ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐàO TạO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
**************************
Lê Hồ Hiếu
Đảng bộ Thị xã Móng Cái
lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội
từ năm 1991 đến năm 2006
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà NộI – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐàO TạO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
**************************
Lê Hồ Hiếu
Đảng bộ Thị xã Móng Cái
lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội
từ năm 1991 đến năm 2006
Chuyên ngành
: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số
Gdp
: Tổng sản phẩm trong nước
Tnhh
: Trách nhiệm hữu hạn
NQ
: Nghị quyết
NQTW
: Nghị quyết Trung ương
NXB CTQG
: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
ĐHKHXH&NV
: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
BCT
: Bộ chính trị
BBT
7
1.2. Những yêu cầu đặt ra đối với thị xã móng cái trong quá
trình lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội……………………
17
Chương 2. Chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện phát triển
kinh tế – xã hội của đảng bộ thị xã Móng Cái từ 1991 –
26
2006
2.1. Đảng bộ Thị xã Móng Cái lãnh đạo phát triển kinh tế – xã
hội trong những năm 1991 – 1996…………………………
26
2.2. Đảng bộ Thị xã Móng Cái lãnh đạo phát triển kinh tế – xã
hội theo hướng CNH, HĐH (1996 – 2006)…………………
38
Chương 3. Kết quả và kinh nghiệm về sự lãnh đạo phát triển kinh
tế xã hội của Đảng bộ Thị xã Móng Cái………………
3.1. Thành tựu và hạn chế chủ yếu …………………………
81
81
đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối
đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị – xã hội ổn định.
Quốc phòng và an ninh ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc
tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp quốc gia đã tăng lên rất nhiều,
tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp ”
[8,tr.67-68].
Đó là thắng lợi mang tính bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển
của đất nước trên con đường đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó
thể hiện trên thực tế sự đóng góp tích cực của tất cả các Đảng bộ và nhân dân
các địa phương trong cả nước, đã vận dụng đường lối đổi mới của Đảng một
cách linh hoạt sáng tạo, góp phần đưa nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng.
Hơn nữa, sự nghiệp đổi mới do Đảng đề xướng lại xuất phát từ sự đòi
hỏi bức thiết ở cơ sở, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Vì lẽ đó mà
khi đường lối đổi mới của Đảng ra đời đã được tất cả các địa phương, cơ sở
chấp nhận một cách nhanh chóng, chỉ trong một thời gian ngắn đã phát huy
hiệu quả và đi vào cuộc sống, tạo thành một phong trào cách mạng rộng lớn,
sâu sắc.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, chúng ta còn nhiều khó
khăn, phức tạp, đất nước còn trong tình trạng một nước nghèo, kinh tế, khoa
học kỹ thuật kém phát triển. ở nhiều địa phương đời sống của nhân dân còn
rất thấp. Cơ chế, trình độ quản lý kinh tế – xã hội còn lỏng lẻo, những tiềm
năng, thế mạnh của địa phương chưa được phát huy, đã ảnh hưởng trực tiếp
đến công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việc nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm lịch sử ở các Đảng bộ huyện,
thị trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng trên lĩnh vực kinh tế –
xã hội giai đoạn 1986 – 2006 có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn.
Đó là: khẳng định sự đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng và những bài học
kinh nghiệm quý báu của các Đảng bộ trong việc tổ chức, lãnh đạo phong trào
nhanh sự phát triển kinh tế, khẳng định trong thực tế chủ trương của Đảng
trong đổi mới là hoàn toàn đúng đắn.
Ngoài ra, đã có không ít các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã bảo vệ
đề cập đến sự phát triển kinh tế – xã hội dưới góc độ khoa học kinh tế hoặc
Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử
Đảng ở phạm vi cả nước hoặc ở một địa phương cụ thể, như: Đào Trọng
Độ(2007), “Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
(1986-2000)”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà
Nội; Nguyễn Thị Anh(2006), “Đảng bộ huyện An Dương (Hải Phòng) lãnh
đạo phát triển kinh tế thời kỳ 1986 – 2005”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử,
Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội; Lương Thị Yên(2005), “Đảng bộ
Lục Yên (Yên Bái) lãnh đạo phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới 1986 – 2004”,
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội; Ngô Thị
Lan Phương(2007), “Quan hệ thương mại Việt – Trung trên địa bàn Quảng
Ninh giai đoạn 1991 – 2005”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường
ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội.
Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào tổng kết một cách có hệ
thống và toàn diện quá trình Đảng bộ Thị xã Móng Cái lãnh đạo phát triển
kinh tế – xã hội trên địa bàn thị xã.
Trong tình hình đó, luận văn sẽ là sự đóng góp nhỏ của tác giả nhằm
làm rõ thêm, sáng tỏ hơn những chuyển biến trong việc hoạch định chính sách
phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới của tỉnh Quảng Ninh nói chung
và Thị xã Móng Cái nói riêng.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trình bày quá trình Đảng bộ Thị xã Móng Cái lãnh đạo phát
Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
* Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
phát triển kinh tế – xã hội, CNH,HĐH đất nước trong thời kỳ đổi mới.
* Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận sử học mac – xit, phương pháp nghiên
cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp lịch sử, logic để làm rõ quá trình
Đảng bộ địa phương lãnh đạo trên lĩnh vực kinh tế – xã hội .
- Luận văn có sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, lập bảng để
trình bày kết quả nghiên cứu làm rõ nội dung trên.
* Nguồn tư liệu
- Nguồn tài liệu thành văn:
+ Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội IX.
+ Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ 1991 – 2006.
+ Văn kiện của Đảng bộ Thị xã Móng Cái từ 1991 – 2006.
+ Các báo cáo của HĐND và UBND Thị xã Móng Cái.
+ Niên giám thống kê hàng năm của TƯ và địa phương
+ Báo cáo của các cơ quan ban ngành trong tỉnh
+ Kết quả nghiên cứu của những công trình liên quan
- Nguồn tài liệu khảo sát thực tế: bao gồm kết quả đã thu được qua điều
tra xã hội học và điền dã thực tế.
6.
Đóng góp của luận văn
ra với sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Móng Cái.
Chương 2: Chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện phát triển kinh tế
– xã hội của đảng bộ thị xã Móng Cái từ 1991 – 2006.
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm về sự lãnh đạo phát triển kinh tế
xã hội của Đảng bộ Thị xã Móng Cái.
Chương 1
Đặc điểm tình hình thị xã Móng Cái và những yêu cầu
đặt ra với sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Móng Cái.
1.1.
Đặc điểm tình hình thị xã Móng Cái.
Múng Cỏi là thị xó địa đầu phớa Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, cũng
là địa đầu phớa Đông Bắc Việt Nam, cú 70 km đường biờn giới trờn bộ tiếp
giỏp với tỉnh Quảng Tõy, Trung Quốc. Phớa Đông giỏp Vịnh Bắc Bộ, phớa
Tõy giỏp huyện Hải Hà, phớa Nam giỏp huyện Cụ Tụ và phớa Bắc giỏp biờn
giới Việt Nam – Trung Quốc.
Thị xó Múng Cỏi hiện nay cú diện tớch đất tự nhiờn là 518,278 km2,
trải rộng từ 107o10’ đến 108o05’ kinh độ Đông và từ 21o10’ đến 21o40’ vĩ độ
Bắc. 85% diện tớch của thị xó là đất liền, trong đó 71% diện tớch tự nhiờn là
đồi và nỳi xen kẽ giữa cỏc thung lũng, sụng suối, bói biển, thấp dần từ bắc tới
nam. Xó vựng cao Hải Sơn cú dóy Pan Nai với đỉnh cao nhất là 710 m. 15%
diện tớch của thị xó là đảo đó tạo thành nhiều cửa đầm, vũng, bói, thuận lợi
cho việc nuụi trồng và đánh bắt hải sản. Đảo Vĩnh Thực (3500 ha) là một dóy
nỳi chạy dài gần 20 km từ đông sang tõy, cỏch đất liền trờn 2km tạo thành
vịnh lớn, đỉnh cao nhất là 170m. Tổng dõn số thị xó năm 2006 là gần 8 vạn
người gồm 5 dõn tộc anh em: Kinh, Dao, Tày, Sỏn Chay và Hoa. Mật độ dân
số trung bỡnh đạt 154 người/km2.
[1,tr.56]. “Ngày 30-10-1963, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hũa
khúa II, kỳ họp thứ 7 đó phờ chuẩn việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng
Quảng thành một đơn vị hành chính mới lấy tên là tỉnh Quảng Ninh”
[1,tr.160]. Ngày 2-7-1964, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 106-CP đổi
thị xó Múng Cỏi thành thị trấn Múng Cỏi thuộc huyện Múng Cỏi.
“Ngày 18-01-1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 22-CP đổi
tên huyện Móng Cái thành huyện Hải Ninh” [1,tr.257]. Ngày 28-5-1991, Bộ
trưởng – Trưởng ban Ban tổ chức Chính phủ ra Quyết định số 284/TCCP đổi
tên thị trấn Hải Ninh thành thị trấn Móng Cái, thị trấn Móng Cái là huyện lỵ
huyện Hải Ninh. Ngày 20-7-1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số
52/1998/NĐ-CP tái lập thị xó Múng Cỏi (trờn cơ sở toàn bộ diện tích và dân
số của huyện Hải Ninh cũ) thuộc tỉnh Quảng Ninh bao gồm 5 phường: Hũa
Lạc, Trần Phỳ, Ka Long, Ninh Dương, Trà Cổ và 11 xó: Quảng Nghĩa, Hải
Tiến, Hải Đông, Hải Yên, Hải Hũa, Hải Xuõn, Vạn Ninh, Hải Sơn, Bỡnh
Ngọc, Vĩnh Trung và Vĩnh Thực.
Là một vùng đất biên giới nơi địa đầu của Tổ quốc, gắn với những
trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong việc đấu tranh bảo vệ chủ
quyền lónh thổ nờn Múng Cỏi cú bề dày truyền thống chống giặc ngoại xõm.
Thị xó Múng Cỏi là địa bàn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế,
chính trị và an ninh, quốc phũng. Trải qua cỏc thời kỳ lịch sử của dõn tộc, tất
cả lực lượng xâm lược nước ta đều coi Móng Cái là một trong những mục tiêu
quan trọng hàng đầu.
Với vị trớ cửa ngừ tuyến đầu vùng Đông Bắc Tổ quốc, thị xó Múng Cỏi
đó từng ghi dấu ấn nhiều chiến cụng giữ nước oanh liệt của dân tộc. Vào thế
kỷ XI, Lý Thường Kiệt từ Móng Cái chủ động tiến công diệt giặc Tống ở
châu Khâm, châu Liêm, người dân nơi đây đó tham gia vào đạo quân diệt giặc
Tống. Thế kỷ thứ XIII, vào năm 1287 cánh quân thủy của quân Nguyên –
Mông từ Khâm Châu tiến theo đường biển vào xâm lược nước ta khi đi qua
trong đất liền nên sử cũ mệnh danh là Đông Kênh, là con đường giao thông
ven biển lý tưởng. Lúc thuận gió đi một mạch từ Khâm Châu đến Vân Đồn
chỉ mất 3 ngày. Đây chính là con đường mà thuyền buôn Trung Quốc mỗi khi
vào nước ta buôn bán thường đi qua, cũng chính là con đường mà các đạo
thủy quân phương Bắc như Nam Hán, Tống và Nguyên Mông đó tiến vào
xõm lược nước ta những năm 938, 981, 1288. Di chỉ Thoi Giếng (xó Vạn
Ninh) là một trong những di tích nổi tiếng thương cảng thời Trần. Vào thế kỷ
XII, sau khi thành lập thương cảng Vân Đồn, vua Lý Anh Tụng lập bến Vạn
Ninh (thuộc thôn Đông xó Vạn Ninh ngày nay). Bến này nhỏ hơn bến Vân
Đồn nhưng là bến cảng đầu cầu, thuyền buôn nước ngoài (chủ yếu là Trung
Quốc) muốn vào Vân Đồn phải ghé qua Vạn Ninh. Vỡ vậy, Vạn Ninh sớm trở
thành phố chợ đông vui, trên bến dưới thuyền. Từ đó, một số ngành nghề
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng khá phát triển và rất đa dạng. Xưa có
nghề gốm với 16 lũ bỏt, 2 lũ chum. Cỏc mặt hàng gốm sứ Múng Cỏi nổi tiếng
một thời, buụn bỏn khắp miền Bắc. Nghề dệt lụa thủ công và dệt vải khổ rộng
(vải cạp xá), dệt màn, cơ khí, làm muối… Nghề đóng, sửa chữa tàu thuyền
cánh dơi đi biển với đội thuyền vận tải hàng nghỡn tấn phương tiện đi khắp
mọi miền đất nước. Trong kháng chiến chống Mỹ là một trong những lực
lượng tham gia vận chuyển vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam.
Với hệ thống đường giao thụng thủy bộ đa dạng. Về đường thủy, với
50km bờ biển, Móng Cái có cảng Vạn Gia có thể đón tàu trên 1 vạn tấn. Các
cảng Thọ Xuân, Núi Dỏ, Cồn Rắn, bến Mũi Ngọc, Dân Tiến và hệ thống các
cảng thủy nội địa dọc sông Ka Long đủ điều kiện để bốc xếp, vận chuyển
hàng hóa. Tuyến tàu cao tốc cánh ngầm Móng Cái – Hạ Long, Móng Cái –
Hải Phũng thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa nhanh chóng. Về
đường bộ, quốc lộ 18A từ thành phố Hạ Long ra Móng Cái đó được trải nhựa.
Hiện nay, Chính phủ phê duyệt dự án xây dựng đường cao tốc ven biển đoạn
Vân Đồn – Móng Cái; quốc lộ 18A từ Hạ Long ra Móng Cái được tỉnh đầu tư
Không những thế ngoài tiềm năng lớn về phát triển thương mại, Móng
Cái cũn nhiều tiềm năng đa dạng có thể khai thác như: kinh tế biển, khai thác
đất đai, tài nguyên khoáng sản để phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp.
Về tài nguyên biển, Móng Cái có vùng ven biển rộng, nhiều ngư
trường, bờ biển dài 50km có diện tích bói triều lớn, rất thuận lợi cho việc phỏt
triển nghề khai thỏc và nuụi trồng thủy hải sản. Trữ lượng có khả năng khai
thác từ 6 – 7 ngàn tấn/năm, nhưng hiện nay mức độ khai thỏc cũn thấp. Nếu
được đầu tư phương tiện đánh bắt ngoài khơi và tổ chức nuôi thâm canh sản
lượng thủy hải sản của Móng Cái có thể tăng lên gấp nhiều lần để cung cấp
cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Về đất đai, thị xó Múng Cỏi cú nhiều tiềm năng về đất đai, khí hậu,
nhân dân cần cù lao động với tổng diện tích đất trồng trọt trên địa bàn thị xó
đạt 7000 ha với hơn 13.000 hộ nông nghiệp, gần 60.000 nhân khẩu chiếm
75% dân số. Với diện tớch 520Km2, dân số trên 8 vạn người, mật độ dân số
trung bỡnh đạt 154 người/km2 thỡ tiềm năng về đất sản xuất cũn rất lớn. Thị
xó Múng Cỏi cú địa hỡnh phớa bắc là đồi núi trung du, phía đông là đồng
bằng và có địa hỡnh thoải dần ra biển, cú hệ thống hồ nước ngọt với trữ lượng
nước rất lớn. Là một vùng đất gần biển, khí hậu khá ôn hoà so với các địa
phương khác, Móng Cái là khu vực ít chịu ảnh hưởng của thiên tai. Đây là
những yếu tố rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế
trang trại. Với tiềm năng về đất đai, khí hậu chúng ta có thể trồng nhiều loại
cây có giá trị và cho năng suất cao, giúp nhân dân thoát khỏi đói nghèo và
vươn lên làm giàu. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của lĩnh vực
thương mại – du lịch – dịch vụ, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng không
ngừng được quan tâm, tạo được sự chuyển biến tích cực về cơ cấu sản xuất và
giá trị sản phẩm nông nghiệp.
là trong tiến trỡnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay. Đây là thời cơ vận hội
kích cầu nền sản xuất ngư nghiệp của Thị xó Múng Cỏi phỏt triển. Bên cạnh
đó, Móng Cái tiếp giáp với vùng biển có rất nhiều tiềm năng về thuỷ sản, rất
thuận lợi để phát triển nghề đánh bắt xa bờ.
Trước tiềm năng, thế mạnh trong sản xuất ngư nghiệp, nhu cầu của thị
trường tại chỗ và thị trường xuất khẩu, trong những năm gần đây phong trào
nuụi trồng thuỷ sản trong nhõn dõn phỏt triển mạnh mẽ cả về quy mụ và
chủng loại nuụi.
Về khoáng sản, tuy trữ lượng không lớn nhưng có nhiều loại như: Đất
sét, cao lanh làm sành sứ, gạch ngói, đá hoa cương ở Lộc Phủ, Titan ở Bỡnh
Ngọc, Trà Cổ, cỏt đá sỏi phân bố ở nhiều nơi có khả năng khai thác phục vụ
phát triển một số ngành công nghiệp.
Về du lịch và nhân văn, Móng Cái được thiên nhiên ưu đói với nhiều
danh lam, thắng cảnh nổi tiếng, cú bề dày lịch sử và nền văn hoá đặc thù của
địa phương, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi
cho ngành du lịch, dịch vụ du lịch của Móng Cái phát triển: khu du lịch Trà
Cổ - Bỡnh Ngọc, bói cỏt trắng rộng, thoải, mụi trường trong lành, hệ sinh thái
đa dạng cũn khỏ hoang sơ rất thích hợp để phỏt triển du lịch biển. Hiện nay
bói tắm Trà Cổ được đánh giá là một bói tắm đẹp trong cả nước; có đảo Vĩnh
Trung - Vĩnh Thực với tiềm năng du lịch biển chưa được khai thác; có diện
tích rất lớn hệ thống rừng ngập mặn, rừng phũng hộ đầu nguồn, các hồ, đập
có cảnh quan rất đẹp như: Tràng Vinh, Quất Đông... rất thích hợp để phát
triển du lịch sinh thái. Trên địa bàn Thị xó cũn nhiều chựa triền: ở phường Trà
Cổ cũn cú ngụi đỡnh lớn khởi dựng năm 1550, một công trỡnh kiến trỳc và
điêu khắc tiêu biểu cho nghệ thuật thời Lờ cũn khỏ nguyờn vẹn, đỡnh Trà Cổ
đó được Bộ văn hoá xếp hạng (Quyết định số 15 VH/ ngày 13/3/1974). éầu
năm 1999, Móng Cái có thêm hai kiến trúc nghệ thuật được xếp hạng (Quyết
định số 02- Qé/ BVHTT ngày 26/1/1999) đó là: chùa Nam Thọ cũng ở
giới kinh tế nụng nghiệp mang tớnh tự tỳc tự cấp, cơ sở hạ tầng thấp kém, cơ
cấu kinh tế nông lâm – ngư nghiệp là chủ yếu (85%), công nghiệp – tiểu thủ
công nghiệp nhỏ bé, manh mún; Tổng thu ngân sách hàng năm chỉ vài tỉ
đồng, thu không đủ chi, phần lớn dựa vào sự bao cấp của Trung ương và của
Tỉnh, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn…
Trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, và nhất là từ khi thực
hiện chủ trương mở cửa biên giới (tháng 2/1989) đến nay, Đảng bộ, quân và
dân thị xó Múng Cỏi từng bước vượt lên khó khăn, chớp đúng thời cơ, tập
trung sức mạnh, khai thác được tiềm năng thế mạnh về địa lý và vận dụng
triệt để các cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là từ khi được áp
dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩu theo Quyết định
675/TTg ngày 18/9/1996 và chính thức theo Quyết định 53/2001/QĐ-TTg
ngày 19/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Móng Cái có những bước phát
triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – xó hội, quốc phũng, an ninh.
Thị xó Múng Cỏi từ một địa phương nghèo nay trở thành một vùng kinh tế
phát triển năng động với cơ cấu kinh tế được thay đổi cơ bản từ chỗ nông –
lâm – ngư nghiệp chiếm tới 80% tỷ trọng trong GDP trước năm 1989, chuyển
dịch sang thương mại - du lịch - dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp, trong
đó tỷ trọng thương mại – du lịch – dịch vụ chiếm trên 70%. Tốc độ tăng
trưởng duy trỡ cao, bỡnh quõn hàng năm trên 16%. Hoạt động lĩnh vực
thương mại luôn được duy trỡ tốc độ tăng trưởng. Tổng kim ngạch hàng hoá
qua cửa khẩu tăng bỡnh quõn hàng năm, năm cao nhất là 52,4%. Giá trị XNK
năm 2001 - 2005 đạt 3.698,4 triệu USD, năm 2005 so với năm 2000 bằng
274,3% và trong năm 2006 đạt hơn 2,11 tỷ USD.
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu và kinh tế khu vực sẽ mở ra
nhiều cơ hội cho sự phát triển của các ngành kinh tế, đặc biệt là ngành
Thương mại. Việt Nam tham gia hiệp định ưu đói thuế quan (AFTA) và Diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thỏi Bỡnh Dương (APEC), gia nhập WTO đó mở
doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư với giá trị đầu tư đó đạt con số
hàng ngàn tỷ đồng.
Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thị trường
nội địa được quan tâm đầu tư mạnh mẽ, có chiều sâu đó tạo một sức hỳt lớn
đối với các thương nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là các thương nhân
Trung Quốc.
Cơ sở hạ tầng cho phát triển thương mại dịch vụ tiếp tục được đầu tư
toàn diện, đặc biệt là việc triển khai dự án xây dựng nâng cấp cảng biển Vạn
Gia, cầu cảng Dõn Tiến và chủ trương xây dựng cầu Bắc Luân 2 sẽ là động
lực mang tính chất đũn bẩy thu hỳt cỏc doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất
nhập khẩu.
Hoạt động thương mại thúc đẩy dịch vụ phát triển và ngược lại. Do
nắm bắt được quy luật phát triển của thị trường, trong những năm qua Móng
Cái đó, đang và sẽ tiếp tục được đầu tư, khuyến khích nhằm phát triển các
khu, cụm công nghiệp, dịch vụ tập trung (bốc xếp dỡ hàng hoá, kho, cảng...)
để hỗ trợ các hoạt động thương mại xuất nhập khẩu. Nắm bắt được thời cơ và
nhu cầu thị trường Trung Quốc, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài Tỉnh đó
đến Thị xó Múng Cỏi đầu tư kho ngoại quan để kinh doanh dịch vụ xuất nhập
khẩu; nhiều doanh nghiệp đó đầu tư sản xuất các dự án gia công, sơ chế các
mặt hàng để xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc hoặc hàng hóa từ Trung
Quốc đi vào thị trường Việt Nam và các nước ASEAN. Năm 2006 trên địa
bàn thị xó cú 4.899 hộ kinh doanh cỏ thể; 258 doanh nghiệp và thu hỳt được
25 dự án đầu tư nước ngoài đó được cấp phép với tổng số vốn là 181,19 triệu
USD, trong đó một số liên doanh lớn như công ty liên doanh Hải Ninh-Lợi
Lai, Vĩnh Thuận, tập đoàn Vinh Cơ, Hồng Vận…
Về thị trường nội địa: Toàn Thị xó cú 15 chợ với tổng diện tớch sử
dụng 39.560 m2, vốn đầu tư 207.346 triệu đồng. Trong đó chợ trung tâm
Móng Cái trên 83.000 triệu đồng. Tổng số hộ kinh doanh là 3.763 hộ, trong