đảng bộ tỉnh hòa bình lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 1991 đến 2001 - Pdf 10

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò quan trọng của GD - ĐT trong sự
nghiệp cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu mà
dốt thì dại, dại thì hèn. Vì vậy ngay từ buổi đầu mới giành đợc chính quyền,
Ngời kêu gọi: Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc
này là nâng cao dân trí[51, tr.36].
Thấm nhuần t tởng của Ngời, trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt
Nam, GDPT đợc Đảng ta nhìn nhận là một bậc giáo dục có tầm quan trọng
đặc biệt, vừa là bản lề, vừa là xơng sống của toàn bộ quá trình hình thành
và phát triển nhân cách của lứa tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, giúp
các em từ bớc đi chập chững, từ nhận biết đơn sơ lên lắm bắt đợc nhiều kiến
thức cơ bản về văn hóa chữ, văn hóa làm ngời và định hớng đợc cuộc sống của
mình là phục vụ sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Vì vậy từ ngày nớc nhà đợc
độc lập, đặc biệt là trong hơn nửa thập kỷ qua, sự nghiệp phát triển GDPT đã
đạt đợc những thành tựu to lớn: Quy mô không ngừng đợc mở rộng; chất lợng
ngày một đợc nâng cao và từng bớc đáp ứng tốt hơn yêu cầu cung cấp nguồn
nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc. Với vị trí và vai trò to
lớn đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ơng Đảng về cải cách giáo dục lần
thứ 3 (năm 1979) đã chỉ rõ: Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một
nớc, là sức mạnh tơng lai của một dân tộc. Nó đặt cơ sở vững chắc cho sự phát
triển toàn diện con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa[64, tr.23].
Là một tỉnh miền núi, nằm ở vùng cửa ngõ Tây Bắc của Tổ quốc, tỉnh
Hòa Bình là nơi tụ hội nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm Văn
hóa - Giáo dục của vùng Tây Bắc. Với đặc điểm địa lý giáp với đồng bằng
sông Hồng và thủ đô Hà Nội, Hòa Bình đợc biết đến không chỉ nổi tiếng với
1
công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam á, mà còn nổi tiếng với một nền văn
hóa đặc sắc, cái nôi văn hóa Hòa Bình.

lực, bồi dỡng nhân tài cho xã hội. Đây là những vấn đề đặt ra cần phải giải
quyết.
Từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện các mục tiêu, chiến lợc phát
triển KT - XH của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn (2001 - 2005), trong đó
GDPT đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực, càng trở
nên có ý nghĩa quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết. Không ngừng đẩy
mạnh và nâng cao hơn nữa chất lợng GDPT trong thời gian tới cũng nh góp
tiếng nói chung vào mục tiêu chiến lợc phát triển KT - XH của Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình là đòi hỏi của thực tiễn. Vì vậy, tôi chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Hòa
Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 1991 đến 2001 làm đề
tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ vị trí, vai trò của GD - ĐT nói chung, GDPT nói riêng đối
với sự phát triển KT - XH của đất nớc, trong những năm qua, các tổ chức, học
giả trong và ngoài nớc rất quan tâm, đã công bố một số công trình nghiên cứu,
bài viết bàn về thực trạng, phơng hớng phát triển sự nghiệp GDPT.
- Tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO),
chơng trình phát triển của Liên Hợp Quốc (undp) với dự án: Nghiên cứu
tổng thể giáo dục - đào tạo, phân tích nguồn nhân lực VIE89/022 và dự án:
Báo cáo đánh giá tình hình giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay, đợc
tiến hành trong 2 năm (1991-1992).
- Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nớc, giới nghiên cứu, các chuyên
gia đầu ngành về GD - ĐT đã đã tìm hiểu, nghiên cứu trên nhiều góc độ khác
nhau nh: Tác phẩm Vấn đề giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Giáo
dục, Hà Nội (1990); Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa của
3
Phạm Văn Đồng, Nxb Sự thật, Hà Nội (1978); Phát triển mạnh mẽ giáo dục
và đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc
của tổng bí th Đỗ Mời, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1991) Các tác giả là
những ngời giữ cơng vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nớc; hệ thống

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình về GDPT từ năm 1991 đến 2001 (chủ trơng, đờng lối, biện
pháp thực hiện đổi mới GDPT).
- Đánh giá khách quan, khoa học về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
quá trình lãnh đạo đổi mới GDPT của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
- Rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
đối với sự nghiệp đổi mới GDPT trong giai đoạn (1991- 2001) góp phần phục
vụ cho việc đổi mới GDPT trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tợng nghiên cứu:
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về sự nghiệp đổi mới GDPT.
- Thực tiễn đổi mới GDPT của tỉnh thể hiện ở ba bậc: tiểu học, THCS, THPT.
- Những kinh nghiệm đợc rút ra từ thực tiễn trên.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về đổi mới
GDPT và kết quả thực hiện trong giai đoạn (1991- 2001).
* Về thời gian:
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về đổi mới
GDPT trong 10 năm đổi mới (từ năm 1991 đến năm 2001); từ thời điểm tại kỳ
họp thứ IX, Quốc hội khóa VIII quyết định tái lập tỉnh Hòa Bình (8 - 1991) đến
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XIII tháng (1 - 2001).
5. Cơ sở lý luận, phơng pháp nghiên cứu và nguồn t liệu
5
* Cơ sở lý luận:
Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh, đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc về đổi mới GDPT. Đây
là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Hòa Bình
đối với GDPT (1991 - 2001).
* Phơng pháp nghiên cứu:

7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục;
nội dung chính của luận văn đợc chia thành 2 chơng 6 tiết.

7
Chơng 1
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục
phổ thông trong những năm 1991-1996
1.1. Một số nét về tỉnh hòa bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ
quốc, có vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên vùng
núi, điểm trung chuyển sức hút ảnh hởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của thủ đô Hà Nội.
Nằm trong giới hạn 20 19 - 21 08 vĩ bắc và 104 48 - 105 50 kinh
đông, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Tây, phía Tây giáp
tỉnh Sơn La, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà nam và Thanh Hóa, Hòa Bình
có diện tích tự nhiên 4.662,53 km . Phần lớn diện tích của tỉnh Hòa Bình là
đất lâm nghiệp chiếm 46,5%. Đất nông nghiệp chỉ chiếm 15,3% (trong đó đất
cấy lúa chỉ chiếm 5,9%), còn lại là núi đá vôi và đồi núi trọc.
Đợc thành lập từ ngày 22- 6 - 1886, khi chính quyền thực dân Pháp kí
Nghị định cắt vùng đất có nhiều đồng bào Mờng c trú thuộc các tỉnh Hng
Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh M-
ờng (tỉnh lỵ đặt tại Chợ Bờ). Tỉnh Mờng bao gồm 4 phủ: Vàng An, Lơng Sơn,
Lạc Sơn và chợ Bờ. Đến ngày 5 - 9 - 1896, tỉnh lỵ tỉnh Mờng đợc chuyển về
làng Vĩnh Diệu, xã Hòa Bình (phía tả ngạn sông Đà, đối diện xã Phơng Lâm).
Từ đó tỉnh Mờng đợc gọi là tỉnh Hòa Bình và địa giới của tỉnh về cơ bản đã đ-
ợc ổn định. Sau năm 1954, các châu đợc chuyển thành đơn vị hành chính cấp
huyện. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kì họp thứ 2, ngày 1 - 4 -
1976, hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây sát nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình và chính

Hòa Bình 66km. Ngoài ra còn có các sông Bởi, sông Bùi, sông Lạng Hồ lớn
nhất của tỉnh Hòa Bình là hồ sông Đà với diện tích mặt nớc trên 9000ha và
9
dung tích 9,5 tỉ m . Đây không chỉ là công trình thủy điện lớn nhất cả n ớc với
tổng công xuất 1920Mw và lợng thủy năng 50 tỷ kw/h mà còn là công trình
thủy lợi cung cấp nguồn nớc phục vụ sản xuất sinh hoạt, nuôi trồng thủy hải
sản của tỉnh cũng nh tạo ra khu du lịch lòng hồ đầy triển vọng.
Thiên nhiên đã tạo ra cho Hòa Bình nhiều cảnh quan đẹp và kỳ thú nh:
núi Cột Cờ (huyện Tân Lạc) hang Can (huyện Kỳ Sơn) hang Trại (huyện Lạc
Sơn) hang Đồng Nội (huyện Lạc Thủy) các khu du lịch Vua Bà, Chợ Bờ, suối
nớc khoáng Mớ Bà (huyện Kim Bôi) Nhờ bàn tay lao động cần cù và sáng
tạo của mình, nhân dân các dân tộc ở đây đã tạo nên nền văn hóa Hòa Bình
nổi tiếng với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (bản Lác - Mai Châu),
của dân tộc Mờng (bản Đốm - thị xã Hòa Bình), cùng với trang phục thổ cẩm
đầy màu sắc, đặc sản rợu cần của địa phơng đã mang đến cho Hòa Bình
những điểm du lịch vừa là nơi điều dỡng có giá trị văn hóa cao.
Với đặc điểm của điều kiện tự nhiên nh trên, đã tác động rất lớn đến
chiến lợc phát triển GD - ĐT của Hòa Bình. Bởi lẽ, bên cạnh những thuận lợi,
là một tỉnh Miền Núi, Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với
những vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng lòng
hồ. Nơi đây, điều kiện KT - XH cho con em theo học còn hạn chế, giao thông
đi lại còn khó khăn Đây là vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh, cần có sự
quan tâm chỉ đạo và sự phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành, từng bớc đa
giáo dục Hòa Bình vợt qua những khó khăn khắc nhiệt của tự nhiên.
Quán triệt tinh thần đổi mới toàn diện đất nớc theo quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn tình hình phát triển KT - XH của
địa phơng. Trong các văn kiện, Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình khóa XI (1992), khóa XII (1996) và khóa XIII (2001), chủ yếu đa ra
những mục tiêu trọng tâm là: ổn định và đẩy mạnh phát triển KT - XH, giải
phóng năng lực sản xuất; từng bớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng

Mạng lới y tế phát triển đến tận xã, phờng. Đến năm 2000, toàn tỉnh có
gần 2000 giờng bệnh và 2156 cán bộ y tế với trên 400 bác sỹ; hàng chục đề
tài khoa học trực tiếp phục vụ phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao cũng đợc tổ chức
rộng rãi và thờng xuyên hơn; phong trào xây dựng nếp sống văn minh, đời
sống văn hóa mới trong cới xin, tang lễ, tôn giáo, tín ngỡng đợc đổi mới theo
hớng gọn nhẹ, tiết kiệm và đúng pháp luật. Các phơng tiện thông tin đại
chúng, nhất là Phát thanh truyền hình, báo chí từng bớc đợc nâng cấp, đa
100% số hộ đợc nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và 60% số hộ đợc xem truyền
hình vào năm 2000 [89, tr.430].
Bên cạnh những chuyển biến to lớn, tích cực nói trên, song sự phát triển
về KT - XH của tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn này cũng bộc lộ không ít
những hạn chế, khó khăn. Quy mô tăng trởng và quy mô tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) còn nhỏ bé so với quy mô tăng trởng nền kinh tế của cả nớc. Năm
1995, GDP của tỉnh mới đạt 1.098,6 tỉ đồng và năm 2000 đạt gần 1.830,79 tỉ
đồng (tính theo giá thực tế) [89, tr.424]. Thu nhập bình quân đầu ngời còn
thấp; năm 2002 đạt 2,7 triệu đồng (bằng 40,5% so với mức bình quân chung
của cả nớc là 6,7 triệu đồng) [89, tr.430 - 431]. Nền kinh tế chủ yếu vẫn dựa
vào nông - lâm nghiệp, chiếm tới gần 50% tổng GDP toàn tỉnh; công nghiệp
và xây dựng mới chỉ chiếm 17,13% trong cơ cấu GDP (thấp hơn nhiều so với
tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong tổng GDP của cả nớc là 36,73%) [89,
tr.427]. Một số nơi vùng sâu, vùng xa, vùng lòng hồ, cơ cấu kinh tế truyền
thống vẫn còn đậm nét; giao thông đi lại, thông tin liên lạc còn gặp nhiều khó
12
khăn. Trình độ dân trí, văn hóa, giáo dục còn nhiều bất cập, phần đông các hộ
gia đình ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng lòng hồ trình độ học vấn còn
thấp, trong đó có không ít phụ nữ và thanh niên. Một số cộng đồng dân c, các
hủ tục, tập quán lạc hậu nh ma chay, cới xin, lễ tết vẫn còn khá nặng nề, gây
ảnh hởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống.
Từ thực trạng phát triển KT - XH của Hòa Bình nh trên. Có thể nói, so

Đến nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã phát hiện đợc nhiều trống đồng
cổ, chủ yếu là hai loại: Loại I Hêgơ (thờng gọi là trống Đông Sơn), loại II
Hêgơ (còn gọi là trống Mờng). Chiếc trống sông Đà là một trong những chiếc
trống đẹp nhất thế giới (có niên đại khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ IV trớc Công
nguyên). Ngoài ra, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy những công cụ bằng
đồng nh: rìu lỡi xéo, lỡi giáo, thuổng, dao cắt, thạp Đây là những minh
chứng khẳng định dân tộc Mờng chính là ngời Việt cổ.
Tự hào là mảnh đất có chiều dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong
tỉnh cũng tạo cho mình một sắc thái đặc sắc riêng. Đồng bào Mờng có lễ hội
Cồng Chiêng, có trờng ca đẻ đất, đẻ nớc Đồng bào Thái có chữ viết riêng
từ lâu đời với trờng ca sống trụ sôn sao Tiếng sáo cùng những làn điệu
dân ca HMông say đắm đã tạo ra sự phong phú đa dạng về văn hóa của một
tỉnh nhiều dân tộc, góp phần vào sự phong phú đa dạng của nền văn hóa Việt
Nam.
Trong lịch sử phát triển của mình, Hòa Bình có bề dày văn hóa, nhng
do nhiều nguyên nhân, nền giáo dục Hòa Bình phát triển rất chậm. Qua hàng
ngàn năm sống trong điều kiện kinh tế chậm phát triển, mang tính tự cấp, tự
túc, lại bị chế độ lang đạo, thực dân thống trị cực kỳ tàn bạo, lạc hậu và bảo
thủ đã kìm hãm trình độ dân trí của dân nhân các dân tộc trong tỉnh. Điều
này đã khiến Công sứ Hòa Bình Rênhiê (Regnier) xem đó nh một sai lầm cần
phải sửa chữa [89, tr.237, 264].
14
Sau khi chấm dứt việc thi chữ Hán vào năm 1919, thực dân Pháp chủ tr-
ơng thực hiện đào tạo một lớp trí thức mới nhằm đáp ứng yêu cầu cai trị của
chúng. ở Hòa Bình, cho đến nửa đầu những năm 30 của thế kỷ XX, Pháp mới
mở 6 lớp sơ đẳng tiểu học tại Vụ Bản, Kim Bôi, Lơng Sơn, Cao Phong và Suối
Rút; mỗi lớp có 30 học sinh đợc dạy đến trình độ biết đọc, biết viết, biết làm
tính. Do vậy, toàn tỉnh Hòa Bình lúc này có khoảng 180 học sinh trên khoảng
60.000 dân (trung bình 3 học sinh/1000 dân) [89, tr.264].
Khơi dậy tinh thần học tập, chống nạn mù chữ; nhiều làng đông dân đã

chủ Cộng hòa. Ngay trong tháng 9 - 1945, chính phủ ta đã quyết định thành
lập nha bình dân học vụ. Các trờng học trong cả nớc đã nhanh chóng khai
giảng năm học mới - mở đầu cho quá trình xây dựng nền giáo dục dân chủ
nhân dân, thay thế cho nền giáo dục thực dân. Hòa cùng không khí sôi nổi của
cả nớc, tỉnh bộ Việt Minh và ủy ban nhân nhân tỉnh Hòa Bình đã quyết định
thành lập ty bình dân học vụ để chỉ đạo triển khai công tác bình dân học
vụ tới các huyện, xã, bản, làng, trong toàn tỉnh. Với khí thế cách mạng của
những ngày đầu tổng khởi nghĩa thắng lợi, nhân nhân các dân tộc tỉnh Hòa
Bình đã nhiệt liệt hởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vào tháng 10 - 1945. Phong trào bình dân học vụ đợc dấy lên khắp
các làng bản. Với phơng châm ngời biết chữ dạy ngời cha biết chữ; ngời dạy,
ngời học đều tận dụng thời gian để dạy và học. Dù còn nhiều khó khăn nhng
đêm đêm ở khắp các bản làng đều đỏ đèn của các lớp học bình dân học vụ.
Các lớp học đợc tổ chức ngay trên nhà sàn, giữa buổi làm nơng hay trong
những phiên chợ. ở một số chợ nh: chợ Phơng Lâm (thị xã Hòa Bình), chợ
Đồn (Lơng Sơn), chợ Gò Chè (Kim Bôi), chợ Suối Rút (Mai Châu), chợ Vụ
Bản (Lạc Sơn) ng ời đi chợ phải qua kiểm tra, vừa đợc dạy thêm dăm ba chữ
mới đợc vào chợ. Khắp các bản làng đều có khẩu hiệu với các dòng chữ: đi
16
học là yêu nớc, mỗi lớp bình dân là một tổ tuyên truyền kháng chiến, có
học thì kháng chiến mới thắng lợi
Cùng với phong trào bình dân học vụ, phong trào xóa mù chữ cũng phát
triển rộng khắp trong toàn tỉnh. Năm 1948, xã Thanh Nông huyện Lơng Sơn
(nay thuộc huyện Kim Bôi) đã thanh toán xong nạn mù chữ và vinh dự đợc
Bác Hồ gửi th khen ngợi.
Năm 1950, thực hiện chủ trơng cải cách giáo dục lần thứ nhất của Đảng
và Nhà nớc, ngành GD - ĐT Hòa Bình đã xác định rõ mục đích của giáo dục
là phục vụ kháng chiến, kiến quốc với phơng châm: Khoa học, dân tộc và đại
chúng. Đây là bớc chuyển cơ bản của nhà trờng kiểu cũ sang nhà trờng dân
chủ nhân dân với hệ thống giáo dục 9 năm.

sự hỗ trợ của các tỉnh và đơn vị nh: Nghệ An, Thanh Hóa, Trờng s phạm miền
núi Trung ơng, Đại học s phạm Hà Nội I. Hòa Bình đã tiếp nhận 86 giáo viên
và hàng chục sinh viên tình nguyện lên công tác ở địa phơng. Do vậy, hàng
loạt các trờng cấp I, cấp II tiếp tục đợc thành lập nh: trờng Ngọc Lơng (Yên
Thủy), Suối Rút (Mai Châu), Hợp Thịnh, Thịnh Lang, Dân Hạ, Thu Phong(Kỳ
Sơn), Mãn Đức, Tử Nê (Tân Lạc), Vĩnh Tiến, Thanh Lơng (Kim Bôi). Đặc
biệt, đợc sự quan tâm của tỉnh ủy và chính quyền địa phơng, tháng 10 - 1961,
tỉnh Hòa Bình đã thành lập khu học xá và phát động phong trào thi đua hai
tốt. đây là một sáng tạo trong phát triển sự nghiệp GD - ĐT của tỉnh Hòa
Bình.
Không ngừng nâng cao chất lợng giáo dục, ngành học phổ thông tổ
chức tốt các kỳ thi giáo viên dạy giỏi, thi đồ dùng dạy học. Ngành GD - ĐT
Hòa Bình chủ trơng xóa nạn mù chữ đến đâu, tiến hành bổ túc văn hóa đến đó
và chống hiện tợng tái mù chữ. Tỉnh đã chỉ đạo thành lập Trờng phổ thông lao
động của tỉnh và Trờng phổ thông lao động ở các huyện. Các lớp bổ túc văn
18
hóa đợc mở ngay ở các cơ quan và địa phơng, nhằm nâng cao trình độ văn hóa
cho cán bộ và nhân dân.
Khi chiến tranh bớc vào thời kỳ ác liệt, nhiều thầy giáo và học sinh của
ngành GD - ĐT của tỉnh Hòa Bình đã hăng hái tình nguyện nhập ngũ lên đờng
đi chiến đấu. Nhiều học sinh với quyết tâm cao đã viết đơn bằng máu xung
phong vào bộ đội và tham gia lực lợng vũ trang. Tiêu biểu là các em học sinh
trờng cấp II Hoàng Văn Thụ, nhiều ngời đã lập công xuất sắc và đợc tặng th-
ởng danh hiệu cao quý trong quân đội. Đây thể hiện là sự nối tiếp truyền
thống chống giặc ngoại xâm của cha anh và quê hơng.
Thời kỳ 1965 - 1975. Năm 1965 đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền
Bắc, các trờng học, thầy và trò đều phải đi sơ tán về các bản làng. Mặc dù vậy,
với tinh thần quyết tâm cao, thầy và trò luôn duy trì bám trờng, bám lớp dạy
và học.
Thực hiện chỉ thị 237 của Thủ tớng Chính phủ và chỉ thị 26 của Bộ GD

Bên cạnh đó, để nâng cao chất lợng giáo dục, tỉnh đã tiến hành sát nhập một
số trờng nh: Trờng s phạm bổ túc văn hóa Lê Hồng Phong nhập với trờng
Trung cấp s phạm; trờng s phạm cấp I Mai Châu, Đà Bắc nhập với trờng s
phạm cấp I của tỉnh. Cũng trong thời gian này, ngành GD - ĐT Hòa Bình tiếp
tục mở thêm hệ s phạm 10 +3 để đáp ứng nhu cầu về giáo viên và khai giảng
khóa đầu tiên vào năm học 1971 - 1972, với 2 lớp Toán - Lý và Văn - sử. Do
yêu cầu của tình hình mới, Trờng s phạm 10 +3 Hòa Bình tiến hành sát nhập
với Trờng Cao đẳng s phạm Thờng Tín (Hà Tây) để tiếp tục làm nhiệm vụ đào
tạo giáo viên. Vì vậy, hàng năm trờng đã đào tạo đợc 400 - 500 giáo sinh,
trong đó phần đông là các giáo sinh dân tộc thiểu số trong tỉnh. Hệ thống tr-
ờng s phạm trên đây đã đóng góp một phần quan trọng vào việc phát triển đội
ngũ giáo viên và sự nghiệp GD - ĐT của tỉnh Hòa Bình. Miền nam hoàn toàn
giải phóng, đất nớc thống nhất, ngành GD - ĐT Hòa Bình cùng cả nớc lại bớc
20
tiếp vào một thời kỳ mới với những nhiệm vụ chính trị nặng nề nhng cũng rất
vẻ vang.
1.2.2. Giáo dục phổ thông ở Hòa Bình từ 1975 đến 1991
Ngày 30 - 4 - 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nớc thống nhất,
cả nớc tiến lên xây dựng CNXH, nhng những khó khăn trớc mắt đặt ra cũng
rất nặng nề.
Trớc yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng, ngày 27 - 12 - 1975,
Quốc hội nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại kỳ họp thứ II, Quốc hội (khóa
V) đã ra nghị quyết về việc hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành một
tỉnh mới, đặt tên là tỉnh Hà Sơn Bình. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, việc
hợp nhất đợc tiến hành khẩn trơng và nhanh chóng đi vào hoạt động. Trong bối
cảnh đó sự nghiệp phát triển giáo dục Hòa Bình cũng gắn liền với mục tiêu phát
triển KT - XH của tỉnh Hà Sơn Bình và đạt đợc những kết quả đáng chú ý.
Riêng về tỉnh Hòa Bình, từ năm 1976 - 1980, sự nghiệp giáo dục Hòa
Bình có bớc phát triển mới ở các ngành học, đặc biệt là ngành học mẫu giáo
và bổ túc văn hóa. Các xã đều có trờng cấp I và hầu hết có trờng cấp II (trừ

Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi thơ ấu cho đến lúc tr-
ởng thành; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân; đào tạo và bồi dỡng với quy mô
ngày càng lớn đội ngũ lao động mới. Nghị quyết chỉ rõ: trong cải cách giáo
dục lần này, phải làm cho công tác giáo dục thấu suốt hơn nguyên lý: học đi đôi
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trờng gắn liền với xã hội
[64, tr.4]. Với tinh thần đó, ngày 25 - 8 - 1981, tỉnh Hà Sơn Bình ra nghị quyết
chuyên đề về công tác giáo dục. Tiếp đó, ngày 29 - 8 - 1981, UBND tỉnh Hà Sơn
Bình đã ra chỉ thị số 21/CT - UB đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chức
năng của các ngành trong tỉnh đối với sự nghiệp giáo dục.
Có đợc những động lực quan trọng nh vậy, sự nghiệp giáo dục tỉnh Hà
Sơn Bình đã nhanh chóng có những chuyển biến rõ nét. Ngành đã tiến hành
22
khẩn trơng công tác đào tạo, bồi dỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên.
Đến năm 1985, toàn ngành có trên 2 vạn cán bộ, giáo viên (bao gồm cả 2000
giáo viên mẫu giáo không nằm trong biên chế), trong đó giáo viên cấp I chiếm
11%, cấp II chiếm 42%, cấp III chiếm 9 % và các trờng s phạm chiếm 2%
[88, tr.97].
Việc bồi dỡng, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên đạt kết quả khá. 68,5% giáo
viên cấp I đạt hệ chuẩn 10 + 2; 78.2% giáo viên cấp II đạt hệ chuẩn 10 + 3 và
Cao đẳng s phạm; 87% giáo viên cấp III đạt hệ chuẩn 10 + 4 [88, tr.97]. Đội
ngũ giáo viên tỉnh Hà Sơn Bình đợc đào tạo có hệ thống, có phẩm chất đạo
đức tốt, có tinh thần chịu đựng khó khăn, nhất là giáo viên miền núi. Dù đời
sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn song đại bộ phận giáo viên bám trờng,
bám lớp, nhiều đồng chí thực sự là tấm gơng sáng của ngành.
Về công tác xã hội hóa giáo dục, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Sơn Bình
cùng các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chăm lo cho sự nghiệp giáo dục
với phơng châm nhà nớc và nhân dân cùng làm. Trên thực tế, nhiều địa ph-
ơng, đơn vị trong tỉnh đã chuyển thành nhân dân làm, nhà nớc hớng dẫn, hỗ
trợ. Do đó đến năm 1985, ngành giáo dục có gần 700 trờng học, trong đó có:
422 trờng PTCS, 36 trờng THPT, 5 trờng trờng Cao đẳng s phạm và Trung học

Thực hiện mạnh mẽ chơng trình ánh sáng văn hóa miền núi, riêng
khu vực Hòa Bình có 10 huyện, 1 thị xã đã hoàn thành phổ cập cấp I toàn dân
từ năm 1982 (huyện Yên Thủy là huyện dẫn đầu tỉnh Hà Sơn Bình về phổ cập
cấp I, hoàn thành năm 1979 và phổ cập cấp II cho toàn bộ cán bộ huyện, xã,
đảng viên và thanh niên u tú). Ngoài ra, còn có trên 40 xã, phờng thuộc thị xã
Hòa Bình, huyện Lạc Sơn, Lạc Thủy, Tân Lạc và 3/4 cơ quan xí nghiệp hoàn
thành phổ cập cấp II [88, tr.100].
Phong trào thi đua hai tốt tiếp tục phát triển rộng khắp ở các địa bàn
trong tỉnh, các điển hình tiên tiến vẫn đợc giữ vững và phát huy tác dụng tốt.
24
Đặc biệt, năm 1985, Trờng Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình
và xã Ngổ Luông, hai đơn vị duy nhất của tỉnh Hà Sơn Bình đợc hội đồng
nhà nớc tuyên dơng danh hiệu anh hùng lao động về thành tích giáo dục.
Đây không chỉ là niềm vinh dự, tự hào của sự nghiệp giáo dục miền núi mà
còn là niềm tự hào chung của các dân tộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Thời kỳ 1981 - 1985, sự nghiệp giáo dục tỉnh Hà Sơn Bình vẫn còn nhiều
khó khăn, yếu kém cha đợc khắc phục. Chất lợng và hiệu quả giáo dục còn
thấp so với yêu cầu, biểu hiện là tình hình lu ban, bỏ học khá cao; có sự chênh
lệch khá lớn về chất lợng giáo dục giữa các trờng tiên tiến, trờng trọng điểm
về cải cách giáo dục với các trờng diện đại trà, giữa các trờng ở thị xã với
nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi.
Tình trạng thiếu giáo viên cấp I, giáo viên khu vực miền núi khá phổ biến,
đời sống của đa số cán bộ giáo viên rất khó khăn khiến họ không yên tâm với
nghề. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành vẫn quá nghèo nàn và thiếu thốn,
kinh phí đầu t cho giáo dục tuy có tiến bộ song vẫn không đáp ứng đợc những
nhu cầu tối thiểu của công tác giáo dục. Số trờng xây dựng bằng tranh tre, nứa lá
còn cao, chính sách đối với giáo viên vùng cao, vùng sâu cha đợc thực hiện tốt
Đây là những khó khăn không chỉ riêng đối với tỉnh Hà Sơn Bình mà còn là
những khó khăn chung của cả nớc trong bối cảnh lúc bấy giờ. Song, với những
kết quả to lớn đã đạt đợc, sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã góp phần quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status