ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ ANH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ ANH
Tác giả luận án Nguyễn Thị Anh 1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN
NĂM 2000 23
1.1. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế biển
và chủ trƣơng của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong những năm
1996 - 2000 23
1.1.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng
bộ thành phố Hải Phòng 23
1.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong
3.1.1. Về ưu điểm 104
3.1.2. Về hạn chế và nguyên nhân 117
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu 126
3.2.1. Nhận thức đúng về vị trí, vai trò kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội
của thành phố Hải Phòng 126
3.2.2. Lãnh đạo phát triển kinh tế biển toàn diện, song xác định đúng lĩnh vực
trọng tâm, trọng điểm 127
3.2.3. Chú trọng kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh
và bảo vệ tài nguyên, môi trường 129
3.2.4. Đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương 130
3.2.5. Mở rộng quan hệ hợp tác trong phát triển kinh tế biển 131
Tiểu kết chƣơng 3 132
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
PHỤ LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BC/KT Báo cáo/Kinh tế
BCH TW Ban chấp hành trung ương
CNH, HDH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CT/TU Chỉ thị/Thành ủy
CT/TW Chỉ thị/ Trung ương
CT/UB Chỉ thị/Ủy ban
CTr/UBND Chương trình/Ủy ban nhân dân
CV Mã lực (đơn vị đo công suất tàu biển)
bước đột phá phát triển mang tầm quốc tế hầu như đều bắt nguồn từ những quốc gia
có biển, điển hình như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Singapore hay Trung Quốc. Vì vậy,
vươn ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển đã trở thành mục tiêu hành động
mang tính chiến lược của nhiều quốc gia.
Việt Nam là một quốc gia có biển, bao đời nay biển luôn gắn bó mật thiết
với hoạt động của con người Việt Nam. Với vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi, nguồn
tài nguyên thiên nhiên phong phú, vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam có những
tiềm năng nổi bật như: Dầu khí, khoáng sản, hải sản, cảng biển và du lịch…Từ thập
kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam thực hiện phương châm hướng mạnh ra biển để
tăng tiềm lực kinh tế của mình. Đặc biệt, Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020,
nêu rõ: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển,
đảm bảo vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần quan
trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh”
[5, tr. 33]. Từ đây, vấn đề đẩy mạnh khai thác tiềm năng, lợi thế vùng biển, ven
biển, tạo thế và lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển đảo
Tổ quốc trở thành nhiệm vụ cấp bách.
Hải Phòng, một địa phương với nhiều lợi thế về biển, có 125 km đường bờ
biển, thuận lợi cho việc giao lưu, hợp tác trong nước và quốc tế; có cảng Hải Phòng,
một trong những cảng biển lớn nhất khu vực phía Bắc, tồn tại hơn một trăm năm; là
trung tâm kinh tế lớn với các ngành công nghiệp cơ khí đóng tàu, chế biến thuỷ hải
sản, dịch vụ cảng biển ; có đảo Bạch Long Vĩ là bàn đạp quan trọng để vươn ra
biển lớn. Từ xa xưa, biển và các lĩnh vực kinh tế liên quan đến biển là nơi tạo ra
việc làm, đảm bảo thu nhập cho một phần lớn người dân thành phố. Chính các lĩnh 5
vực kinh tế này đã tạo nên nét đặc trưng của kinh tế Hải Phòng - kinh tế biển. Bởi
vậy, phát triển kinh tế biển luôn là một định hướng quan trọng trong quá trình lãnh
đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ thành phố. Thời kỳ 1996 - 2010, với
quan điểm “kinh tế biển là kinh tế động lực, là nhân tố cơ bản tạo sự chuyển biến
Phân tích làm rõ những nhân tố ảnh hưởng, chi phối đến quá trình Đảng bộ
thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010.
Phân tích chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải
Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
Trình bày quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng chỉ đạo thực hiện phát
triển kinh tế biển trên các lĩnh vực từ năm 1996 đến năm 2010.
Nhận xét những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm lịch sử từ
quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996
đến năm 2010.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế biển của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung khoa học: Kinh tế biển là một khái niệm rộng, đến nay chưa có
một quan điểm thống nhất hoàn toàn nội dung, mỗi quốc gia có cách nhìn nhận riêng
phụ thuộc vào sự đóng góp của ngành này đối với nền kinh tế quốc dân. Dựa trên
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hải Phòng và thực tiễn
phát triển kinh tế biển Hải Phòng, luận án nghiên cứu những chủ trương cơ bản,
chính sách, biện pháp quan trọng của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đề ra nhằm phát
triển kinh tế biển trên các ngành Kinh tế hàng hải (cảng biển - dịch vụ cảng, vận tải
biển); công nghiệp đóng tàu (công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển); kinh tế thủy
sản (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến hải sản); du lịch biển; phát triển các khu kinh tế,
khu công nghiệp, đô thị ven biển và kinh tế đảo.
Về không gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi thành phố Hải Phòng
(bao gồm toàn bộ dải đất liền, các huyện đảo và diện tích biển thuộc Hải Phòng trong
mối quan hệ tương tác giữa biển và lục địa).
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng
lãnh đạo phát triển kinh tế biển trong khoảng thời gian từ năm 1996 (mốc đánh dấu
Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XI) đến năm 2010 (Đại hội Đảng bộ
Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển; sử dụng trong khái
quát tiến trình chỉ đạo thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ
thành phố Hải Phòng trong từng chương, tiết. Đặc biệt được sử dụng chủ yếu trong
chương 3, để khái quát, tổng kết lịch sử về ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm 8
rút ra từ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ
năm 1996 đến năm 2010.
Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
được kết hợp sử dụng ở các chương để làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
kinh tế biển của Đảng bộ thành phố trong từng giai đoạn lịch sử; những thành quả
đạt được, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, nguyên nhân hạn chế và rút ra
những kinh nghiệm lịch sử trong quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo,
chỉ đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010.
5. Đóng góp của luận án
Thứ nhất, luận án phân tích làm rõ các nhân tố ảnh hưởng, chi phối sự lãnh
đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế biển; chỉ ra những
yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế biển Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
Thứ hai, khái quát và hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương về phát triển
kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
Thứ ba, phục dựng lại quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng những năm 1996 - 2010 với cả ưu điểm, hạn chế; rút ra
những kinh nghiệm lịch sử, góp phần bổ sung căn cứ lý luận và thực tiễn cho công
cuộc đẩy mạnh phát triển kinh tế biển Hải Phòng và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ tư, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy lịch sử Hải Phòng, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, cung cấp những luận cứ
khoa học có thể tham khảo để bổ sung chính sách phát triển kinh tế biển ở Hải Phòng.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu; Tổng quan tình hình nghiên cứu; Danh mục công
mạnh, cùng một mạng lưới các căn cứ địa vững chắc trên biển [72]. Sách của
Mahan đã có ảnh hưởng lớn tới chính sách ngoại giao và mô hình phát triển kinh
tế biển ở các quốc gia có biển trong thời gian vừa qua.
Các học giả trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu như: Lịch sử
kinh tế của các nước đảo trên thế giới của Thế Đạt (Nhà xuất bản Lao động, năm
1998); Chiến lược phát triển kinh tế ven biển Trung Quốc (Viện nghiên cứu khoa
học thị trường giá cả Hà Nội, năm 1991) và Thẩm Quyến thần kỳ - Hiện đại hóa -
quốc tế hóa (Nhà xuất bản Thế giới, năm 2008) của Đoàn Văn Trường; Thông tin
Chuyên đề số 8 về Chiến lược và mô hình quản lý biển của một số nước của Văn
phòng Trung ương Đảng Xét một cách khái quát, các công trình nêu trên đều nhấn
mạnh, biển là nơi đem lại tiềm lực tài chính, sức mạnh quân sự, ngoại giao của các 10
quốc gia có biển, điển hình như: Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Bởi
vậy, các nước đều có chính sách phát triển mạnh các ngành nghề biển, đặc biệt là
ngoại thương; đẩy mạnh khai thác vùng biển quốc tế, làm cho quốc gia năng động
hơn trên đại dương bằng việc xây dựng lực lượng hải quân với trang thiết bị hiện
đại, đẩy mạnh phát triển khoa học biển và xây dựng chính sách quản lý nghiêm ngặt
vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia mình. Mô hình phát triển kinh tế và quản lý
biển của các quốc gia để lại nhiều kinh nghiệm sâu sắc cho những nước đang trên
đường vươn ra biển lớn như Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu về Biển Đông; vị trí, vai trò của Biển Đông
đối với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trong những năm gần đây, Biển Đông và các vấn đề liên quan đến Biển
Đông trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều nhà chiến
lược, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố như: Biển Đông hướng tới một
khu vực hòa bình, an ninh, hợp tác (Nhà xuất bản thế giới, năm 2011); Tranh
chấp biển Đông: Luật pháp, địa chính trị và hợp tác quốc tế (Nhà xuất bản thế
giới, năm 2012) của Đặng Đình Quý; Biển Đông yêu dấu của Trần Ngọc Toản
giả Thế Đạt (Nhà xuất bản Lao động, năm 2008), công trình khoa học giới thiệu
toàn cảnh môi trường phức hệ sinh thái - kinh tế các tỉnh vùng ven biển Việt Nam,
từ các tỉnh thành phố vùng biển phía Đông Bắc Tổ quốc như Quảng Ninh, Hải
Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình đến các tỉnh, thành phố vùng biển Nam
Bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc
Liêu, Cà Mau…Đặc biệt, tác giả đã khái quát và khẳng định một đặc điểm nổi bật
của nền kinh tế các tỉnh vùng ven biển Việt Nam đó là kinh tế biển, phát triển kinh
tế gắn liền với phát huy lợi thế về biển.
PGS Lê Cao Đoàn là tác giả của cuốn sách tham khảo Đổi mới và phát triển
kinh tế vùng ven biển (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 1999). Bằng những tài
liệu phong phú về địa lý, môi trường tự nhiên và lịch sử kinh tế - xã hội, dưới góc độ
kinh tế học phát triển, tác giả đã đặt vấn đề phải đổi mới phát triển kinh tế ở vùng
nước lợ ven biển Thái Bình. Theo PGS Lê Cao Đoàn, Thái Bình là một tỉnh thuộc
đồng bằng châu thổ sông Hồng, đặc trưng cho tiến trình nông nghiệp lúa nước truyền
thống. Về mặt lịch sử, đây cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc khai hoang lấn biển trong
quá khứ nhằm mục đích nuôi trồng và kinh doanh hải sản. Vì vậy, công trình nghiên
cứu đã tập trung phân tích và làm rõ: 1- Đặc điểm và tiềm năng phát triển kinh tế - xã
hội vùng ven biển Thái Bình; 2- Kinh nghiệm thành công của các cuộc khai hoang,
lấn biển trong lịch sử; 3- Cơ sở lý luận đổi mới trong lĩnh vực khai hoang lấn biển ở 12
vùng nước lợ và những kiến nghị về chính sách kinh tế - xã hội nhằm biến vùng kinh
tế ven biển thành một vùng kinh doanh phát triển bền vững.
Kể từ sau khi Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
được thông qua, nghiên cứu về Chiến lược biển Việt Nam và việc đề xuất những
phương hướng, giải pháp để thực hiện Chiến lược biển có hiệu quả là vấn đề được
đề cập đến trong nhiều bài viết của các nhà khoa học. Tác giả Lê Nguyên có bài
Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam (Tạp chí thương mại (13), năm 2007);
tác giả Bùi Tất Thắng viết Về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam (Tạp chí
phá phát triển du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam của Lê Trọng Bình (Tổng cục
Du lịch Việt Nam, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, năm 2007); Tài nguyên du lịch
của Bùi Hải Yến - Phạm Hồng Long (Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2009); Phát triển
du lịch Việt Nam trong tình hình mới của Võ Thị Thắng (Tạp chí Cộng sản (727),
năm 2005); Vị trí, vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân của Trung
tâm Khoa học Công nghệ - Thủy sản; Đánh giá hiện trạng phát triển bền vững ngành
thủy sản Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Huy Cường - Đoàn Văn Phụ (Hội thảo
khoa học, Đồ Sơn - Hải Phòng, năm 2006); Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản
và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam
của Đào Mạnh Sơn (Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, năm 2005); Cơ sở khoa học
cho vấn đề quản lý hoạt động nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ của Phạm Thược (Nhà xuất bản
Nông nghiệp Hà Nội, năm 2005); Kinh tế vận tải biển của Vương Toàn Thuyên (Nhà
xuất bản Hải Phòng, năm 1997); Đề xuất xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần cảng
biển tại khu vực cảng biển Hải Phòng của Đặng Công Xưởng (Tạp chí khoa học
công nghệ hàng hải (28), năm 2011)…Trên cơ sở phân tích tiềm năng phát triển kinh
tế của vùng biển và ven biển Việt Nam; hiện trạng phát triển các ngành kinh tế biển
trong thời kỳ CNH, HĐH; vai trò của các ngành kinh tế biển; những thành tựu, hạn chế
trong phát triển các ngành kinh tế biển, từ đó các tác giả đã đề xuất những phương
hướng, giải pháp cơ bản cho sự phát triển phát triển bền vững. Do nghiên cứu dưới góc
độ kinh tế học nên trong các công trình trên, tuy có đề cập đến quan điểm, chủ trương,
định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển một số ngành kinh tế biển,
nhưng ở mức độ rất khái quát.
1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp
Những công trình nghiên cứu sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng
Hải Phòng trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là công trình nghiên
cứu của tác giả Đoàn Duy Thành [138]. Tác giả đã khái quát quá trình phát triển
kinh tế - xã hội Hải Phòng trong 30 năm (1955 - 1985) dưới sự lãnh đạo của Đảng 14
cho thành phố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [58, tr. 223]. Trên cơ sở 15
đó, các định hướng cơ bản để phát triển kinh tế biển được đưa ra như: 1- Cần khai
thác tổng hợp tài nguyên biển, ven biển để phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền
vững; 2- Kết hợp hài hòa giữa kinh tế ven biển, kinh tế trên biển và các hải đảo với
khu vực nội địa thành phố; 3- Kết hợp phát triển kinh tế biển, vùng ven biển với quốc
phòng, an ninh; 4- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cảng, đẩy nhanh tốc độ hiện đại
hóa đội tàu biển, phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ cảng, phấn đấu đến năm
2020, Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp đóng tàu biển lớn nhất Việt Nam;
5- Đưa thủy sản trở thành ngành sản xuất lớn hiện đại, du lịch biển trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn
Bên cạnh đó Hải Phòng - thế và lực mới trong thế kỷ XXI [119] là một cuốn
sách cung cấp cho người đọc hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, con người và sự phát
triển kinh tế - xã hội thành phố gắn liền với lịch sử phát triển hơn một trăm năm của
cảng biển Hải Phòng. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Hải Phòng đã có những
bước tiến vượt bậc trên nhiều lĩnh vực, với bốn lợi thế sẵn có: vị trí địa lý, đô thị lớn,
nguồn lợi biển và nguồn nhân lực đã tạo điều kiện cho Hải Phòng phát triển nhanh,
mạnh về kinh tế biển, công nghiệp và du lịch, thực hiện tốt vai trò trung tâm kinh tế
vùng Bắc Bộ, là cửa mở ra biển của Việt Nam.
Bài Hải Phòng vững bước đi lên của Trần Huy Năng - Phó Bí thư Thành
ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XII (2001 - 2005) [119].
Trên cơ sở đó phân tích những tiềm năng lợi thế của thành phố Hải Phòng về cảng
biển, tài nguyên du lịch biển, giao thông vận tải, nguồn nhân lực, tác giả bài viết
khẳng định: Khai thác triệt để lợi thế, vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng,
trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, thành phố đã thiết kế thành công
mô hình phát triển trong tương lai với định hướng trở thành thành phố cảng biển
quốc tế, văn minh, hiện đại và phát triển; là đô thị trung tâm cấp quốc gia, đầu mối
giao thông quan trọng cả đường biển, đường sông, đường bộ, đường sắt; là trung
dịch vụ chủ lực của Hải Phòng là công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Trần
Trung Dũng [39]. Qua quá trình nghiên cứu những đóng góp của ngành du lịch
nói chung, du lịch biển nói riêng, tác giả khẳng định: Cùng với chương trình phát
triển công nghiệp nặng, chương trình phát triển nông thôn, chương trình đầu tư
cho đánh cá xa bờ của ngành thủy sản…thì chương trình đầu tư phát triển du lịch
khởi đầu đã ảnh hưởng tốt đến tình hình kinh tế - xã hội - văn hóa và môi trường.
Điều đó chứng minh tính đúng đắn của chủ trương xác định du lịch là ngành kinh
tế mũi nhọn của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Đối với Hải Phòng - một
thành phố giàu tiềm năng du lịch như biển, hải đảo, núi rừng, hang động…đây là 17
điều kiện để phát triển du lịch lên tầm vóc mới. Trên cơ sở bài học kinh nghiệm từ
thực tiễn của thành phố và các địa phương khác, tác giả đưa ra một số phương
hướng, giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Hải Phòng, đặc biệt là du lịch biển,
đồng thời kiến nghị thành phố cần tạo điều kiện về cơ chế, chính sách và nguồn
vốn cho du lịch phát triển.
Trong bài Một số giải pháp cơ bản phát triển du lịch Cát Bà, đảm bảo vừa
khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch biển, vừa tôn tạo, bảo vệ tài nguyên, môi
trường sinh thái biển, phát triển bền vững, góp phần để Hải Phòng trở thành trung
tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ của Vũ Văn Kiền [136] – Bí thư huyện ủy
Cát Hải. Bài viết đã nêu bật những lợi thế của huyện đảo Cát Hải, một huyện nằm ở
phía Đông Nam của thành phố Hải Phòng. Với vị trí địa lý quan trọng, với tiềm
năng và lợi thế để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là du lịch và thủy sản, trong
những năm đầu thế kỷ XXI, du lịch (du lịch Cát Bà) đã có sự phát triển đột phá, góp
phần thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển. Bên cạnh thành tựu đạt được, du
lịch Cát Bà cũng đang tồn tại một số vấn đề cần được khắc phục như: du lịch còn
mang tính mùa vụ, chưa có các điểm du lịch cao cấp, các tuyến du lịch liên hoàn
nên sự thu hút khách và thời gian lưu trú của khách du lịch ngắn; công tác quản lý
bến bãi, giá cả, chất lượng phục vụ và vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập…Để
trọng nguồn tài nguyên. Từ đó, tác giả nhấn mạnh để đảm bảo sự phát triển bền
vững, cần thực hiện tốt các định hướng giải pháp phát triển thủy sản Hải Phòng đến
năm 2020 mà Đảng bộ thành phố đã đề ra như: 1-Tuyên truyền rộng rãi, thường
xuyên để người dân tự giác chấp hành các quy định của Nhà nước về bảo vệ, phát
triển nguồn lợi hải sản; 2- Xây dựng nghề khai thác hải sản có tổ chức; 3- Xây dựng
mô hình đồng quản lý giữa các cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư; 4- Thực hiện
chuyển giao công nghệ mới trong khai thác hải sản xa bờ…
Những công trình là những bài viết, bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng,
Nhà nước và thành phố chỉ đạo, định hướng phát triển kinh tế biển Hải Phòng
Bài phát biểu của Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn
Dũng tại Đại hội lần thứ XIV Đảng bộ thành phố Hải Phòng [136]. Thủ tướng
khẳng định, Hải Phòng là thành phố có vị trí rất đặc biệt về kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh của vùng Bắc Bộ và cả nước, là đầu mối giao thông quan trọng, có
nhiều khu công nghiệp, thương mại, nhiều trung tâm dịch vụ, du lịch và thủy sản.
Hải Phòng cần tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp đóng và sửa chữa tàu
biển, chế biến thủy sản, phát triển hệ thống cảng biển nước sâu, hạ tầng giao thông,
kho bãi, dịch vụ cảng, dịch vụ vận tải biển, nâng cao hiệu quả của cảng để Hải 19
Phòng phát huy tối đa vai trò thành phố cảng, cửa chính ra biển của các tỉnh phía
Bắc, thực hiện tốt chiến lược “hai hành lang, một vành đai kinh tế”. Đối với các khu
công nghiệp, cụm công nghiệp, khi lựa chọn dự án đầu tư phải xem xét về hiệu quả
kinh tế, vừa chú trọng bảo vệ môi trường; tiếp tục có giải pháp mạnh hơn nữa để
phát triển du lịch; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, bảo vệ toàn vẹn vùng
biển và hải đảo của Tổ quốc.
Trong bài Một số giải pháp chủ yếu và đột phá nhằm đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2015, Hải Phòng cơ bản trở thành thành phố
công nghiệp và dịch vụ cảng theo hướng văn minh, hiện đại của Đan Đức Hiệp - Ủy
viên Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XIV
đẩy nhanh tốc độ phát triển khách hướng chuẩn quốc tế. Kết hợp tốt hơn kinh tế với
quốc phòng trong từng ngành, từng địa bàn, từng đơn vị kinh tế biển, trước hết là
ngành du lịch, đóng tàu, đánh cá ngoài khơi
Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu để thực hiện các
nhiệm vụ trên như: Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về biển và kinh tế biển cho các
tầng lớp nhân dân thành phố; tăng cường công tác nghiên cứu cơ bản, xây dựng đầy đủ
cơ sở dữ liệu về tiềm năng, nguồn lợi, tài nguyên, khoáng sản trong lòng biển và đáy
biển; coi trọng công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, phòng chống dịch bệnh đảm
bảo phát triển bền vững; tăng chi kinh phí cho các hoạt động quảng bá, tiếp thị dịch vụ
kinh tế biển; xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư dài hạn, phù hợp với
từng ngành nghề; phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng vùng ven biển, hải đảo
1.3. Nhận xét
Qua tham khảo những cuốn sách, luận văn, luận án, các công trình, các
bài viết, bài phát biểu nêu trên, về cơ bản những nghiên cứu đã đề cập đến một số
vấn đề sau đây:
Một là, phân tích và làm rõ tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển của
Hải Phòng, Việt Nam và một số quốc gia có biển trên thế giới.
Hai là, phân tích thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam, Hải Phòng
trên một số lĩnh vực chủ yếu như: cảng biển và dịch vụ cảng, vận tải biển, công
nghiệp đóng tàu, thủy hải sản, du lịch biển…Với nhận định kinh tế biển là lĩnh vực
kinh tế đặc thù, phụ thuộc nhiều vào yếu tố nguồn lợi tự nhiên và môi trường biển,
bởi vậy, sự khai thác quá mức của con người trong thời gian dài làm cho nguồn lợi
kinh tế suy giảm, việc sử dụng các biện pháp khai thác mang tính hủy diệt làm cho
môi trường biển ô nhiễm. Từ đó, các tác giả đã đề xuất những giải pháp để khắc
phục, đảm bảo sự phát triển bền vững của các ngành nghề kinh tế biển. 21
Ba là, trên cơ sở chỉ ra những đóng góp của các ngành kinh tế biển đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng nói riêng, Việt Nam và các
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển
kinh tế biển nhưng rất khái quát hoặc ở một vài lĩnh vực nhất định chưa thành hệ
thống. Do đó, trên cơ sở nghiên cứu những công trình khoa học nêu trên, luận án đã
kế thừa được những kiến thức cơ bản, tổng quát về kinh tế biển và các lĩnh vực của
kinh tế biển, thực trạng phát triển một số ngành kinh tế biển ở Việt Nam và Hải
Phòng, một số quan điểm, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển dưới
góc độ khái quát, hoặc trên một vài lĩnh vực cơ bản.
Qua đây, có thể khẳng định chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện,
chuyên sâu, có tính logic, có hệ thống các quan điểm, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo
phát triển kinh tế biển của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm
2010. Bởi vậy, những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu là:
Hệ thống hoá các quan điểm, chủ trương lãnh đạo phát triển kinh tế biển
của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng chỉ đạo phát triển kinh tế
biển trong những năm 1996 – 2010.
Nhận xét những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, rút ra một số kinh
nghiệm chủ yếu từ thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.