đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế ở địa phương 1996 2006 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-------------------------------

PHẠM THỊ MIẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở ĐỊA PHƯƠNG (1996 - 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

---------------------------------

PHẠM THỊ MIẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở ĐỊA PHƯƠNG (1996 - 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

tế (2001 - 2006) ..................................................................................................... 55
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
QUẢNG NINH TRONG LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ (
1996 - 2006) ....................................................................................................................... 67

3.1. Kết quả ..................................................................................................................... 67
3.1.1. Những thành tựu.................................................................................................... 67
3.1.2. Hạn chế chính ........................................................................................................ 83
3.2. Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh. ......................... 85
KẾT LUẬN................................................................................................................................. 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 95
PHỤ LỤC ................................................................................................................................. 101


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, một
trong những nội dung cơ bản trong quá trình đề ra và thực hiện đường lối đổi
mới của Đảng. Từ năm 1986 đến nay thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta có
nhiều chủ trương chính sách cụ thể để lãnh đạo thực hiện chủ trương này.
Nhờ đó kinh tế nước ta bước ra khỏi tình trạng khủng hoảng, đạt tốc độ tăng
trưởng khá cao và phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch
tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh
trong nhiều năm qua để phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn thách thức,
từng bước thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhiều tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng
trên lĩnh vực này, góp phần làm thay đổi bộ mặt địa phương và cuộc sống của
nhân dân, góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia và chế độ
xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Thành tựu và hạn chế, thuận lợi và khó khăn, kinh nghiệm thành công
và chưa thành công… những vấn đề của tỉnh Quảng Ninh cũng là những vấn
đề của một số tỉnh khác cần được nghiên cứu, tổng kết, phát huy, góp phần
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhằm mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương (1996 - 2006)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở nước ta. GS. Đỗ Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1994; PGS. Đỗ Hoài Nam: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển
mũi nhọn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996; TS. Đặng Văn Thắng - TS.

2


Phạm Ngọc Dũng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng
bằng Sông Hồng, thực trạng và triển vọng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003; PGS. TS Phan Thanh Phố: Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới
kinh tế ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1996; PGS. TS Nguyễn Văn
Khanh: Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng Châu thổ
Sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Ban
tư tưởng - văn hoá trung ương và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn:
con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; David Dapice: Việt Nam cải cách kinh
tế theo hướng rồng bay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994… Cũng đã có
một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế, chuyên ngành lịch sử Đảng viết
về lĩnh vực này như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta theo

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ninh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giai đoạn 1996 - 2006.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng đúng đắn sáng
tạo đường lối của Trung ương trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tê ở địa
phương, từ năm 1996 đến 2006.
- Đánh giá bước đầu những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Quảng Ninh những năm 1996 - 2006.
- Nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm từ 1996 - 2006.
* Nhiệm vụ:
- Trình bày một cách hệ thống chủ trương Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
vận dụng đường lối của Trung ương lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế tỉnh từ năm 1996 đến 2006.
- Trình bày quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Quảng
Ninh; phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của kết quả đó.

4


- Tổng kết kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương
từ năm 1996 đến 2006 theo đường lối của Đảng.
- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một số nội dung chính: chuyển dịch
thành phần kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; chuyển dịch cơ cấu

trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương từ năm 1996 đến
2006.
Khẳng định những thành tựu và nêu ra một số hạn chế của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở tỉnh Quảng Ninh từ năm 1996 đến 2006.
Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh
đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời gian 1996 - 2006.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
3 chương, 7 tiết.
Chương 1: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương những năm cuối thế kỷ XX (1996 2000).
Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ Quảng Ninh về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế địa phương những năm đầu thế kỷ XXI (2001 - 2006)
Chương 3: Kết quả và những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương (1996-2006).

6


Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH QUẢNG NINH VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XX (1996 - 2000)
1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội và cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh
trƣớc năm 1996
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội
Quảng Ninh là miền đất cổ xưa của dân tộc Việt Nam, có từ buổi dựng
nước và là một trong những cái nôi của người Việt cổ. Thời các vua Hùng,
nơi đây là Bộ Hải Ninh, một trong 15 Bộ của nước Văn Lang. Trải qua các

ưu thế đặc biệt của Quảng Ninh.
Là một cực trong tam giác phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, Quảng Ninh có quan hệ mật thiết về các hoạt động kinh tế, khoa học và
văn hoá xã hội với Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh đồng bằng sông Hồng
với hệ thống quốc lộ 4B, quốc lộ 10; quốc lộ 18 đi qua địa bàn tỉnh.
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt
Nam. Đây là vùng nhiệt đới - gió mùa. Mùa Hạ nóng ẩm nhiều mưa, gió thịnh
hành là gió Đông Nam. Mùa Đông lạnh, khô hanh, có gió Đông Bắc.
Nằm trong vùng nhiệt đới, Quảng Ninh có lượng bức xạ trung bình
hàng năm 115,4 kcal/cm2. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm trên
22,90C. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm 82%. Từ đó lượng mưa hàng
năm lên tới 1700 - 2000mm, số ngày mưa hàng năm từ 90 -170 ngày. Mưa tập
trung nhiều vào mùa hạ (hơn 85%) nhất là các tháng 7 và 8. Mùa Đông chỉ
mưa khoảng 150 đến 400mm. So với các tỉnh Bắc Bộ, Quảng Ninh chịu ảnh
hưởng gió mùa Đông Bắc mạnh hơn. Đây là nơi “đầu sóng ngọn gió”, gió thổi
mạnh và so với các nơi có cùng vĩ độ thường lạnh hơn từ 1 đến 30C. Quảng
Ninh cũng chịu ảnh hưởng nhiều của bão tố. Bão thường đến sớm (các tháng
6, 7, 8).
Tuy nhiên do diện tích lớn, lại có nhiều vùng địa hình khác nhau, nên ở
địa đầu Móng Cái lạnh hơn lại mưa nhiều, nhiệt độ trung bình hàng năm là

8


220C, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.700mm. Vùng núi cao của Hoành
Bồ, Ba Chẽ khí hậu khá khắc nghiệt, mỗi năm có 20 ngày sương muối và
lượng mưa hàng năm thấp. Cũng là miền núi nhưng Bình Liêu lại có lượng
mưa lớn (240mm) và mùa Đông kéo dài tới 6 tháng. Vùng hải đảo lại không
phải là nơi mưa nhiều, chỉ từ 1700mm đến 1800mm/năm, nhưng lại là nơi có
rất nhiều sương mù về mùa Đông.

sắc.
Quảng Ninh là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng các loại
hình du lịch như du lịch tham quan, du lịch biển, du lịch văn hoá, du lịch sinh
thái, du lịch mạo hiểm, du lịch nghiên cứu… Việc hình thành và đưa vào sử
dụng các khu du lịch như: Tuần Châu, Yên Tử, Hoàng Gia, Bãi Cháy, Trà Cổ,
Móng Cái... đã tạo cho du lịch Quảng Ninh một diện mạo mới và ngày càng
hấp dẫn du khách.
Quảng Ninh có tới 2 thành phố trực thuộc, 2 thị xã và 10 huyện: Thành
phố Hạ Long; Thành phố Móng Cái; Thị xã Cẩm Phả; Thị xã Uông Bí; Huyện
Ba Chẽ; Huyện Bình Liêu; Huyên Cô Tô; Huyện Đầm Hà; Huyện Đông
Triều; Huyện Hải Hà; Huyện Hoành Bồ; Huyện Tiên Yên; Huyện Vân Đồn;
Huyện Yên Hưng.
Dân số Quảng Ninh tính đến 31/12/2005 có 1.081.363 người; mật độ
dân số trung bình là 183 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình 5
năm (2001 - 2005) là 11,2%/năm. Trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung
bình ở thành phố là 10,64%/ năm; ở nông thôn là 12,2%/năm. Khoảng 95%
dân số biết đọc, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35,3%. Quảng Ninh có 6 dân
tộc: Kinh chiếm 89,23%; Sán Dìu chiếm 1,80%; Sán Chay chiếm 1,11%; Hoa
chiếm 0,43% [5].
Sau khi thống nhất đất nước, Quảng Ninh cùng với cả nước bước vào
giai đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh với
muôn vàn khó khăn: do bị cấm vận kinh tế, do cơ chế quan liêu bao cấp, lại
thêm những thách thức từ sự kiện Liên bang Xô Viết và hệ thống Xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu tan vỡ, từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam
Á,… Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ năm 1986, bằng đường lối
đổi mới, quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế mở rộng, tinh thần lao động sáng tạo

10



11


vốn đầu tư… bước đầu mang lại kết quả. An ninh chính trị ổn định, lòng tin
của nhân dân với Đảng dần được khôi phục.
Tổng sản lượng lương thực quy thóc tăng bình quân 2,25%. Phần lớn
các huyện nông nghiệp đã tự cân đối được lương thực trong khu vực nông
thôn, góp phần điều hoà lương thực, thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên
kết quả đạt được không đồng đều, dịch vụ nông nghiệp chậm đổi mới, ngành
nghề trong nông thôn kém phát triển. Chuyển biến về thâm canh, đổi mới về
cơ cấu giống và mùa vụ, đầu tư khoa học kỹ thuật cho nông nghiệp còn chậm,
còn ít. Nhiều vấn đề cho quản lý xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết tốt.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng còn yếu kém, tài nguyên rừng bị suy giảm
nghiêm trọng, công tác giao đất, giao rừng đến từng hộ nông dân làm chậm
nên vốn rừng ngày càng nghèo kiệt, chưa gắn kinh tế rừng với xây dựng kinh
tế - xã hội miền núi. Sản lượng khai thác thuỷ sản tăng 31% so với những
năm trước, nghề nuôi trồng thuỷ sản có tiến bộ. Tuy nhiên, chủ quyền, an
ninh biển của tỉnh thường xuyên bị vi phạm, nguồn lợi bị thất thoát. So sánh
về sản lượng lương thực và bình quân lương thực đầu người qua bảng số liệu
sau:
Bảng 1.1.1. Sản lƣợng lƣơng thực và bình quân lƣơng thực đầu ngƣời
Năm

Tổng số sản lượng lương thực

Bình quân lương thực đầu người

(tấn)

(kg)

trong tình trạng khó khăn, quy mô thì lớn mà hiệu quả thì thấp, thị trường thu
hẹp. Mạng điện dân dụng còn chậm được cải tạo và phát triển, quản lý điện
còn nhiều sơ hở, dễ tổn thất, lãng phí lớn… các cơ sở công nghiệp địa phương
còn nhiều mặt yếu kém, không đủ khả năng cạnh tranh. Nhiều cơ sở làm ăn
thua lỗ, thâm hụt vốn.
Bảng 1.1.2. Bảng giá trị sản lƣợng công nghiệp toàn tỉnh
(Theo giá cố định 1982)
Đơn vị tính: nghìn đồng
Năm

1986

Tổng

2720101 3052 848

3359 662 2535315 1984496

Than

1289042 1399433

1599818

8722675 880174

Điện

352864


Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh (1990), Thống kê số liệu các
năm 1986 - 1990, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.50.
Lĩnh vực kinh tế đối ngoại tiếp tục được duy trì và có mặt phát triển.
Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 52,5 triệu đôla. Trong hai năm 1989, 1990,
việc trao đổi buôn bán với thị trường Trung Quốc phát triển nhanh. Vùng biên
giới có điều kiện phát triển tốt hơn, thu hút được tư liệu sản xuất, hàng hoá
góp phần đáng kể tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương, tạo ra khả năng

13


mới cho giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.
Song về kinh tế đối ngoại, nhìn chung chất lượng mẫu mã hàng xuất khẩu của
tỉnh kém. Danh mục hàng xuất khẩu thu hẹp dần [31, tr.17].
Hoạt động du lịch là thế mạnh; song hoạt động này cũng còn nhiều hạn
chế, doanh số thấp, nội dung nghèo nàn. Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật
đã bước đầu hướng vào nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đời
sống. Song, nhìn chung phát triển còn chậm, chưa có định hướng cụ thể để
phát huy tiềm năng thế mạnh kinh tế địa phương; chưa tạo được sự chuyển
biến về năng suất, chất lượng, hiệu quả, chưa đáp ứng được những yêu cầu
bức xúc của công cuôc đổi mới. đầu tư cho khoa học, công nghệ còn bị hạn
chế, thiếu vốn và trang thiết bị kỹ thuật phương tiện, hoạt động còn phân tán,
thiếu cán bộ khoa học kỹ thuật đầu đàn…
So với trước, đời sống của một bộ phận nhân dân có một số mặt được
cải thiện như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt gia đình… nhưng
nhìn chung còn khó khăn. một bộ phận nhân dân còn sống dưới mức tối thiểu
(nhất là những gia đình neo đơn, đối tượng chính sách xã hội, đồng bào các
dân tộc vùng cao, hải đảo, một số vùng nông thôn gặp thiên tai, công nhân lao động ở những cơ sở sản xuất thua lỗ). Số người thiếu việc làm (chưa kể
nông nghiệp) của tỉnh tăng nhanh hàng năm có từ 14.000 đến 15.000 người.
Tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư diễn ra nhanh

cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. một số sản phẩm công nghiệp địa
phương như: sản xuất gạch ngói, vật liệu xây dựng tăng hàng năm 24,5%; sản
phẩm bia, nước khoáng, hải sản, tùng hương, đá Tấn Mài đã nâng cao được
chất lượng và số lượng mặt hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường trong
nước và xuất khẩu. Các cơ sở sản xuất cơ khí và đóng tàu… từng bước được
đổi mới kỹ thuật, công nghệ, chuyển hướng, vừa sửa chữa, vừa chế tạo, sản
xuất được một số sản phẩm mới thay thế nhập khẩu, phục vụ thiết thực cho
ngành than, điện, xi măng và các ngành kinh tế trong nước. tỉnh đang triển
khai xây dựng một số cơ sở sản xuất mới như Nhà máy sản xuất xi măng 8,8
vạn tấn/năm (ở Uông bí), Nhà máy xay xát lúa mỳ, sản xuất giấy, sản xuất

15


giầy xuất khẩu (Thành phố Hạ Long)… các cơ sở sản xuất dịch vụ tiểu thủ
công nghiệp ngoài quốc doanh có chuyển biến về phát triển ngành nghề, đáp
ứng được một phần nhu cầu thị trường tại chỗ về vật liệu xây dựng, hàng mộc
dân dụng, nước giải khát và một số mặt hàng tiêu dùng…[11, tr.40].
Điều đáng chú ý, từ một tỉnh sản xuất than là chủ yếu, Quảng Ninh nay
đã trở thành một tỉnh công nghiệp sản xuất đa ngành, đa dạng sản phẩm nhằm
khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh. Nhiều ngành công nghiệp mới phát
triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trình độ công nghệ, thiết
bị tiên tiến, hiện đại, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu và đang thu
hút khoảng hơn 100.000 lao động kỹ thuật. Sản phẩm công nghiệp hiện chiếm
48% trong tổng thu nhập GDP. Quảng Ninh hiện nay đang định hình nhiều
khu công nghiệp, như khu công nghiệp Cái Lân, khu công nghiệp Việt Hưng
(Hạ Long), khu công nghiệp Ninh Dương (Móng Cái), Hoành Bồ, Chạp Khê,
Dốc Đỏ (Uông Bí)… nhiều dự án sản xuất điện, thép, xi măng đang được xây
dựng.
Bảng 1.1.3. Bảng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ - nông, lâm, ngƣ nghiệp

Nguồn: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ
tỉnh lần thứ X, Hạ Long, tr.15-16.
Ngành nông nghiệp và khu vực Nông thôn có sự thay đổi nhanh từ một
nền kinh tế trồng trọt là chủ yếu với cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác
truyền thống, lạc hậu đã chuyển sang cơ cấu cây trồng và phương thức canh
tác truyền thống, lạc hậu đã chuyển sang cơ cấu cân đối, hợp lý giữa chăn
nuôi và trồng trọt. Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã có sự chuyển biến về

16


quy mô, công nghệ, cách thức sản xuất, ngành kinh tế nuôi trồng chế biến hải
sản tăng nhanh đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm kinh tế địa phương giảm từ
21,9% xuống còn 16,1%, đang từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất
hàng hoá, tăng giá trị trên đơn vị diện tích và kết hợp giữa nông với lâm, ngư
nghiệp. Đã hình thành một số vùng kinh tế tập trung như: vùng chè, cây ăn
quả ở huyện Đông Triều, Quảng Hà, Tiên Yên, Bình Liêu; vùng gỗ trụ mỏ,
nguyên liệu giấy sợi ở các huyện miền Tây, vùng lâm - đặc sản quế, hồi ở các
huyện miền Đông.
Ngành hải sản chuyển mạnh sang khai thác sản phẩm có giá trị xuất
khẩu sang một số nước Đông Nam Á. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản hàng
năm tăng 16% và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng giá trị kim ngạch
xuất khẩu của tỉnh [28, tr.16].
Sản xuất Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Ngư nghiệp, 5 năm qua đã đầu tư
cơ sở vật chất kỹ thuật, tiếp tục xây dựng hệ thống thuỷ lợi, đưa diện tích đất
canh tác được tưới chủ động lên 60%. Tỉnh hỗ trợ ngân sách mua vật tư, phân
bón, giống mới, chú trọng công tác khuyến nông, mở rộng diện cho nông dân
vay vốn sản xuất cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp, xác lập quyền tự chủ kinh tế hộ gia đình, năng lực sản xuất mới được

Thương mại, du lịch, kinh tế đối ngoại, thực hiện chính sách kinh tế mở
hướng mạnh vào xuất khẩu, tỉnh đã kịp thời khai thác các lợi thế, đẩy mạnh
mậu dịch biên giới, phát triển nhanh kinh tế cửa khẩu, mở rộng dịch vụ vận
chuyển hàng hoá quá cảnh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kim
ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 26,6%, năm 1995 tăng hơn 3 lần
năm 1990. Thị trường nội địa phát triển phong phú, đa dạng, nhất là ở thành
phố Hạ Long và Móng Cái, tạo thành cầu nối lưu thông hàng hoá giữa nước ta
với Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khối lượng hàng hoá lưu chuyển
tăng nhanh; tổng mức bán lẻ trên thị trường xã hội tăng 4 lần so với năm
1990. Du lịch phát triển nhanh và đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
của tỉnh. Hàng năm doanh thu du lịch tăng bình quân 51%, số lượt khách tăng

18


52%, cơ sở vật chất của hệ thống kinh doanh du lịch từng bước phát triển với
nhiều thành phần kinh tế tham gia… công tác đầu tư nước ngoài được các
cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm. Đến hết năm 1995 có 19 dự án với tổng
số vốn trên 140 triệu USD được cấp giấy phép. Các dự án chủ yếu trong các
lĩnh vực du lịch, khai thác than, chế biến nông, lâm sản. Viện trợ nước ngoài
thu hút vào tỉnh với tổng số vốn khoảng 20 triệu USD, chủ yếu là phát triển
các dự án phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, y tế, giáo dục ở một số vùng của
tỉnh [28, tr.18].
Các thành phần kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch.
Khu vực kinh tế quốc doanh đóng vai trò nòng cốt trong nền kinh tế
của tỉnh, chiếm 75% tổng số sản phẩm xã hội địa phương và là lượng chủ yếu
đóng góp vào ngân sách nhà nước. Kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp từng
bước chuyển nội dung và phương thức quản lý. Hợp tác xã tín dụng, tiểu thủ
công nghiệp từng bước được khôi phục củng cố. Kinh tế tư nhân tăng nhanh
cả về số lượng, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh [28, tr.17].

Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, được hình thành trên cơ sở trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng
trưởng các yếu tố cấu thành nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế là một hệ thống các
yếu tố trong cơ cấu kinh tế vận động trong mối quan hệ hữu cơ tác động ràng
buộc lẫn nhau; giai đoạn phát triển sau cao hơn giai đoạn trước.
Nội dung cơ cấu kinh tế quốc dân có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ,
nhiều lĩnh vực, nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: Cơ cấu ngành kinh tế; cơ
cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế theo đơn vị hành chính lãnh thổ.
Cơ cấu ngành kinh tế:
Cơ cấu ngành kinh tế là bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc
dân, là nòng cốt của chiến lực phát triển kinh tế. Nền kinh tế là tổng thể của
ngành, lĩnh vực và các thành phần. Trong ngành và lĩnh vực, quan trọng nhất
là ngành nông nghiệp và công nghiệp. Hai ngành này muốn phát triển được
phải thông qua hệ thống dịch vụ. Do vậy cơ cấu kinh tế bao gồm ba ngành cơ
bản:

20


Nông nghiệp bao gồm: nông nghiệp - lâm nghiệp - ngư nghiệp gắn liền
với phát triển toàn diện nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Nông nghiệp là
lĩnh vực sản xuất chủ yếu, tạo ra sản phẩm thiết yếu cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người, là thị trường rộng lớn cung cấp nhân lực, nguyên
liệu và tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp, dịch vụ.
Công nghiệp bao gồm công nghiệp chế tạo, công nghiệp khai khoáng
và luyện kim, công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và xuất khẩu; công nghiệp nguyên liệu, công nghiệp điện tử tin học…
Công nghiệp đóng vai trò quyết định sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu
tiêu dùng. Do vậy công nghiệp được xếp vào vị trí hàng đầu của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

phương nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, miền để phát
triển kinh tế - xã hội.
Có nhiều tiêu chí để đánh giá thế nào là một cơ cấu kinh tế hợp lý,
trong đó có một số tiêu chí cơ bản sau: Thứ nhất, cơ cấu kinh tế phải phù hợp
với các quy luật khách quan; Thứ hai, cơ cấu kinh tế phản ánh được khả năng
khai thác, sử dụng hợp lý và phát huy được nguồn lực và tiềm năng của đất
nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ hiện đại; Thứ ba, cơ cấu kinh tế phải tạo được sự phát triển cân
đối, phát huy được lợi thế của các vùng, các ngành kinh tế; Thứ tư, cơ cấu
kinh tế tạo được sự gắn kết giữa các loại thị trường trong nước và ngoài nước,
mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế và phù hợp với xu thế kinh tế
chính trị của khu vực và thế giới; Thứ năm, cơ cấu kinh tế phải tạo được tích
luỹ ngày càng tăng cho nền kinh tế quốc dân, cùng với xã hội phát triển lành
mạnh, giữ vững quốc phòng, an ninh.
Lực lượng sản xuất nói chung luôn biến động phát triển trong quá trình
tái sản xuất, vì thế cơ cấu kinh tế cũng thường xuyên biến đổi chuyển dịch.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: “chuyển dịch
cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang
nặng tính chất tư cấp tự túc, từng bước chuyên môn hoá hợp lý, trang bị kỹ

22


Trích đoạn Những thành tựu Hạn chế chính Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status