế. Năm 2000, tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề của
toàn tỉnh chỉ chiếm 11% dân số, năm 2005 chiếm 13%, năm 2010 tăng lên
23,5%.
Về truyền thống văn hóa, nhân dân Quảng Trị có truyền thống cần cù,
hiếu học, sáng tạo trong lao động sản xuất và có tình tương thân, tương ái,
giúp nhau trong đời sống và trong xóa đói giảm nghèo. Trải qua những giai
đoạn khốc liệt của các cuộc chiến tranh, người dân Quảng Trị vẫn bất khuất,
kiên trung vượt qua gian khó vươn lên. Quảng Trị còn là vùng đất lịch sử nổi
tiếng, có truyền thống yêu nước, cách mạng, sản sinh những người con kiệt
xuất cho quê hương, đất nước, tiêu biểu là Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Qua
các thời kỳ phát triển, Quảng Trị đã có nhiều danh nhân đạt những danh
hiệu cao quý.
Cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Trị gồm 3 dân tộc: Kinh, Vân Kiều
và Pa Cô. Tỉ lệ các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 9% tổng dân số. Các dân
tộc anh em trên đất Quảng Trị đã đoàn kết, kiên cường đấu tranh trong hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có những đóng góp to

15


lớn cho thắng lợi của dân tộc và ngày nay đang chung sức đồng lòng, giúp đỡ
lẫn nhau trong lao động sản xuất và xây dựng quê hương, đất nước.
Nhìn chung, dân số và nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị dồi dào. Tuy
nhiên, vấn đề dân cư và lao động của tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập
như: dân cư phân bố không đều trên các địa bàn lãnh thổ; trình độ dân trí còn
thấp nhất là vùng sâu, vùng xa; trình độ chuyên môn, kỹ thuật lành nghề còn
hạn chế, thiếu đội ngũ lao động có chất lượng cao, thiếu chuyên gia giỏi... Do

hết trên mười đầu ngón tay. Lực lượng thầy giáo dạy trong các trường Tiểu
học trước cách mạng là những người yêu nước, ủng hộ kháng chiến đi theo
cách mạng. Nhưng số lượng chưa tới năm mươi người, trình độ Bằng Thành
Chung chỉ có 5 - 7 người, còn đa số là Bằng Rime yếu lược. Trong hoàn cảnh
và điều kiện ngặt nghèo đó, Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Trị quyết định giữ
nguyên Ty Thanh tra Tiểu học vụ và thành lập Ty Bình dân học vụ. Ngày
15/9/1945 (sau Hội nghị cán bộ toàn tỉnh) bốn ngày, Ty Thanh tra Tiểu học
vụ, Ty Bình dân học vụ được thành lập (tiền thân của Sở Giáo dục - Đào
tạo ngày nay). Sự nghiệp giáo dục cách mạng Quảng Trị hình thành và
đứng vững.
*Thời kỳ 1954 - 1975: Giáo dục Quảng Trị phát triển trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Đất nước tạm thời chia làm hai miền, Quảng Trị
tạm thời trở thành hai khu vực hành chính của hai chế độ khác nhau. Vĩnh
Linh trở thành đặc khu trực thuộc Trung ương tiến lên CNXH, các huyện, thị
còn lại tạm thời thuộc chính quyền Mỹ - Ngụy kiểm soát. Chuyển vùng giáo
dục là nét đặc thù riêng biệt của Quảng Trị. Chuyển vùng để tồn tại và phát
triển, chuyển vùng để trở lại tiếp tục sự nghiệp cao cả của mình. Tổ chức và
phát triển trong một hoàn cảnh đặc biệt đã tạo cho giáo dục Quảng Trị giành
được nhiều thành tích rực rỡ ngay sau khi quê hương Quảng Trị được giải
phóng (01/05/1972).

17


*Thời kỳ 1976 - 1989: Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên sáp nhập
thành tỉnh Bình Trị Thiên. Vốn cùng chúng chiến hào trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người Quảng Trị sớm hòa nhập và
nhanh chóng thích nghi hoàn cảnh. Bốn huyện, thị của Quảng Trị lúc bấy giờ
thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh Bình Trị Thiên. Vừa phải lo khắc phục hậu
quả nặng nề của chiến tranh để lại, vừa lo phát triển quy mô xây dựng hệ

hội mới đối với mảnh đất và con người Quảng Trị. Trở về tên gọi của mình,
tỉnh Quảng Trị đối mặt với một thực trạng nghèo nàn và lạc hậu: đời sống đói
kém khó khăn, mặt bằng dân trí còn hạn chế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vì
vậy cũng chậm phát triển. Toàn ngành Giáo dục chỉ có 3 ngôi trường kiên cố,
cao tầng; quy mô, mạng lưới trường lớp còn rất hạn chế và không đáp ứng
được nhu cầu học tập của con em nhân dân; đội ngũ cán bộ, giáo viên vừa
thiếu lại vừa yếu; vì vậy, chất lượng giáo dục của toàn ngành rất thấp; do đó,
khó khăn càng tăng lên gấp bội đối với một tỉnh nghèo lại mang trên mình
quá nhiều thương tích của chiến tranh. Ngày 01/7/1989, Chủ tịch UBND tỉnh
Quảng Trị ký quyết định số 01/QĐ-UB thành lập Sở Giáo dục Quảng Trị.
Hướng trước mắt của Sở là ổn định tình hình một cách nhanh chóng và đưa ra
các giải pháp mạnh “tự vượt lên chính mình”. Vừa làm vừa tự đánh giá so
sánh một cách khách quan giữa cái đã đạt được và chưa đạt được, vừa tự điều
chỉnh phù hợp với yêu cầu chung của thời kỳ đổi mới.
Đến tháng 12/1996, Hội nghị BCHTƯ lần thứ 2 khóa VIII đã ra Nghị
quyết quan trọng “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo,
khoa học công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ
đến năm 2000”. Đây là một văn kiện quan trọng của Đảng để lãnh đạo, chỉ
đạo sự nghiệp phát triển GD - ĐT ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH. Nghị
quyết đã nêu 6 tư tưởng chỉ đạo phát triển GD - ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH.
Một là, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo.
Hai là, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.

19


Ba là, giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng , của Nhà nước và
của toàn dân.
Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh.
Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo.

vào nhà trẻ; 45 - 50% số cháu vào mẫu giáo, trong đó trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo
và học chương trình mẫu giáo lớn, chuẩn bị vào lớp 1 đạt 85 - 90%.
Mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp,
ngoại ngữ và tin học cho tất cả học sinh trung học.
Giữ vững phổ cập GDTH và chống mù chữ, thanh toán nạn mù chữ cho
người trong độ tuổi (15 - 35) ở vùng khó khăn, đối tượng khó. Đảm bảo cho
20 - 25% số trường tiểu học được học 2 buổi/ ngày, phần lớn học sinh tiểu
học học đủ 9 môn theo quy định. Phấn đấu đưa phần lớn học sinh trong độ
tuổi vào trường tiểu học, 70% vào trường THCS và THPT, 40% học các
trường dạy nghề và chuyên nghiệp.
Tập trung xây dựng Trường CĐSP tỉnh thành trung tâm đào tạo đội ngũ
giáo viên mầm non và tiểu học đáp ứng yêu cầu bức xúc cho các trường phổ
thông trong tỉnh.
Sau những năm lập lại tỉnh, trong điều kiện còn nhiều khó khăn về KT XH nhưng thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sự chỉ đạo sâu sát của
Tỉnh ủy Quảng Trị và của Bộ GD - ĐT, giáo dục Quảng Trị đã đạt được nhiều
tiến bộ quan trọng. Đặc biệt, sau 4 năm thực hiện NQTƯ2 (khoá VIII) và
Chương trình hành động của Tỉnh uỷ, GD - ĐT Quảng Trị đã vượt qua khó
khăn, tạo thế và lực cho sự phát triển, góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đóng góp quan trọng cho sự phát triển KT XH của tỉnh.

21


Thứ nhất, Quy mô ngành học, bậc học phát triển. Cụ thể: trong năm ho ̣c
2000 - 2001.
- Ngành học Mầm non:
+ Nhà trẻ: có 2564 cháu, đa ̣t 9,3% so với độ tuổi.
+ Mẫu giáo: có 21225 cháu, đạt 54,1% so với độ tuổi.
- Ngành học phổ thông:
+ Tiểu học: 84157 học sinh, đạt 96% so với độ tuổi.

công); 1 trường CĐSP (nâng cấp năm 1997 từ trường THSP tỉnh); 1 trường
Trung học Nông nghiệp và phát triển nông thôn (thành lập năm 1976); 1
trường CN lái xe và nghiệp vụ giao thông (thành lập năm 1976); 1 trường
Trung học Y tế thành lập năm 2000.
Thứ ba, Công tác phổ cập GDTH - Chống mù chữ được thực hiện tốt.
Bằng nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, hợp lý, Tỉnh uỷ đã lãnh đạo, chỉ
đạo chính quyền các cấp, ngành GD - ĐT và các ngành có liên quan thực hiện
thắng lợi công tác phổ cập GDTH - Chống mù chữ. Tỉ lệ huy động trẻ mẫu
giáo đạt 80,85% so với độ tuổi, riêng trẻ 5 tuổi đạt 99,5%; tỉ lệ huy động học
sinh tiểu học, THCS tăng. Minh chứng cho sự quan tâm của xã hội đối với
việc học là công tác phổ cập chống mù chữ toàn tỉnh đã được hoàn thành vào
năm 1996 - là tỉnh thứ 3 của khu vực phía nam đạt được thành quả này. Năm
học 2000 - 2001, có 138/138 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập
GDTH - chống mù chữ. Quảng Trị là tỉnh thứ 18/61 tỉnh thành được công
nhận chuẩn quốc gia về phổ cập GDTH - chống mù chữ.
Công tác phổ cập THCS cũng được đẩy mạnh. Năm học 2000 - 2001,
toàn tỉnh có 83/138 xã, phường với 4 huyện, thị (Vĩnh Linh, Gio Linh, Hải
Lăng, thị xã Quảng Trị) đạt chuẩn phổ cập THCS.
Thứ tư, Chất lượng dạy và học ở các ngành học, bậc học có sự chuyển
biến cả diện đại trà và mũi nhọn . Tỷ lệ trung bình học sinh lên lớp và tốt
nghiệp các cấp đạt kết quả cao . Năm ho ̣c 2000 - 2001: Lên lớp (Tiểu học:
99,5%, THCS: 99,4%, THPT: 99,4%); Tốt nghiệp (Tiểu học: 99,9%, THCS:
97%, THPT: 93%, BTCS: 100%, BTTH: 97%).
Thứ năm, Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường cả về số lượng và
chất lượng. Năm học 1996 - 1997 có 5744 người (trong đó số có trình độ thạc
sĩ là: 35, đại học tiểu học: 16); Năm học 2000 - 2001 có 8524 giáo viên (trong

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status