ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------
NGUYỄN THỊ HẢI THẮM
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------
NGUYỄN THỊ HẢI THẮM
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Trần Dƣơng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VIỆC LÀM Ở THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG SAU 15 NĂM ĐỔI MỚI ....................................................................... 9
1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hải Phòng tác động
đến vấn đề lao động và việc làm ................................................................. 9
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên ............................................................................. 9
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ................................................................ 11
1.1.3. Thuận lợi và khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm ............. 14
1.2. Đảng bộ Hải Phòng giải quyết việc làm trong 15 năm của thời
kỳ đổi mới (1986 – trƣớc 2000) ................................................................. 17
1.2.1. Đảng bộ thành phố lãnh đạo chuyển đổi cơ chế kinh tế theo đường
lối Đổi mới và từng bước giải quyết vấn đề việc làm giai đoạn 1986 - 1990.... 17
1.2.2. Đảng bộ thành phố lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện một bước vấn đề lao động và việc
làm giai đoạn 1991 - 1995 ........................................................................ 22
1.2.3. Đảng bộ Hải Phòng lãnh đạo giải quyết việc làm trong thời kỳ
đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1996 - 2000....... 25
1.3. Nhu cầu việc làm ở Hải Phòng sau 15 năm thực hiện đƣờng lối
đổi mới ......................................................................................................... 31
1.3.1. Nhận thức mới về vấn đề việc làm ................................................. 31
1.3.2. Tình trạng lao động công nghiệp thành phố Hải Phòng trong
thời kỳ chuyển đổi cơ chế từ “tập trung, quan liêu, bao cấp” chuyển
sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa................................ 34
1.3.3. Tình trạng lao động nông thôn do phát triển các khu công
nghiệp và đường giao thông ..................................................................... 36
Tiểu kết chƣơng 1 ....................................................................................... 38
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TIẾP TỤC LÃNH
ĐẠO GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012 ............ 40
Phòng đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động .............. 100
3.4.2. Kết hợp chặt chẽ các chính sách kinh tế, dự án, chương trình
để giải quyết việc làm cho người lao động ............................................. 101
3.4.3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong quá
trình thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án để giải quyết việc
làm cho người lao động .......................................................................... 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 106
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 114
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BHTN
: Bảo hiểm tự nguyện
CNNT
: Công nghiệp nông thôn
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
CNTT
: Quyết định – Thủ tướng Chính phủ
QĐ-UB
: Quyết định - Ủy Ban
QĐ/BNNN
: Quyết định – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TT-BNNPTNT : Tờ trình – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TTr-HĐBT
: Tờ trình – Hội đồng Bộ trưởng
TEU
: Twenty – foot Equivalent
Chỉ số Container hóa
TLSX
: Tư liệu sản xuất
SEV
: Hội đồng tương trợ kinh tế
chưa phải nhiều, so với các nước trong khu vực và so với dân số, tuy nhiên
ngay cả số được đào tạo ra cũng không tìm được việc làm, trong đó có nguyên
nhân không phù hợp ngành nghề, chuyên môn, kỹ năng thực hành thấp, tinh
thần, thái độ và kỷ luật lao động không cao. Rất nhiều người phải học lại đại
học, cao đẳng bằng các hình thức khác nhau, như đại học tại chức, bằng II...
Điều đó gây lãng phí lớn cho xã hội, cộng đồng và các gia đình. Mặt khác, đại
bộ phận là thanh niên, sau khi được đào tạo thường tìm các cơ hội việc làm tại
1
khu vực thành thị, mà không về nông thôn. Do đó chất lượng nhân lực ở nông
thôn, vùng núi, vùng xa đã thấp càng trở nên trầm trọng hơn.
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội mười năm (2001 - 2010), đánh giá đúng thực trạng đất nước, Đại hội
toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu sau: "Giải quyết việc làm
cho 8 triệu lao động... Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/ năm, tỷ lệ lao động
qua đào tạo đạt 55%... Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc
làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng
cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển,
trọng dụng nhân tài”.
Là thành phố lớn thứ ba của cả nước, với lịch sử phát triển lâu dài, là
một vùng đất giàu truyền thống cách mạng và cũng là nơi hội tụ nhiều điều
điện thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình. Hải Phòng được xác định là một trung
tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục trọng điểm của khu vực Duyên hải Bắc Bộ, là
thành phố có đội ngũ lao động đông đảo, năng động.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt
Nam, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã nỗ lực lãnh đạo giải quyết việc làm
cho nhân dân làm cho thành phố Hải Phòng ngày càng “thay da đổi thịt”. Tuy
nhiên, với dân số trên 1,7 triệu người. Số người ở tuổi lao động có trên
950.000 người chiếm 56% dân số. Số người vào tuổi lao động hàng năm từ 27
kinh nghiệm và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng lao động, giải quyết
vấn đề việc làm ở thành phố.
Với ý nghĩa trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Đảng bộ thành phố
Hải Phòng lãnh đạo giải quyết việc làm cho người lao động từ năm 2000 –
2012” làm luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề lao động và việc làm ở nước ta hiện nay là vấn đề đang được
Đảng, Nhà nước cũng như toàn xã hội quan tâm. Vấn đề việc làm đã trở thành
“Chương trình mục tiêu quốc gia” được Chính phủ phê duyệt. Chính vì vậy,
3
có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này với những góc độ và phương
pháp tiếp cận khác nhau, cụ thể:
Nhóm thứ nhất: Đối với những công trình nghiên cứu chung
- Các công trình tham khảo, chuyên khảo đề cập tới vấn đề lao động và
việc làm: Mai Quốc Chánh (2000), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia
phát hành năm; Nolwen Henaff, Jean Yves Martin (2001), Lao động, việc làm và
nguồn nhân lực ở Việt Nam sau 15 năm đổi mới, Nxb Thế giới. Đức Quyết
(2002), Một số chính sách Quốc gia về việc làm và xoá đói giảm nghèo, Nxb
Lao Động. Nguyễn Hữu Dũng (2007), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau các
công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến vấn đề lao động và việc làm trên con
đường phát triển. Đồng thời đề cập đến sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
trong các Chương trình Quốc gia, các giải pháp trong giải quyết vấn đề lao động
và việc làm gắn với xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là vấn đề chất lượng nguồn
nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Đây là gợi mở tốt cho tác giả tham khảo kế thừa đối với đề tài luận văn.
Còn có một số công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân
lực, lao động và việc làm ở Hải Phòng như: Đào Nguyên Hùng (1999), Đội
ngũ công nhân ngoài khu vực kinh tế Nhà nước ở Hải Phòng hiện nay. Thực
trạng và xu hướng phát triển và những giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Triết học,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Nguyễn Thị Xuân (2001), Xây dựng
và phát triển nguồn lực con người ở Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ Triết học,
năm 2001. Đảng bộ thành phố Hải Phòng, Sở Lao Động Thương binh và Xã
hội (2006), Chuyên đề: “Phát triển nguồn nhân lực trong 5 năm 2001 – 2005
(trong đó có vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu lao động): Mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp cho giai đoạn 2006 – 2010”. Phạm Văn Mợi (2010), Giải pháp
phát triển nhân lực khoa học và công nghệ cao ở Hải Phòng phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Có thể thấy, những công trình nghiên cứu về việc làm và giải quyết
việc làm cho người lao động hiện nay rất phong phú, đa dạng, đề cập đến
5
nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên cho tới nay chưa có một công
trình nào nghiên cứu sâu và chi tiết về vấn đề giải quyết việc làm cho người
lao động ở thành phố Hải Phòng dưới góc độ Lịch sử Đảng. Nhưng những
công trình nghiên cứu kể trên là những tài liệu quý để tác giả có thể khai thác,
vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của Hải Phòng.
- Các chủ trương và biện pháp chỉ đạo thực hiện giải quyết việc làm
cho người lao động của Đảng bộ thành phố Hải Phòng.
- Các dự án và hiệu quả giải quyết việc làm cho người lao động ở thành phố.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo vấn đề giải
của Đảng và Nhà nước về vấn đề giải quyết việc làm, định ra chủ trương
chính sách và chỉ đạo thực hiện trên địa bàn thành phố.
- Phân tích những chủ trương, biện pháp và quá trình giải quyết việc
làm cho người lao động của thành phố.
- Rút ra những nhận xét về thành tựu, hạn chế trong quá trình triển khai
thực hiện đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác này.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
tham khảo
5.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận: Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn
đề lao động – việc làm, đặc biệt là việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa –
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp lịch sử và phương
pháp logic. Bằng phương pháp lịch sử, luận văn thể hiện việc triển khai thực
hiện giải quyết việc làm cho người lao động ở Hải Phòng theo trình tự thời
gian, qua từng giai đoạn cụ thể. Đồng thời, phương pháp logic giúp nghiên
cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát nhằm vạch ra bản chất, quy
7
luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của đối tượng khách quan được
nhận thức. Cụ thể, tôi đặt chủ trương giải quyết việc làm của Đảng vào thực
tiễn thành phố Hải Phòng để nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố
nhằm hiện thực hóa và phát huy cao nhất hiệu quả của chủ trương này.
5.2. Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng nghiên cứu trong luận văn chủ yếu là các
văn kiện Đại hội Đảng, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, Hội nghị Bộ
Chính trị liên quan đến vấn đề lao động và việc làm cho người lao động. Các
văn kiện, các Nghị quyết của Đảng bộ thành phố Hải Phòng, cũng như những
Đỏ”, là một thành phố ven biển, nằm phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ. Về
ranh giới hành chính: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp tỉnh Hải
Dương; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình; phía Đông giáp biển Đông. Tọa độ
của tỉnh với giới hạn cực bắc là 20051’59” vĩ độ bắc thuộc xã Lại Xuân
(huyện Thủy Nguyên) và 106040’57” vĩ độ đông thuộc đảo Bạch Long Vĩ.
Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế
thông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường
sông và đường hàng không. Hải Phòng ngày nay bao gồm 15 đơn vị hành
chính trực thuộc gồm 7 quận (Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An,
Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh), 8 huyện (An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ,
Cát Hải, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo). Hải Phòng cách
thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là trên 1.523 ha, chiếm
0,45% diện tích tự nhiên cả nước.
Với diện tích đồi núi chiếm 15%, phân bố chủ yếu ở miền Bắc, do vậy
địa hình phía Bắc có hình dạng và cấu tạo địa chất của vùng trung du với
những đồng bằng xen lẫn đồi núi. Phía nam có địa hình thấp và khá bằng
phẳng kiểu địa hình đặc trưng của vùng đồng bằng thuần túy nghiêng ra biển,
có độ cao từ 0,7m – 1,7m so với mực nước biển. Vùng biển có đảo Cát Bà
được ví như hòn ngọc của Hải Phòng, cách Cát Bà 90km về phía Đông Nam
là đảo Bạch Long Vĩ khá bằng phẳng và nhiều cát trắng.
9
Về khí hậu, thời tiết Hải Phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm đặc
trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa
đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ
trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C và nhiệt độ
trung bình năm là trên 23,9 °C. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 –
1800 mm. Độ ẩm trong không khí trung bình 85 - 86%. Nhìn chung, khí hậu
(khỉ mặt đỏ, khỉ mặt vàng, sơn dương, sóc đuôi đỏ, rái cá, mèo rừng,…). Đặc
biệt là loài voọc đầu trắng, trên thế giới chỉ thấy ở Cát Bà. Bên cạnh đó, Đồ
Sơn là một bán đảo đồi núi, rừng thông nối tiếp nhau vươn ra biển dài đến 5
km, có giá trị chủ yếu về phong cảnh và môi trường sinh thái. Trong đất liền
có vùng Núi Voi, nằm ở phía bắc thị xã Kiến An và Tràng Kênh (huyện Thuỷ
Nguyên) là một quần thể thiên nhiên đa dạng, cấu tạo chủ yếu là núi đá vôi,
nhiều hang động kỳ thú… là những địa danh nổi tiếng của thành phố Cảng.
Hải Phòng có 2 dải núi chạy liên tục theo hướng Đông Bắc – Tây Nam
với nhiều núi đá vôi, chủ yếu tập trung ở Tràng Kênh (Thuỷ Nguyên), Cát
Bà… với trữ lượng trên 200 triệu tấn. Khoáng sản gốc kim loại không nhiều
với một số mỏ như: mỏ sắt Dương Quan (Thuỷ Nguyên), kẽm (Cát Bà), than
(Vĩnh Bảo), cao lanh Doãn Lại (Thuỷ Nguyên), sét Tiên Hội, Chiến Thắng
(Tiên Lãng)…Muối và cát tập trung chủ yếu ở vùng bãi giữa sông và bãi biển
Cát Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thuỵ, Đồ Sơn.
Đồng thời thành phố có lợi thế bờ biển dài 125km, bờ biển thấp và khá
bằng phẳng. Với lợi thế về đường bờ biển như vậy, tạo cho Hải Phòng một
nguồn lợi rất lớn về cảng biển, góp phần phát triển thành cảng cửa ngõ quốc
tế của cả miền Bắc và cả nước. Ngành du lịch ở đây cũng rất phong phú với
những bãi tắm đẹp như Đồ Sơn, Cát Bà còn có các rặng san hô, hệ thống hang
động, biển có nhiều loại hải sản có gía trị kinh tế cao.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Dân số thành phố là trên 1.904.100 người, trong đó số dân thành thị là
trên 847.000 người và số dân ở nông thôn là trên 990.000 người (theo số liệu
thống kê và điều tra dân số năm 2011). Mật độ dân số 1.250 người/km 2.
Hải Phòng là một trung tâm công nghiệp, dịch vụ của tam giác kinh tế
Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng trọng
11
và ngoài nước với lợi thế cảng biển và cửa ngõ miền duyên hải Bắc Bộ. Hải
trong nông nghiệp, tạo thêm việc làm cho lao động ở nông thôn, tạo ra những
biến đổi lớn trong cơ cấu lao động ở nông thôn.
Hải Phòng đã từng có trên 60 làng nghề với 20 loại hình nghề khác
nhau phần lớn là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, nhiều làng nghề được
hình thành từ hàng trăm năm như: Sơn mài điêu khắc Bảo Hà, con giống
Nhân Mục (huyện Vĩnh Bảo), chiếu cói Lật Dương (huyện Tiên Lãng), mây
che đan Chính Mỹ, đúc kim loại Mỹ Đồng, rèn kim loại Bính Động (huyện
Thuỷ Nguyên), đất nung Tiên Hôi, mây tre đan Tiên Cầm (huyện An Lão).
Tuy nhiên với biến động của kinh tế, xã hội, nhiều làng nghề Hải Phòng đã
mai một, thất truyền. Đến nay trên địa bàn thành phố còn 31 làng nghề đang
duy trì và phát triển, trong đó 17 làng nghề truyền thống, 14 làng nghề mới
thuộc 25 xã, phường, thị trấn, tập trung vào các nghề: Mây tre đan, đồ mộc
dân dụng, điêu khắc, sơn mài, cơ khí, bánh đa, dịch vụ vận tải, thuỷ sản…
Mặc dù số lượng các làng nghề đã có sự giảm đi về mặt số lượng nhưng cùng
với sự phát triển của công nghiệp, nông nghiệp, các làng nghề đã phát huy
mặt tích cực trong giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập, giảm bớt số lao
động nhàn rỗi trong nông nghiệp, tạo việc làm thêm cho những lao động ở
nông thông, tạo ra những biến động lớn trong cơ cấu lao động ở nông thôn và
từng bước chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
Hải Phòng còn có thế mạnh về du lịch nằm giữa tuyến du lịch giữa Hà
Nội – Vịnh Hạ Long, ngoài Cảng biển quốc tế, có khu nghỉ mát nổi tiếng như
Đồ Sơn, Cát Bà… Với chế độ triều có vĩ độ cao tạo ra cho Hải Phòng 24.000
ha bãi triều và 5.000 ha mặt nước xung quanh các đảo là cơ sở để nuôi trồng
và đánh bắt hải sản. Điều này góp phần làm tăng số lượng, chất lượng và cơ
cấu nguồn lao động trong dịch vụ du lịch và ngư nghiệp cho thành phố.
Mặt khác, Hải Phòng có lợi thế hơn các tỉnh khác là đã có một lịch sử
công nghiệp và đô thị hàng trăm năm với đội ngũ công nhân đông đảo và
chiếm tỷ lệ cao trong dân cư.
với các vùng khác.
14
Hải Phòng thu hút rất nhiều dân cư các tỉnh khác nhau đến sinh sống, do
vậy có nền văn hóa đa dạng. Lịch sử và thực tiễn của Hải Phòng cũng cho thấy
Hải Phòng là một vùng đất văn vật lâu đời có 29 tiến sĩ qua các triều đại khoa
cử, trong đó có 2 trạng nguyên, có người trở thành trở thành quốc sư của nhiều
triều đại vua, trở thành bậc thầy của cả nước. Có thể nói, Hải Phòng là mảnh
đất hiếu học, nơi nuôi dưỡng những tài năng của đất nước từ thời xa xưa. Và
cho tới hiện nay, trong công cuộc đổi mới các thế hệ học sinh, sinh viên Hải
Phòng cũng đạt được những thành tích cao trong các kỳ thi quốc gia hàng năm.
Thứ tư, với tiềm năng lớn là con người Hải Phòng luôn nhạy bén, thông
minh, sáng tạo trong lao động sản xuất; nhạy bén với cái mới. Đặc điểm này
đã tạo một điều kiện thuận lợi lớn cho công tác dạy nghề và đào tạo nghề cho
lực lượng lao động của thành phố.
Thứ năm, lực lượng lao động của thành phố tương đối dồi dào, số
người trong độ tuổi lao động chiếm một lực lượng lớn. Đây là nguồn lực trẻ,
sẵn sàng tiếp thu khoa học tiên tiến là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, một khi thành phố có chính sách huy động, phát triển và sử dụng
nguồn nhân lực này. Hải Phòng là thành phố công nghiệp lâu đời, Hải Phòng
có đội ngũ công nhân đông đảo và chiếm tỉ lệ cao trong dân cư. Đây là thuận
lợi đáng kể cho phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng.
Thứ sáu, hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn được nâng cấp, cùng với
việc xây dựng tuyến quốc lộ 10 và quốc lộ 5 hình thành nên tam giác kinh tế
Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Tạo nên cơ sở thuận lợi để thu hút
nguồn đầu tư, phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm cho
người lao động. Sự biến động của cơ cấu một số ngành công nghiệp chủ yếu
diễn ra như sau: công nghiệp sản xuất kim loại, vật liệu xây dựng, chế biến
gỗ, lâm sản, da giày… đã tạo điều kiện quan trọng để thu hút lao động và tân
công, nông nghiệp, dịch vụ hợp lý. Khó khăn này đã tạo một trở ngại cho quá
trình phát triển của thành phố và phân bổ lực lượng lao động.
Thứ ba, trong phát triển kinh tế - xã hội thì yếu tố quan trọng là lực
lượng xã hội phải có trình độ cao. Mặc dù, lực lượng lao động dồi dào nhưng
chất lượng lực lượng lao động vẫn chưa thể đảm bảo yêu cầu của giai đoạn
mới, số lượng lao động chưa qua đào tạo còn khá cao, cùng với tâm lý, những
16