luận văn thạc sĩ Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo công tác phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2005 - Pdf 13

Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo
công tác phát triển khoa học và công nghệ
từ năm 1996 đến năm 2005
H NI 2012
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
9
1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của Hải Phòng 9
1.2. Chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 1996-2000 22
1.3. Quá trình thực hiện đường lối, chính sách phát triển khoa học và
công nghệ của thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2000 41
Chương 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
54
2.1. Chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2005 54
2.2. Quá trình thực hiện đường lối, chính sách phát triển khoa học
và công nghệ của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2001 – 2005 71
2.3. Kinh nghiệm 85
KẾT LUẬN
93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
95

càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền
kinh tế và đời sống xã hội. Các nước đều có cơ hội để phát triển. Tuy nhiên do
ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước phát triển, khiến các
nước chậm phát triển và đang phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn
[19, tr.16].
Bên cạnh đó, Đại hội nêu rõ:
Phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh để thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nắm bắt các thành tựu khoa học và
công nghệ chuyển giao vào Việt Nam. Bước đầu phát triển một số lĩnh vực
công nghệ cao về điện tử, thông tin, sinh học, vật liệu mới và tự động hoá.
Nâng tỉ lệ đổi mới thiết bị trong các ngành sản xuất mỗi năm từ 10% trở lên.
Tranh thủ tối đa công nghệ tiến bộ, từng bước đưa công nghệ nước ta đạt tới
trung bình của khu vực. Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ và cải thiện môi
trường sinh thái [19, tr.37-38].
Nhận thức được vai trò to lớn của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển
của đất nước, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt
Nam đề ra nhiều Nghị quyết chuyên đề nhằm tăng cường và phát triển công
tác khoa học và công nghệ như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khoá VIII), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khoá IX)…
Hải Phòng là thành phố Cảng, là đô thị loại 1 – trung tâm cấp quốc gia. Trong
nhiều năm qua, thành phố không ngừng vươn lên phát triển về mọi lĩnh vực.
Thực hiện đường lối phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XII xác định mục tiêu phát triển của
thành phố đến năm 2010 là:
xây dựng Hải Phòng trở thành một thành phố Cảng văn minh, hiện đại,
cửa chính thông ra biển và trung tâm công nghiệp, dịch vụ, thuỷ sản ở
miền Bắc, có kinh tế, văn hoá, giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ,
cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng an ninh vững chắc, không ngừng
nâng cao đời sống nhân dân [51, tr.223].

Nội, 2002; Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2002, Hà Nội, 2003; Khoa học
và Công nghệ Việt Nam 2003, Hà Nội, 2004; Khoa học và Công nghệ Việt
Nam 2004, Hà Nội, 2005.
Nội dung cơ bản của các cuốn sách đề cập tới là những chuyển biến và thành
tựu quan trọng trong hoạt động khoa học và công nghệ từng năm. Đồng thời
trình bày một cách khái quát phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong năm
tới. Từ đó gợi mở viễn cảnh phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian
5 năm tiếp theo.
Cùng nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như: V.V. Đênixốp, Nguyễn
Duy Thông, Nguyễn Trọng Chuẩn, Cách mạng khoa học kỹ thuật và công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Tiến bộ, 1986; Đặng Ngọc Dinh,
Công nghệ năm 2000 đưa con người về đâu; Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà
Nội, 1992; Vũ Đình Cự, Khoa học và công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu,
Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1996; PTS. Danh Sơn, Quan hệ giữa phát triển
khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999.v.v…
Bên cạnh đó, đã có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về khoa học và công
nghệ, trong đó các tác giả tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng khoa học
và công nghệ đối với các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, một số
công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ
của cả nước và một số tỉnh như: Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Lợi
nghiên cứu về "Vận dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong sự phát triển
nông nghiệp nước ta", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2000; Luận văn thạc sĩ kinh tế của Cao Quang Xứng: "Tiến bộ khoa học và
công nghệ và tiến trình hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam", Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003; Luận Văn Thạc sĩ Lịch sử của
Nguyễn Văn Vinh: "Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo phát triển khoa học và
công nghệ từ 1986 đến 2002", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2003; Gần đây nhất là Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Bích
Liên nghiên cứu đề tài: "Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo phát triển khoa

- Mục tiêu:
Luận văn nghiên cứu về qúa trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo
công tác phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2005. Từ đó,
rút ra những kinh nghiệm về công tác phát triển khoa học và công nghệ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ đường lối phát triển khoa học và công nghệ của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong giai đoạn 1996 – 2000.
+ Làm rõ những chủ trương, chính sách của thành phố Hải Phòng về công tác
phát triển khoa học và công nghệ.
+ Làm rõ thực trạng khoa học và công nghệ của thành phố Hải Phòng trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
+ Phân tích những kết quả đạt được về công tác phát triển khoa học và công
nghệ do Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo.
+ Nêu lên những kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ thành phố
Hải Phòng để từ đó góp phần tăng cường, nâng cao chất lượng khoa học và
công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ
trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với công tác phát
triển khoa học và công nghệ.
+ Các đề tài nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực: khoa học xã hội và nhân
văn, khoa học tự nhiên; khoa học kỹ thuật và công nghệ ở Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình Đảng bộ thành
phố Hải Phòng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển khoa học và công nghệ trong giai
đoạn từ năm 1996 đến năm 2005.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận:
- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN 2000
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HẢI
PHÒNG
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hải Phòng là thành phố trẻ, song là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng.
Là một trung tâm công nghiệp lớn của đất nước, lại là nơi đầu sóng ngọn gió,
Hải Phòng có những đóng góp không nhỏ trong quá trình xây dựng đất nước,
đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Về vị trí địa lý:
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm ở phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ,
cách thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là 152.318,49 ha,
chiếm 0,45% diện tích tự nhiên của cả nước.
Hải Phòng nằm ở toạ độ địa lý: 20
0
30’39” – 21
0
01’15” vĩ độ Bắc và
106
0
23’39” – 107
0
08’39” kinh tuyến đông. Ranh giới hành chính Hải Phòng
giáp 3 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng. Phía Bắc
giáp Quảng Ninh – khu công nghiệp than lớn nổi tiếng của cả nước; Phía Tây
giáp Hải Dương; Phía Nam giáp Thái Bình gần 40 km theo dòng sông Hoá -
một nhánh của sông Luộc. Phía Đông là 125 km đường bờ biển chạy hướng
Đông Bắc - Tây Nam từ cửa Lạch Huyền đến cửa Thái Bình, mở rộng đón gió
Vịnh Bắc Bộ.
Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế
thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông

gần chí tuyến Bắc với đặc điểm của một thành phố đồng bằng ven biển có
nhiều hải đảo nên khí hậu Hải Phòng chịu sự chi phối trực tiếp của biển và
phân hoá thành khí hậu ven biển của vùng đất liền và khí hậu biển của vùng
đảo ngoài khơi. Riêng tại đảo Cát Bà còn có sự phân hoá tiểu khí hậu từ khu
vực bến bãi ven biển và các thung áng, núi đá vôi có rừng nguyên sinh. Nhưng
khí hậu Hải Phòng chủ yếu vẫn là nóng và ẩm, với chế độ khí hậu nhiệt đới
thuần tuý.
Do ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa, nhất là sự xâm nhập mạnh của không
khí cực đới trong mùa đông nên khí hậu Hải Phòng bị phân hoá thành hai
mùa: mùa hạ nóng và mùa đông lạnh. Tuy nhiên, gió biển thường thổi sâu vào
đất liền từ 20 đến 30 km nên ở Hải phòng ít có hiện tượng lạnh quá hoặc khô
nóng quá như các tỉnh đồng bằng và trung du khác.
* Sông Hải Phòng:
Hải Phòng có hệ thống sông phong phú, dày đặc, mật độ trung bình 0,6 – 0,8
km trên 1 km
2
. Với 16 sông chính tỏa rộng khắp địa bàn thành phố với tổng
độ dài 300 km, trong đó bao gồm sông Thái Bình, dài 35 km, Sông Cấm dài
trên 30 km, Sông Đá Bạch - Bạch Đằng, dài hơn 32 km, sông Hàn nằm ở phía
Đông Bắc huyện Thuỷ Nguyên, … Từ Phả Lại - nơi hợp lưu giữa sông Cầu,
sông Thương và sông Lục Nam (sông Thương và sông Lục Nam là nguồn của
sông Thái Bình), các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ và sông Thái
Bình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh Môn, Lạch Tray,
Kinh Thầy, Văn Úc, Đa Độ… đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính.
* Về tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản:
Do đặc điểm lịch sử địa chất Hải Phòng ít có dấu vết hoạt động macma nên
cho đến nay chưa phát hiện thấy những mỏ khoáng sản lớn ở Hải Phòng. Tuy
nhiên, cũng có một số mỏ cỡ vừa và nhỏ có giá trị phục vụ cho nhu cầu công
nghiệp địa phương.
Các loại khoáng sản kim loại: Sa khoáng ven biển là nét đặc trưng cho sắc thái

mèo rừng, nhím… đặc biệt là khỉ voọc đầu trắng sống từng đàn, là loài thú
quý hiếm trên thế giới chỉ mới thấy ở Cát Bà.
Có thể nói, với ưu thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã tạo cho mảnh
đất Hải Phòng những cơ hội phát triển thuận lợi, góp phần đưa Hải Phòng trở
thành một thành phố công nghiệp, đô thị loại I của đất nước, một cục tăng
trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc; một trọng điểm phát triển kinh tế
biển – đảo, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế và quốc phòng – an ninh.
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Hải Phòng là thành phố cảng, trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, du lịch của vùng Duyên hải Bắc bộ, cửa chính ra biển của các tỉnh
phía Bắc, đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc và cả nước, đồng thời
là một đô thị có vị trí quốc phòng trọng yếu; một trong các cực tăng trưởng
của vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Đặc biệt,
năm 2003, Hải Phòng được Chính phủ công nhận là đô thị loại 1 cấp quốc gia.
Từ đó, vị thế, vai trò của Hải Phòng tiếp tục được củng cố và nâng cao. Ngày
05/8/2003, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 32/NQ–TƯ về xây dựng và phát
triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất
nước. Đây là một văn kiện có tính cương lĩnh, định hướng bước đi của thành
phố Hải Phòng trong thế kỷ XXI.
Ngay từ đầu những năm 1990, Hải Phòng được Trung ương xác định là một
cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Nền kinh tế Hải Phòng
chuyển dịch theo hướng lấy kinh tế đối ngoại làm mũi nhọn đã vượt qua khó
khăn và có những khởi sắc về công nghiệp, nông nghiệp, đầu tư và xuất khẩu.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng được tăng cao, lạm phát được đẩy lùi.
Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh, trật tự, trị an được
đảm bảo. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được thay thế bằng cơ chế thị
trường có sự định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó,
thành phố sắp xếp lại sản xuất, đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất
và chất lượng sản phẩm; các lĩnh vực: công nghiệp nặng, công nghiệp chế
biến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được ưu tiên đầu tư. Từ năm 1996

và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Các khu công nghiệp
Nomura, Đình Vũ, cụm công nghiệp Vĩnh Niệm có nhiều chuyển biến tích
cực.
Cảng là một trong những thế mạnh của Hải Phòng được đầu tư nâng cấp, mở
rộng, sản lượng hàng hóa thông qua cảng tăng nhanh. Năm 2001 sản lượng đạt
8,75 triệu tấn, năm 2002 đạt 10,3 triệu tấn, năm 2003 đạt 10,5 triệu tấn.
Nông nghiệp, nông thôn phát triển tương đối toàn diện, các ngành chăn nuôi
và dịch vụ, giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác không ngừng tăng
nhanh. Kinh tế trang trại khá phổ triển, xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm
mới đem lại hiệu quả kinh tế cao. Một số vùng chăn nuôi rau quả được hình
thành. Hầu hết các hộ dân sống ở vùng nông thôn được sử dụng điện lưới, đời
sống văn hóa, tinh thần không ngừng nâng cao.
Kinh tế du lịch được thành phố quan tâm, đảo Cát Bà và Đồ Sơn được tăng
cường đầu tư, nâng cấp từng bước, đã trở thành trung tâm du lịch lớn. Công tác
quản lý và phát triển đô thị được tăng cường, bộ mặt đô thị Hải Phòng có sự
chuyển biến rõ rệt, công tác quy hoạch của thành phố có nhiều tiến bộ. Quản lý
và bảo vệ môi trường được tăng cường, góp phần giảm bớt tình trạng ô nhiễm và
suy thoái môi trường.
Hải Phòng có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển. Đây là lợi thế cơ
bản của Hải Phòng gồm cảng, nguồn lợi biển và du lịch. Kinh tế biển của Hải
Phòng phát triển khá toàn diện, hơn hẳn các địa phương ven biển khác ở miền
Bắc. Đặc điểm này đã, đang và sẽ là một trong những yếu tố quan trọng chi
phối định hướng phát triển khoa học và công nghệ của thành phố trên nhiều
lĩnh vực.
Công tác quản lý và phát triển đô thị có những chuyển biến rõ nét. Sự nghiệp
phát triển văn hóa – xã hội, đào tạo nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, giải
quyết việc làm, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm thực hiện
các chính sách xã hội được quan tâm. Trong 5 năm 2001 – 2005, thành phố
giải quyết cho gần 19 vạn lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống còn 5,9% vào
năm 2005. Tỉ lệ sử dụng thời gian lao động trong khu vực nông nghiệp, nông

lãnh đạo của Đảng về công tác phát triển khoa học và công nghệ, Đảng bộ
thành phố Hải Phòng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm đưa
khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, đáp ứng được những nhu cầu
bức thiết của thành phố.
1.1.3. Thực trạng khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng những
năm 1986 - 1996
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Hải Phòng bước vào thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Tháng 10/1986, Hải Phòng tiến hành Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX đề
ra phương hướng và nhiệm vụ phát triển thành phố trong thời kỳ mới, đó là
cần phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ cách nghĩ, cách làm, đổi
mới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền đối với mọi ngành, mọi
lĩnh vực. Trong đó, Đảng bộ thành phố quan tâm đến đổi mới phát triển khoa
học và công nghệ. Do đó, trong 10 năm đổi mới (1986 – 1996), khoa học và
công nghệ thành phố đã đạt được những thành tựu ban đầu:
Về khoa học xã hội và nhân văn: thành phố đã lựa chọn một số vấn đề mang
tính cấp bách, qua đó đã bước đầu đóng góp luận cứ khoa học cho việc hoạch
định một số chủ trương phát triển kinh tế – xã hội.
Công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn được tổ chức chặt chẽ, từ
năm 1986 đến năm 1996, thành phố thực hiện Chương trình xây dựng con
người mới, đồng thời tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học, trong đó tập
trung đề xuất một số mô hình, giải pháp đổi mới hoạt động trong các lĩnh vực
văn hoá - tư tưởng, quản lý nhà nước, giáo dục - đào tạo, quốc phòng an ninh,
công tác tôn giáo. Các đề tài nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực như: giáo
dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, hoạt động văn hóa, xã
hội, nghiên cứu lịch sử, giáo dục thanh, thiếu niên, phòng chống tội phạm
Năm 1986, Ủy ban khoa học và kỹ thuật (nay được đổi tên thành Sở Khoa học
và công nghệ) đã hình thành 3 tổ chuyên viên quản lý các hoạt động nghiên
cứu, triển khai khoa học và kỹ thuật, trong đó có một tổ chuyên quản lý các

động môi trường của các dự án sản xuất kinh doanh, đề ra một số chính sách,
giải pháp để kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường: Thu thập hệ thống số liệu
điều tra cũ về nguồn lợi biển và ven biển, đất, khoáng sản, điều kiện khí hậu,
thủy văn; Nghiên cứu tình hình xói lở vùng cửa sông Văn Úc; Triển khai một
phần việc xây dựng bản đồ gốc địa hình, địa chất công trình thành phố
Công tác xây dựng và phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ bước đầu
được quan tâm. Một bộ phận cán bộ khoa học công nghệ và công nhân kỹ
thuật được bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ, tin học. Hệ thống
nghiên cứu – triển khai, dịch vụ – tư vấn khoa học và công nghệ, kiểm định,
kiểm nghiệm đang dần được kiện toàn. Thông tin khoa học và công nghệ đã
góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin khoa học và công nghệ
đa dạng, đồng thời tích cực chuẩn bị xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin khoa
học và công nghệ của thành phố.
Quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ được kiện toàn về hệ thống tổ
chức và hoàn thiện một bước về cơ chế quản lý, tạo sự chuyển biến tích cực
và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong điều kiện kinh tế
thị trường.
Về quản lý tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng: Trong giai đoạn bắt đầu công
cuộc đổi mới, thành phố ở trong tình trạng khủng hoảng cho nên thị trường tự
do phát triển mạnh, các hoạt động của Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất
lượng bị ảnh hưởng nhiều, song vẫn thu được một số kết quả, đó là mở rộng
phạm vi kiểm tra đo lường sang các lĩnh vực giao nhận lớn, các điểm mua bán
vàng bạc tư nhân, các điểm bán xăng dầu, đo lường điện. Đồng thời, số sản
phẩm quản lý chất lượng sản phẩm hàng năm có từ 50 đến 80 sản phẩm, thông
qua các đợt kiểm tra các sản phẩm thuộc diện quản lý chất lượng sản phẩm
của thành phố, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng trên thị trường có
phần giảm bớt.
Về quản lý sở hữu công nghiệp, đặc biệt là về bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu
ích được duy trì. Hoạt động quản lý sáng kiến hướng vào việc nghiên cứu, phổ
biến triển khai các sáng kiến có giá trị qua tổng kết của Bộ, ngành Trung ương

bộ thành phố lần thứ 4 (khóa XI) thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
(khóa VIII) về phát triển khoa học - công nghệ thành phố đến năm 2000 ban
hành ngày 18 tháng 3 năm 1997 nêu rõ:
Nhiều cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của
khoa học – công nghệ trong quá trình xây dựng, phát triển thành phố; chưa tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác khoa học – công nghệ, việc tổ chức thực hiện
các chủ trương, chính sách về khoa học và công nghệ chưa nghiêm túc.
Đầu tư tài chính của thành phố cho khoa học – công nghệ còn thấp, chưa đạt
mức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách như Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị
(khóa VI) và Chỉ thị 33 của Ban Thường vụ Thành uỷ (khoá IX) quy định.
Những năm gần đây mức đầu tư cho khoa học – công nghệ thường dưới 1%,
năm 1996 có 0,57% tổng chi ngân sách. Các cơ sở sản xuất chưa đầu tư đúng
mức kinh phí cho nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ.
Việc tổ chức nghiên cứu và xây dựng chiến lược khoa học – công nghệ, chiến
lược bảo vệ môi trường còn chậm. Do thiếu nhiều điều kiện cơ bản như
phương pháp luận, tiền vốn, thông tin, kinh nghiệm, nên việc đánh giá, lựa
chọn, tiếp nhận chuyển giao công nghệ còn lúng túng. Vai trò giám định, phản
biện trong khoa học – công nghệ còn bị xem nhẹ.
Cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học – công nghệ chưa phù hợp,
thiếu đồng bộ. Mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng. Chưa có cơ chế khuyến
khích cán bộ khoa học, thu hút nhân tài, huy động mọi nguồn lực cho phát
triển khoa học – công nghệ.
Quản lý khoa học – công nghệ còn yếu kém. Quản lý các đề tài, chương trình
nghiên cứu khoa học còn mang tính hành chính, dàn trải; nhiều đề tài khoa
học – công nghệ chưa thiết thực. Việc áp dụng kết quả của các đề tài, chương
trình chưa được quan tâm. Chưa gắn chặt nghiên cứu triển khai, ứng dụng tiến
bộ khoa học – công nghệ với sản xuất, kinh doanh [52,tr.3].
Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế, song công tác phát triển khoa học và công
nghệ của Hải Phòng bước đầu khắc phục khó khăn của tình trạng của cơ chế
cũ – quan liêu, bao cấp. Từ đó từng bước đưa khoa học và công nghệ thành

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra đường lối phát triển khoa học và công
nghệ một cách toàn diện và sâu sắc. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm
1996) xác định: "Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của
thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt
qua thách thức, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ,
tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao
và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ
nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ
sau” [19,tr.20]. Cùng với việc đề ra đường lối phát triển kinh tế – xã hội trong
thời kỳ mới, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nêu rõ phương hướng phát triển
khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và nhân văn,
khoa học tự nhiên và công nghệ làm chỗ dựa khoa học cho việc triển khai
thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định phương hướng, bước đi của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng pháp luật, các chính sách, kế hoạch và
chương trình kinh tế – xã hội.
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công
nghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý và
quốc phòng - an ninh. Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế
tạo máy để có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định. Đồng
thời, đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia, từ đó đề xuất một chiến lược
đúng đắn về khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên. Bảo đảm cơ sở khoa học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status