MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chương 1. ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI
HOÁ (1996 - 2000) ................................................................................. 6
1.1. Yêu cầu khách quan của việc phát triển giáo dục đại học trong sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ............................................. 6
1.1.1. Tầm quan trọng của giáo dục đại học đối với sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ............................................................. 6
1.1.2. Tình hình giáo dục đại học trước năm 1996 ...................................... 11
1.2. Đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng trong những năm đầu
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ........................... 17
1.3. Quá trình tổ chức thực hiện đường lối phát triển giáo dục đại học của
Đảng (1996-2000) ............................................................................. 24
1.3.1. Quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển
giáo dục đại học từ 1996 đến năm 2000 ................................................. 24
1.3.2. Một số thành tựu cơ bản về giáo dục đại học ......................................... 34
Chương 2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2001 - 2005) ................................... 43
2.1. Yêu cầu mới đối với giáo dục đại học ........................................................ 43
2.2. Đường lối của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục đại học ....... 48
2.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục đại học trong những năm
2001-2005 ......................................................................................... 56
2.3.1. Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục ..................................................................................................... 56
2.3.2. Kết quả thực hiện các mục tiêu chiến lược trong giai đoạn 2001 2005................................................................................................... 66
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH
: Đại học, cao đẳng
GD-ĐT
: Giáo dục - đào tạo
KH- CN
: Khoa học công nghệ
NSNN
: Ngân sách nhà nước
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, xu thế chung của thế giới là toàn cầu hoá, hội
nhập khu vực và quốc tế, với những tác động nhiều mặt đa phương, đa dạng.
Thế giới đi vào nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ phát triển như vũ
bão, lợi thế so sánh nghiêng về những nước phát triển, làm chủ khoa học - kỹ
thuật. Chất xám, trí tuệ trở thành động lực chủ yếu để phát triển kinh tế - xã
hội. Phát triển giáo dục đại học để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đặt ra đối với tất cả các quốc gia.
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ trên thế giới diễn ra
quá trình phát triển của giáo dục đại học sau hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh
đạo của Đảng, chỉ rõ những thành tựu, những yếu kém và nguyên nhân của
nó, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo
dục đại học đã và đang diễn ra là công việc hết sức cần thiết. Vì vậy, tôi chọn
đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển giáo dục đại học từ
năm 1996 đến năm 2005” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng giữ một vị trí hết sức
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt
trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề đổi mới giáo dục đại học đặt ra hết
sức bức thiết, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao. Vì lẽ đó, tình hình nghiên cứu về giáo dục đại học trở thành
đề tài thời sự được các nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục hết sức quan tâm.
Hàng loạt các công trình nghiên cứu về giáo dục đại học được công bố.
Có thể nên một vài công trình như sau:
Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ
XXI, Nxb CTQG; Ban Khoa giáo Trung ương (2001), Báo cáo kiểm điểm việc
thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII; Bộ Giáo dục - Đào tạo (2001),
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, tiếp tục đổi mới, tạo chuyển
biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu CNH,
HĐH đất nước đầu thế kỷ XXI; Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục
- đào tạo trong thời kỳ đổi mới. Chủ trương, thực hiện đánh giá; Viện Chiến
lược và Chương trình giáo dục (2005), Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Đánh giá
2
việc thực hiện chiến lược giáo dục trong giai đoạn I (2001 - 2005) và chuẩn
bị kế hoạch thực hiện giai đoạn II (2006 - 2010).
Những luận văn, luận án đã bảo vệ: Phan Quốc Huy (1996), Đảng công
Luận văn chủ yếu nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đại học từ năm 1996 đến năm 2005.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về giáo dục đại học từ 1996 - 2005; quá trình tổ chức thực hiện
phát triển giáo dục đại học; đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế
của giáo dục đại học.
- Về thời gian: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục đại
học từ năm 1996 đến năm 2005.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu là:
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học.
- Các báo cáo của Bộ Giáo dục - Đào tạo về giáo dục đại học.
- Tham khảo các tác phẩm của các chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực giáo
dục đã được công bố.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về giáo dục
đại học.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử, phương
pháp logic. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, so
sánh… để thực hiện đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về lãnh đạo phát triển giáo dục đại học từ năm 1996 đến năm 2005.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo giúp các nhà
nghiên cứu tiếp tục lĩnh vực này.
- Từ việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục đại
thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII Đảng (1996) đã chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH trên phạm vi cả
nước. Đảng ta xác định:
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiêu biểu, hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghệ và tiến bộ của khoa học công nghệ, tạo ra năng
suất lao động cao [20, tr.65].
Điều kiện nước ta tiến hành CNH, HĐH là từ một nền kinh tế kém
phát triển lại phải khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh vệ quốc.
Vì vậy, sau những sai lầm trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, Đảng
ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm để lựa chọn ra con đường CNH,
HĐH phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta và xu thế phát
triển của thế giới hiện nay.
Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế thị trường tạo nền tảng cơ bản
đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Trong đó chúng ta cần kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người
Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại. Như vậy, CNH, HĐH là khâu then
chốt để đưa nước ta phát triển đi lên trở thành một nước công nghiệp có cơ sở
6
vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, lực lượng sản xuất phát triển,
đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc.
Vậy làm thế nào để chúng ta sớm có thể thực hiện thành công quá trình
CNH, HĐH đất nước được? Đứng trước vấn đề đó, nhiều nhà khoa học đã tìm
tòi, nghiên cứu trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta và học hỏi kế thừa
kinh nghiệm từ các nước khác trên thế giới đã nhất trí với nhau rằng nguồn lực
lượng cao. Trong sự nghiệp CNH, HĐH của dân tộc, trí thức không chỉ trực
tiếp tham gia và đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đó mà trí thức còn thể hiện
rõ trong công tác nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Những hoạt động của trí
thức tác động vào quá trình phát triển của giáo dục đào tạo, khoa học và công
nghệ làm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH. Tuy nhiên, chính kết quả phát triển
của quá trình CNH, HĐH cũng có sự tác động ngược trở lại làm cho đội ngũ trí
thức của chúng ta ngày càng phát triển hơn cả về chất lượng và số lượng. Như
vậy, những hoạt động của đội ngũ trí thức không chỉ làm đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH của đất nước mà nó còn góp phần phát triển chính đội ngũ trí thức
của dân tộc.
Thứ ba, vai trò của trí thức còn thể hiện trong lãnh đạo quản lý và điều
hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trong quá trình CNH, HĐH quá trình
đổi mới của đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn cần có một đội ngũ trí thức đủ
đức đủ tài để giữ vai trò trọng trách quản lý cả về chuyên môn lẫn nghiệp vụ.
Trong bối cảnh thể giới hiện nay việc giao lưu hội nhập kinh tế, việc đẩy nhanh
quá trình phát triển kinh tế để có thể chuyển từ nền kinh tế thị trường sang nền
kinh tế trí thức đang là xu thế tất yếu của thời đại. Do đó, việc bồi dưỡng xây
dựng đội ngũ trí thức đủ đức đủ tài gắn bó với nhân dân giàu lòng yêu nước,
yêu CNXH có ý chí và hoài bão khoa học… là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu của Đảng và Nhà nước ta và của bản thân đội ngũ trí thức.
Từ những phân tích trên cho ta thấy quá trình CNH, HĐH càng đi vào
chiều sâu, xã hội càng phát triển thì nhu cầu về số lượng và chất lượng của đội
ngũ trí thức càng trở lên cấp bách đòi hỏi quá trình đào tạo giáo dục nguồn nhân
lực của chúng ta cần có sự vận động phát triển để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi đó.
Giáo dục đại học là bậc đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục đào tạo
ở nước ta, với 2 bậc học là đại học và sau đại học. Trong đó bậc đại học đào tạo
cao đẳng và đại học - người học ở bậc này gọi là sinh viên, tốt nghiệp là cử
nhân, kỹ sư… và bậc đào tạo sau đại học gọi là học viên cao học, nghiên cứu
sinh, tốt nghiệp là thạc sỹ, tiến sỹ. Mục tiêu chung của giáo dục đại học là
nhằm đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực ở trình độ cao có phẩm chất chính trị
cao năng lực hoạt động và khả năng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn thì con
người không thể chỉ dựa vào tri thức kinh nghiệm mà phải vươn tới chiếm lĩnh
được tri thức khoa học. Muốn đạt được điều đó con người nhất thiết phải cần
đến quá trình giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Bởi chỉ có ở đó con người
mới có môi trường học tập và nghiên cứu, có sự hướng dẫn của các giảng viên
có trình độ chuyên môn cao về từng yếu tố phù hợp với yêu cầu phát triển.
Giáo dục đại học cũng trang bị cho người học thế giới quan và phương pháp
9
luận khoa học để tiếp cận và nghiên cứu sáng tạo ra những tri thức mới ở
những trình độ ngày càng cao, phát huy những yếu tố nội sinh để người học
tiếp thu tìm tòi ra chân lý. Những tri thức của giáo dục đại học mang lại sẽ giúp
cho người lao động chủ động hoạt động để đạt hiệu quả cao trong hoạt động
thực tiễn từ đó không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ góp phần nâng cao chất
lượng của nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình CNH,
HĐH đất nước.
Giáo dục đại học là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao bản lĩnh chính
trị, rèn luyện lập trường tư tưởng cho nguồn nhân lực của quá trình CNH, HĐH
đất nước. Quá trình giáo dục đại học sẽ giúp cho người học hiểu biết về các giá
trị truyền thống của dân tộc và tiếp xúc các giá trị văn hoá tiên tiến của nhân
loại, từ đó hình thành nên tình yêu quê hương đất nước, yêu CNXH, hình thành
nên nhân cách cao đẹp của người lao động. Chính điều đó đã giúp người lao
động có được bản lĩnh vững vàng trước những âm mưu dụ dỗ, chia rẽ, chống
phá xuyên tạc… của kẻ thù đối với quá trình CNH, HĐH phát triển đất nước.
Giáo dục đại học là yếu tố giúp cho người lao động có một hệ thống kiến
thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản, chuyên sâu về một ngành nghề,
một lĩnh vực đồng thời khơi dậy và phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và
những người làm chủ tri thức cho đội ngũ trí thức nói riêng, là nguồn nhân lực
Trước xu thế hội nhập mở cửa, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học
công nghệ phát triển như vũ bão, nguy cơ tụt hậu về kinh tế - xã hội, về khoa
học kỹ thuật và công nghệ của nước ta ngày càng cao so với các nước trên thế
giới đã đặt ra vấn đề cấp thiết phải đổi mới giáo dục đại học để đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực với yêu cầu ngày càng cao cho sự nghiệp đổi mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986) của Đảng là đại hội khởi
xướng sự nghiệp đổi mới trên tất cả mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Đảng,
Nhà nước ta và ngành giáo dục - đào tạo đã kịp thời nhân thức rõ sự non kém về
nhiều mặt, từng bước giải quyết những vấn đề cấp bách của giáo dục như ngăn
chặn sự giảm sút về công tác đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất, nhà trường, chăm
lo đời sống giáo viên, phát động toàn dân tham gia xây dựng giáo dục…
Đại hội VII của Đảng (6 - 1991) đã khẳng định: “cùng với khoa học
công nghệ, giáo dục đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu” [26,
tr.187]. Điều khẳng định này là hoàn toàn chính xác. Khoa học và giáo dục
đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ
tiên tiến của thế giới.
11
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá VII) năm
1993 đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo
như sau:
Một là, giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xem là
“quốc sách hàng đầu”. Đó là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo
cho việc thực hiện những mục tiêu kinh té - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Đảng ta nhấn mạnh coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng
chính đầu tư cho phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước để phục vụ đắc
lực nền kinh tế - xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng
với việc đào tạo, nghiên cứu khoa học với triển khai ứng dụng công nghệ. Mở
rộng quan hệ trong đào tạo, nghiên cứu khoa học với các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước phát triển nhằm tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và
những tiến bộ về các thành tựu giáo dục của thế giới.
Bốn là, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục nhằm tạo điều kiện, cơ hội cho mọi người học tập, hình thành xã
hội học tập. Đảng chủ trương cho phép mở rộng loại hình đào tạo không chính
quy, đa dạng hoá loại hình đào tạo: công lập, bán công, dân lập, tư thục, các
trung tâm đào tạo thường xuyên, đào tạo từ xa… làm cho mỗi người dân có thể
lựa chọn một hình thức học tập phù hợp. Người đi học phải đóng học phí, cá
nhân, tổ chức sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng học phí đào tạo. Nhà
nước có chính sách đảm bảo cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều
được đi học.
Bốn quan điểm chỉ đạo trên đây thể hiện rõ vị trí quan trọng hàng đầu
của giáo dục - đào tạo trong nền kinh tế quốc dân.
Mười năm 1986 - 1996 có vị trí đặc biệt trong quá trình tồn tại và phát
triển của đất nước. Đó là thời kỳ đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh
đạo. Đường lối đổi mới đã đưa đất nước ta, trong đó có giáo dục đại học bước
sang một giai đoạn mới. Giai đoạn này là giai đoạn phát triển giáo dục đại học
theo đường lối đổi mới. Đường lối đổi mới bắt đầu từ tư duy, trong đó có đổi
mới tư duy về giáo dục đại học, đưa giáo dục đại học lên một trình độ phát
triển mới.
Vào những năm 1987 - 1988, khi bắt đầu công cuộc đổi mới theo đường
lối của Đại hội VI đề ra, giáo dục đại học nước ta đang lâm vào tình trạng yếu
kém về nhiều mặt.
Mạng lưới đại học Việt Nam có hơn 100 trường đại học và cao đẳng, nhìn
chung chủ yếu là công lập. Quy mô các trường quá nhỏ hẹp, tổ chức theo ngành
13
năm 1994 ở 17 trường đại học ở Hà Nội thì số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi
chỉ có 8%. Đội ngũ cán bộ trẻ rất hiếm ở các trường đại học lớn như: Đại học
14
Bách khoa, Đại học Tổng hợp số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi là 1,2%, Đại
học Sư phạm là 1,9%.
Về đào tạo sau đại học, tính đến tháng 7 - 1995 nước ta có 120 cơ sở
đào tạo sau đại học, với 7.982 học viên cao học và 3.262 nghiên cứu sinh
đang theo học.
Về đội ngũ sinh viên của giáo dục đại học Việt Nam trước năm 1996 là
không ổn định. Vấn đề đó có nhiều nguyên nhân, vừa do chuyển đổi cải cách
giáo dục, vừa do quy định nghiêm ngặt theo kế hoạch tuyển sinh của Nhà nước.
Cuộc sống khó khăn nên thời ấy vào đại học là mơ ước của nhiều người, nhất
là lớp trẻ. Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo vẫn không được tăng lên, thực ra nó
chịu tác động dưới nhiều sức ép, trước hết là chịu tác động về sự xuống cấp của
cơ sở thiết bị dạy và học. Hiện trạng các trường đại học, cao đẳng của nước ta
lúc đó không những không được trang bị thêm mà vẫn giữ nguyên cơ sở vật
chất, trang thiết bị của Liên Xô và Đông Âu cũ, đã lạc hậu cũ kỹ, rồi tiếp tục
xuống cấp thêm…
Tình trạng dạy chay, học chay, cách truyền đạt vẫn chỉ diễn giải lý
thuyết là chủ yếu. Cách dạy “truyền thống” trên giảng đường đại học vẫn chưa
được khắc phục. Sinh viên đào tạo ít được thao tác kỹ thuật hoặc tiếp cận với
những công nghệ mới.
Trong thời kỳ bao cấp, giáo dục - đào tạo nói chung được xem như là
một thứ phúc lợi, là gánh nặng của ngân sách, cho nên trong mọi văn bản của
Nhà nước, các ngành, các cấp khi bàn về giáo dục - đào tạo chỉ là những câu
hỏi rất chung chung, làm được đến đâu hay đến đó. Từ đó, ngân sách chi cho
giáo dục hết sức eo hẹp, có lúc có nơi lại sử dụng vào việc khác, tình trạng
dụng hợp lý.
6. Hệ thống luật pháp, tổ chức, quản lý giáo dục đào tạo chưa phù hợp với
những đổi mới về quản lý kinh tế - xã hội đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay.
7. Hệ thống luật pháp, tổ chức, quản lý giáo dục - đào tạo chưa phù hợp
với những đổi mới về quản lý kinh tế - xã hội đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay.
Những vấn đề nêu trên đang là nỗi lo chung của chúng ta. Đó là một trong
những cơ sở để Đảng hoạch định những vấn đề về chiến lược giáo dục - đào tạo
trong tương lai. Đó cũng là sự thúc bách để Đảng ta có Hội nghị chuyên đề về
giáo dục đào tạo, chăm lo sức khoẻ nhân dân, về văn hoá, thanh niên…
1.2. Đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng trong những
năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
16
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng quyết định đẩy
mạnh CNH, HĐH nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh vững bước đi lên CNXH. Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát
triển mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của
sự phát triển bền vững.
Đại hội tiếp tục khẳng định: Cùng với khoa học - công nghệ, giáo dục
đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Coi trọng cả 3 mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và
phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục - đào tạo trong
5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, tạo điều
kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu
cực, yếu kém trong giáo dục.
Đại hội xác định: Đến năm 2020, phát triển đào tạo sau đại học, tăng số
lượng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài và tại các trung tâm đào tạo
quốc tế trong nước. Xác định rõ hơn mục tiêu, thiết kế nội dung, chương trình,
nước. Nghị quyết của hội nghị tập trung vào 6 quan điểm chỉ đạo phát triển GD
- ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH.
Một là, Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung phương pháp giáo dục,
đào tạo, trong các chính sách về phát triển giáo dục, đào tạo.
Quan điểm này thể hiện phương châm giáo dục toàn diện, bám sát vào
mục tiêu đào tạo những con người mới XHCN, thiết tha với độc lập dân tộc và
CNXH, có đạo đức lối sống lành mạnh, có sức khỏe, có ý chí kiên cường rèn
luyện lập thân lập nghiệp góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm chủ được
các tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có năng lực phát huy giá trị văn hóa
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, có tư duy độc lập sáng tạo, kỹ năng
thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp. Đặc biêt, ở giáo dục đại học và dạy
nghề phải chú trọng khối kiến thức chuyên môn, đặc biệt là các môn khoa học
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho học sinh, sinh viên.
Bên cạnh đó cũng cần tích cực ngăn chặn các tác động tiêu cực, các tệ nạn
xã hội: ma túy, cờ bạc… Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung, phương pháp
giáo dục, trong các chính sách, nhất là các chính sách về công bằng xã hội. Chống
khuynh hướng “thương mại hóa” trong giáo dục, coi GD - ĐT như là một hình
thức kinh doanh, đề phòng khuynh hướng “phi chính trị hóa” trong GD - ĐT…
Như vậy, thực chất quan điểm này là giữ vững mục tiêu đinh hướng
XHCN trong GD - ĐT chống nguy cơ chệch hướng, đổi màu, không thể hiện
bản chất của chế độ nước ta.
18
Hai là, Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Nghị quyết nêu rõ GD - ĐT cùng với KH - CN là nhân tố quyết định tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư cho phát triển.
Quan điểm này đã từng được nêu ra trong Đại hội VII, nghị quyết Trung ương 2
khóa (VIII) đã được cụ thể hơn với 4 nội dung:
hội trong việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Xã hội hóa giáo dục
cũng đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho giáo dục, huy động mọi nguồn lục để
đầu tư phát triển giáo dục theo hướng giáo dục phục vụ nhân dân.
Tuy nhiên, nói xã hội hóa giáo dục không có nghĩa là giảm nhẹ trách
nhiệm chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, khoán trắng cho xã hội. Nghị
quyết cũng chỉ rõ việc Đảng và Nhà nước phải nắm giáo dục, phải chăm lo phát
triển giáo dục “tăng cường xây dựng và củng cố tổ chức Đảng để thực sự trở
thành hạt nhân lãnh đạo các trường” [20, tr.46 - 47].
Xã hội hóa giáo dục không chỉ tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo
và bồi dưỡng nguồn nhân lực, tạo ra động lực cho nền giáo dục Việt Nam phát
triển, từng bước hòa nhập chung với thế giới mà còn làm thay đổi toàn bộ nhận
thức của Đảng ta về giáo dục, từng bước hướng tới mục tiêu đưa GD - ĐT trở
thành “quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của
Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mội công dân.
Bốn là, Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và
những tiến bộ khoa học công nghệ.
Sự nghiệp CNH - HĐH chỉ có thể thành công khi chúng ta có nguồn nhân
lực mạnh, đội ngũ lao động lành nghề có chất lượng cao, có kinh nghiệm, có sức
khỏe… và chúng ta quản lý sử dụng tốt lực lượng đó. Để tạo ra được nguồn
nhân lực thì vai trò quan trọng hàng đầu là công tác GD - ĐT, giáo dục sẽ góp
phần thay đổi về chất trong lực lượng lao động góp phần thực hiện thành công
các chỉ tiêu kinh tế - xã hội.
Nước ta bước vào CNH với lực lượng lao động dồi dào, khoảng 38 triệu
lao động, đây là một thuận lợi lớn song khó khăn của ta là nguồn lao động chất
lượng thấp, 80% dân số ở nông thôn, lao động thủ công là chủ yếu, số lao động
qua đào tạo có chuyên môn kỹ thuật thấp (khoảng 4 triệu người) chiếm khoảng
10% lực lượng lao động. Hàng năm chúng ta lại có lực lượng lao động bổ sung
khoảng 1,2 triệu người. Nguồn lao động này phải qua đào tạo mới có thể đáp
ứng được nhu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Do đó, việc bồi
định: “coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự phát triển
của đất nước. Gắn chiến lược phát triển giáo dục với chiến lược phát triển khoa học
công nghệ và cả hai đều gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” [20, tr.10].
21
Năm là, Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Đảng chủ trương tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Có chính sách
thiết thực cụ thể nhằm giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục nói
chung, cho các đối tượng chính sách, đối tượng là người dân tộc thiểu số, ít
người, vùng cao, vùng sâu, vùng xa… để đảm bảo cho đại bộ phận nhân dân đến
tuổi đi học được đến trường, người dân có nhu cầu được đi học.
Công bằng xã hội đòi hỏi sự hưởng thụ công bằng hợp lý những lợi ích
mà xã hội đem lại, cũng như trách nhiệm mà mỗi người phải đóng góp cho sự
phát triển xã hội. Thực hiện công bằng xã hội cũng đòi hỏi phải áp dụng các
nguyên tắc điều chỉnh và ưu tiên xã hội. Việc huy động mức đóng góp của nhân
dân không theo hướng bình quân chủ nghĩa mà phải tùy thuộc vào đối tượng,
vào mục đích huy động. Cần có chính sách giải quyết tình trạng mù chữ và tái
mù chữ, tình trạng bỏ học của học sinh sinh viên trong các gia đình có hoàn cảnh
khó khăn… có chính sách về quản lý kiểm tra, giám sát với các chương trình
phát triển giáo dục nhất là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Cần chấn chỉnh lại
nội dung chương trình giảng dạy, tổ chức thi cử đặc biệt là đối với tuyển sinh để
tạo sự công bằng trong cơ hội học tập… Thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực
giáo dục và quan điểm về bình đẳng, công bằng xã hội cũng chính là thực hiện
đinh hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta.
Sáu là, Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng
hóa các loại hình giáo dục - đào tạo
Đa dạng hóa các loại hình GD - ĐT để tạo cơ hội cho mọi người có thể
chọn cách học phù hợp. Trong đó lấy các trường công lập làm nòng cốt (về chất