ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
HOÀNG THỊ NGUYỆT
ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
HOÀNG THỊ NGUYỆT
ĐẢNG BỘ TỈNH HƢNG YÊN LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN QUANG LIỆU
Mặc dù có nhiều cố gắng, nỗ lực thu được kết quả nghiên cứu bước đầu
song chắc chắn luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Tác giả rất mong nhận
được sự góp ý, chỉ đạo của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo, các bạn
đồng nghiệp và những ai quan tâm đến đề tài này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2019
Học viên
HOÀNG THỊ NGUYỆT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 5
2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................ 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 9
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu............................................... 9
6. Đóng góp của luận văn............................................................................ 10
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................... 10
CHƢƠNG 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH HƢNG YÊN VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN
NĂM 2005 ...................................................................................................... 11
1.1. Các yếu tố tác động và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên về
giáo dục phổ thông ..................................................................................... 11
1.1.1. Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng .................... 11
1.1.2. Một số đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống hiếu
học của người Hưng Yên. ......................................................................... 16
1.1.3. Tình hình giáo dục phổ thông của tỉnh Hưng Yên trước năm 1996....... 22
1.2. Đảng bộ tỉnh Hƣng Yên lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông
3.1. Nhận xét ............................................................................................... 56
3.1.1. Ưu điểm ........................................................................................... 56
3.1.2. Hạn chế .......................................................................................... 62
3.2. Một số kinh nghiệm............................................................................. 66
3.2.1. Kinh nghiệm trong xác định chủ trương........................................ 66
3.2.2. Kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện ............................................. 69
Tiểu kết chƣơng 3..........................................................................................68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 75
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 81
2
BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Ký hiệu viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BCH
Ban chấp hành
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDPT
Giáo dục phổ thông
Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục phổ thông được
nhìn nhận như một bậc giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, vừa là “bản lề”
vừa là “xương sống” của toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Từ nhận biết đơn sơ tiến lên nắm bắt được những kiến thức cơ bản về văn hoá
chữ, văn hoá làm người và định hướng cuộc sống của mình. Vì yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới, nhu cầu cuộc sống của nhân dân và những đòi hỏi của cuộc
đấu tranh chống nguy cơ tụt hậu của đất nước, nội dung của giáo dục và đào
tạo phải không ngừng đổi mới.
Giáo dục và đào tạo là một quá trình liên thông, là sự tiếp nối liên tục
của các bậc học. Trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta hiện nay, giáo
dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục
trung học phổ thông. Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục (1979)
đã chỉ rõ: Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh
tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát
triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với ý nghĩa đó, trong
đường lối đổi mới giáo dục, Đảng luôn coi trọng vị trí của giáo dục phổ thông.
Bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đặc biệt, từ sau khi
tái lập tỉnh Hưng Yên (1997) đến nay, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã lãnh đạo
nhân dân từng bước khắc phục những khó khăn, tranh thủ những thuận lợi để
thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đã đạt được những thành
5
tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo
dục phổ thông của tỉnh cũng có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào
phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh cũng như cả nước.
Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục phổ thông, Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo để giáo dục phổ thông từng
bước đổi mới và phát triển. Đảng bộ đã phát huy truyền thống quê hương, xác
định rõ vai trò của giáo dục, đã quan tâm đầu tư chỉ đạo phát triển giáo dục
trò quan trọng của công tác giáo dục, cần có một nền giáo dục mới dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa.
Phạm Văn Đồng với cuốn Về vấn đề giáo dục và đào tạo (1999), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Vai trò của Giáo dục và Đào tạo tiếp tục được
khẳng định, cần có nhận thức đúng đắn của toàn Đảng toàn dân. Phạm Minh
Hạc (chủ biên), (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nhóm 2, là những tác phẩm chuyên khảo riêng về giáo dục phổ thông
như cuốn Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lựcNhững bài học thực tiễn từ Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội của Đặng
Thị Thanh Huyền. Tác giả Võ Thuận Nho với cuốn 35 năm phát triển sự
nghiệp giáo dục phổ thông. Đó là những nhận định chung nhất về nền giáo
dục Việt Nam. Trong đó, giáo dục phổ thông cần nhiều sự quan tâm để đáp
ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Nhóm 3, một số công trình khoá luận cử nhân, luận văn thạc sỹ chuyên
ngành khoa học lịch sử đã nghiên cứu, bảo vệ về quá trình thực hiện đường
lối phát triển giáo dục của Đảng như: Phạm Thị Hồng Thiết, Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục-đào tạo năm 1997 đến năm 2006,
Luận văn thạc sỹ lịch sử, 2009. Nguyễn Thị Huyền, Đảng bộ huyện Lập
7
Thạch (Vĩnh Phúc) lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông từ năm
1997 đến năm 2012, Luận văn thạc sỹ.
Ngoài ra còn nhiều bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến
vấn đề giáo dục phổ thông trong thời kỳ đổi mới. GS.VS. Nguyễn Cảnh Toàn
có bài viết: Phát huy việc tự học trong trường phổ thông trung học đăng trên
báo Giáo dục và Thời đại ngày 10/2/2003.
Nhìn chung, những công trình đã nghiên cứu khá phong phú, đa dạng
về nội dung và phạm vi nghiên cứu, đều nhằm tìm phương hướng cho sự phát
triển giáo dục phổ thông của từng địa phương cũng như cả nước. Những công
tổ chức thực hiện từ năm 1996 đến năm 2016 của Đảng bộ tỉnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên về vấn đề phát triển giáo dục phổ thông bao gồm: Giáo dục TH, giáo dục
THCS và giáo dục THPT.
-Về thời gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu trong 20 năm từ năm
1996 đến năm 2016.
-Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh về giáo dục –
đào tạo.
- Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến
năm 2016 về giáo dục phổ thông.
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên; Báo cáo tổng kết năm học
của Sở Giáo dục và Đào tạo, của UBND tỉnh Hưng Yên.
- Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo, đánh giá có liên quan.
9
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và lô gic.
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: so sánh, thống kê, phân
tích, tổng hợp, khảo sát thực tiễn…
6. Đóng góp của luận văn
- Khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển giáo dục phổ thông
của Đảng và sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vào tình hình
cách giáo dục. Trong những năm đầu đã triển khai ở cấp GDPT với cơ cấu hệ
thống GDPT mới, tiến hành thay sách giáo khoa bắt đầu từ năm học 19811982 ở lớp 1.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI cuộc cải cách giáo dục đã được
điều chỉnh theo đường lối mới chung. Chủ trương của Đảng về GDPT là “xoá
bỏ nạn mù chữ còn lại ở một số địa phương, hình thành cơ bản phổ cập cấp I
cho trẻ em, phổ cập cấp II ở những nơi có điều kiện, từng bước mở rộng
GDPT trung học bằng nhiều hình thức. Các trường phổ thông phải dạy kiến
thức phổ thông cơ bản, lao động, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy
nghề phổ thông” [11, tr 8]. Và khẳng định kế hoạch phát triển giáo dục phải
gắn bó với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở từng địa phương và trong cả
nước. Đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 khoá VI tiếp tục khẳng định và
cụ thể hoá chủ trương từ kỳ Đại hội: “cho phép mở một số trường dân lập cấp II
11
và cấp III chứ không phải tư thục trong trường hợp ngân sách nhà nước không
đủ khả năng đầu tư; nhà nước quản lý chặt chẽ về nội dung, chương trình giảng
dạy và thi cử” [11, tr 12-13].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, giáo dục cùng với khoa học
công nghệ đã được khẳng định là quốc sách hàng đầu; trong phương hướng
nhiệm vụ 5 năm từ năm 1991 đến năm 1995 Đảng đã nêu chủ trương “tập
trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát
triển cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng cố
và phát triển trường phổ thông cho trẻ em có tật” [11, tr 17]. Đến tháng 11993, Hội nghị lần thứ 4 BCH trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục đổi mới
sự nghiệp giáo dục và đào tạo và ra Nghị quyết phát triển giáo dục- đây là lần
đầu tiên BCH Trung ương Đảng có nghị quyết chuyên đề về giáo dục, với 4
quan điểm chỉ đạo và 12 chủ trương biện pháp lớn là lấy học sinh làm trung
tâm để xác định địa điểm trường lớp; hình thành các trung tâm chất lượng
cao, ở bậc phổ thông là các trường chuyên lớp chọn, trường năng khiếu; liên
kết giữa GDPT và giáo dục chuyên nghiệp, phân ban ở trung học; có chính
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) diễn ra trong
một thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại- bước sang thế kỷ XXI, trải qua 15
năm thực hiện công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế xã hội của nước ta thu
được những thành tựu quan trọng nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách
thức. Thực hiện mục tiêu đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo
nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
Một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu đó là coi giáo dục là quốc
sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Về cơ bản, quan điểm của Đảng đối với sự phát triển giáo dục tại Đại
hội lần thứ IX là tiếp tục phát triển từ Đại hội VIII, nâng cao chất lượng giáo
13
dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, có bổ sung thêm
cho phù hợp với tình hình mới là thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ
hoá. Thực hiện theo phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với
lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Coi trọng công tác phân luồng
học sinh trung học” [11, tr 94-95] nhằm chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào
lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả
nước và từng địa phương. Đề ra giải pháp khẩn trương biên soạn và đưa vào
sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông
phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước
hiện đại hoá nhà trường, phấn đấu đến năm 2010 phần lớn các trường phổ
thông có đủ điều kiện cho học sinh học tập và hoạt động cả ngày tại trường.
Để đánh giá và kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2
khoá VIII và cụ thể hơn nữa những nội dung về phát triển giáo dục đã được
trình bày trong văn kiện Đại hội IX, ngày 26-7-2002, Hội nghị lần thứ 6 BCH
Trung ương đã họp và thông qua Kết luận số 14-KL/TW về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển GD&ĐT, khoa
học tập suốt đời. Thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau 2020. Phấn đấu
đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung
học phổ thông. Đề ra giải pháp xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ
thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, giảm số môn học
bắt buộc, tăng môn học chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn. Biên soạn sách
giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượng học.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), đề ra mục tiêu công khai
chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, tiếp tục đổi mới nội dung theo
hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành
nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chia tổng thời gian
15
học thành 2 phần, 1 nửa dành cho học các môn chung, còn lại dành cho việc
học các môn riêng theo năng khiếu.
Như vậy, qua văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng và Nghị quyết riêng về
giáo dục. Trước những yêu cầu của xã hội, nhận thấy tầm quan trọng của việc
tiến hành cải cách giáo dục, Đảng đã đặt giáo dục lên “quốc sách hàng đầu”
với những ưu tiên phát triển, gắn việc phát triển giáo dục với sự phát triển kinh tế
xã hội, đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những quan điểm, chủ trương của Đảng đề ra đã được quán triệt, thực hiện tới
từng cấp, ngành trên cả nước đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục.
1.1.2. Một số đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống
hiếu học của người Hưng Yên.
Vị trí địa lý: Hưng Yên nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc châu thổ đồng
bằng Bắc Bộ, đông giáp Hải Dương, nam giáp Thái Bình, tây nam giáp Hà
Nam, tây giáp Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), tây bắc và bắc liền kề với thủ đô
Hà Nội và Bắc Ninh. Đây là vùng đất phù sa màu mỡ và có truyền thống văn
hiến của nước ta.
Khí hậu
Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió màu, khí hậu chia làm
hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23oC, lượng
mưa trung bình từ 1800 đến 2200mm/năm. Độ ẩm bình quân các tháng trong
năm là 85,5%
Như vậy, khí hậu của Hưng Yên rất thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp. Thích hợp để trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp…Tuy
nhiên mùa mưa thường tập trung vào thời gian ngắn nên dễ ngập úng và kèm
theo bão, mùa lạnh cũng có đợt rét hại. Điều đó ảnh hưởng đến sản xuất và
sinh hoạt.
Sông ngòi
17
Tỉnh Hưng Yên có nhiều sông ngòi. Ba phía đều liền sông. Phía Tây có
sông Hồng chảy qua tỉnh dài xấp xỉ 60km. Phía Nam có sông Luộc. Phía
Đông là sông Cửu An.
Hệ thống các sông nội đồng như Kim Sơn, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt trong
hệ thống Bắc – Hưng – Hải (được khởi công năm 1956) đã hòa cùng hệ thống
sông ngòi trước đó tạo thành một hệ thống thủy nông, giao thông phong phú.
Các sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Địa danh và cương vực
Địa danh Hưng Yên có tên trong danh bạ đất nước từ năm 1831. Trước
khi Pháp xâm lược Việt Nam, Hưng Yên là một tỉnh nằm cả hai phía sông
Luộc. Sau thành lập tỉnh, địa giới của tỉnh đã nhiều thay đổi.
Thực dân Pháp trở lại xâm lược đánh chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Để thuận tiện cho chỉ đạo kháng chiến, tháng 10 năm 1947, Trung ương giao
huyện Văn Lâm về tỉnh Bắc Ninh, chuyển huyện Văn Giang của Bắc Ninh về
Hưng Yên. Sau đó, việc chỉ đạo đánh phá đường xe lửa khó khăn nên huyện
Văn Lâm được Bắc Ninh trao trả lại.
bán và đô hội từ sớm. Các nước Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp…dựng nhiều
thương điếm làm cho phố xá tấp nập, đúng như câu ca “thứ nhất kinh kỳ,
thứ nhì Phố Hiến”.
mạng lưới đường bộ, đường thủy thuận tiện. Đường 39A từ Phố Nối qua Mỹ
Hào, Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động tới thành phố Hưng Yên, rẽ trái
qua cầu Triều Dương sang Thái Bình, rẽ phải qua cầu Yên Lệnh sang Duy
Tiên – Hà Nam, tới Đồng Văn gặp quốc lộ 1A. Cùng hàng trăm km đê đại
hà đã liên kết các xã, huyện với nhau và nối thông với mạng lưới giao thông
quốc gia.
19
Với 80km đường thủy trên sông Hồng, sông Luộc và hàng trăm km
đường sông khác được phân bố khá đều trong tỉnh nên việc vận chuyển đi
lại ở địa phương được tiện lợi, nhanh chóng và giá thành thấp.
Như vậy, Hưng Yên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có cơ
hội đón nhận và tận dụng cơ hội phát triển của vùng. Nhất là trong tương lai
gần, khi kết cấu hạ tầng như đường bộ, đường cao tốc, đường sắt, sân bay,
cảng sông được đầu tư xây dựng. Đặc biệt, dự án chuyển một số trường đại
học về thành phố Hưng Yên thành lập khu đại học Phố Hiến đã tạo điều
kiện cho học sinh tỉnh Hưng Yên tiếp cận tri thức và hạn chế những khoản
chi phí cho quá trình học tập, không phải tới thủ đô Hà Nội.
Tỉnh còn có lợi thế phát triển nông nghiệp, có vị trí gần các trung tâm
công nghiệp, có cơ hội chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế, đặc biệt cơ cấu
ngành nông nghiệp theo hướng phát triển mạnh nông nghiệp hàng hóa phục
vụ cho nhu cầu thực phẩm tươi sống và chế biến của các thành phố và khu
công nghiệp. Tạo ra nhiều việc làm cho con em trong tỉnh.
Tuy nhiên, thời tiết diễn biến phức tạp, thị trường tiêu thụ sản phẩm khó
khăn, kinh nghiệm hội nhập ít…hạn chế hình thành, mở rộng thị trường tiêu
phong là Hồng Hà nữ sĩ, quê Giai Phạm (Yên Mỹ), dịch giả Chinh phụ ngâm.
Các nhà đại khoa như Cái Phùng người làng Thổ Hoàng (Ân Thi),
Nguyễn Thì Ung làng Đa Ngưu (Văn Giang), Dương Phúc Tư người làng Lạc
Đạo (Văn Lâm), Phạm Công Trứ người làng Liêu Xuyên (Mỹ Hào)…Họ đã
có nhiều đóng góp lớn lao cho quê hương, đất nước.
Bước sang thế kỷ XX, đội ngũ nhân tài của Hưng Yên ngày một đông
đảo và có nhiều đóng góp cho đất nước, nhất là lĩnh vực văn hoá và khoa học.
Làng Phú Thị, Mễ Sở (Văn Giang) với tên tuổi của nhà sư phạm, soạn giả
Dương Quảng Hàm. Làng Xuân Cầu xã Nghĩa Trụ (Văn Giang) có nhà văn
21