Đảng bộ thành phố đà nẵng lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế du lịch tu nam 1997 den nam 2009 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐ GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ VÂN

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2011


ĐẠI HỌC QUỐ GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ VÂN

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG

HÀ NỘI - 2011


MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã đưa ra nhiều
chính sách để phát triển kinh tế du lịch nhưng những chính sách đó vẫn chưa
đáp ứng kịp yêu cầu phát triển chung của thành phố, chưa tương xứng với
tiềm năng, thế mạnh và chưa làm thay đổi sâu sắc cục diện kinh tế - xã hội
của Đà Nẵng. Tình hình này đang trực tiếp đặt ra cho các cấp uỷ Đảng, chính
quyền và nhân dân Đà Nẵng nhiệm vụ phải giải quyết.
Mặt khác, tìm hiểu quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của
Đảng bộ thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2009 để thấy được những
thành tựu đạt được cũng như những thời cơ và thách thức mà Đảng bộ thành
phố đã trải qua để đưa kinh tế du lịch Đà Nẵng đi lên nhằm khai thác tốt nhất
những nguồn lực, tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch nhanh chóng đưa Đà
Nẵng trở thành một trong những trung tâm thương mại, du lịch lớn của cả
nước. Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ thành phố Đà Nẵng
lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1997 đến năm 2009” làm luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Nghiên cứu về du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Đà Nẵng nói riêng
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
dưới các cấp độ khác nhau. Các nhà ghiên cứu đã đề cập đến sự phát triển của
du lịch Việt Nam, qua đó đề cập tới sự phát triển của du lịch Đà Nẵng. Tiêu
biểu là một số công trình quan trọng như: Du lịch ba miền của tác giả Bửu
Ngôn (2009), nhà xuất bản Thanh Niên.; Địa danh du lịch Việt Nam của Thạc
sỹ Nguyễn Thị Thu Hiền (2009), nhà xuất bản Từ điển Bách khoa.; Quy
hoạch du lịch của tác giả Bùi Thị Hải Yến (2009), nhà xuất bản Giáo dục.
Ở Đà Nẵng cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch Đà Nẵng
như các tác phẩm: Ngũ Hành Sơn của tác giả Albert (1996), do Nguyễn Sinh
Duy chuyển dịch và bổ chú, nhà xuất bản Đà Nẵng; Di tích và danh thắng Đà
Nẵng của Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Đà Nẵng (2009), nhà xuất bản Đà
Nẵng; Cẩm nang du lịch Đà Nẵng của Trung tâm Xúc tiến Du lịch Đà Nẵng
2

phố Đà Nẵng” của Sở Công nghiệp Đà Nẵng (2005); “Các giải pháp đẩy
3


mạnh phát triển sản xuất sản phẩm kết hợp khai thác du lịch làng nghề Đà
Nẵng” của Trung tâm Khuyến công Đà Nẵng (2008); “Định hướng phát triển
bền vững khu du lịch danh thắng Ngũ Hành Sơn” của hai tác giả Nguyễn Nho
Trung - Hồ Kỳ Minh (2009); đề tài “Phương hướng và một số giải pháp để
đa dạng hoá loại hình và sản phẩm du lịch ở Quảng Nam - Đà Nẵng” của tác
giả Trương Sỹ Quý (2003), luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà Nội. Các đề tài này, tập trung nghiên cứu thực trạng của du lịch Đà Nẵng và
đưa ra các giải pháp khuyến khích phát triển các loại hình du lịch. Đối với vấn
đề, Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1997
đến năm 2009 chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào mà chủ yếu
được phản ánh một cách khái quát qua các Nghị quyết, các báo cáo hàng năm
của Thành uỷ Đà Nẵng, của UBND thành phố và của Sở Du lịch Đà Nẵng. Các
công trình trên đây tuy chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề
mà luận văn này đề cập tới nhưng cũng đã cung cấp cơ sở lí luận, tư liệu và cả
những gợi ý khoa học để tác giả thực hiện luận văn của mình.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một cách toàn diện và khách quan
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đối với vấn đề
phát triển kinh tế du lịch từ năm 1997 đến năm 2009. Qua đó, tái hiện lại
những kết quả đạt được của du lịch Đà Nẵng và rút ra một số bài học kinh
nghiệm về sự lãnh đạo và chỉ đạo của thành phố trong quá trình đẩy mạnh
phát triển kinh tế du lịch, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của kinh tế Đà
Nẵng; Trên cơ sở ấy, luận văn góp phần tìm ra một số giải pháp, định hướng
để thúc đẩy sự phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nguồn tài liệu
Tìm hiểu vấn đề “Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch từ năm 1997 đến năm 2009”, luận văn chủ yếu dựa vào các nguồn
tài liệu sau:

5


- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần
thứ VIII, IX, X.
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XVII,
XVIII, XIX.
- Các Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo hàng năm của Thành uỷ, các Chương
trình hành động, báo cáo của UBND thành phố.
- Các báo cáo hàng năm của Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Đà Nẵng
và một số bài nghiên cứu, bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước về du lịch và kinh tế du lịch Đà Nẵng trên sách báo và các tạp chí.
5.2. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà chủ yếu là phép duy vật biện
chứng và phép biện chứng duy vật lịch sử; những chủ trương, đường lối về
phát triển kinh tế du lịch của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ thành
phố Đà Nẵng; những quan điểm của các nhà nghiên cứu về du lịch trong và
ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
lịch sử kết hợp phương pháp điều tra, phân tích, so sánh, đối chứng tài liệu,
xử lí số liệu, tiếp cận lý thuyết về du lịch và tiếp cận thực tiễn của Đà Nẵng để
làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Trên cơ sở đề cập và tiếp cận các vấn đề lý luận về du lịch, phát triển

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đang trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ
biến. Hội đồng lữ hành và du lịch quốc tế (WTTC) đã công bố du lịch là một
trong năm lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất thế giới, được coi là ngành kinh tế lớn
nhất vượt lên trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Du
lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất cho 38% quốc gia trên thế giới. Tại
nhiều quốc gia, du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn.
Du lịch đang là một đề tài hấp dẫn và trở thành vấn đề mang tính toàn
cầu[74,tr.5]
Hoạt động du lịch đã có từ lâu trong lịch sử. Những dấu hiệu đầu tiên
về du lịch được tìm thấy từ sau cuộc phân chia lao động xã hội lần thứ hai khi
mà thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp. Trong thời kì chiếm hữu nô lệ, du
lịch đã có biểu hiện ở ba xu hướng chính: lưu trú, ăn uống, giao thông. Du
lịch thời kì này tập trung chủ yếu ở những trung tâm kinh tế, văn hoá chính
của loài người như ở Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp, La Mã [74.tr.7].
Trong thời kì hưng thịnh của chế độ phong kiến, sản xuất hàng hoá
giản đơn, quan hệ tiền tệ được phát triển mạnh thì du lịch lại có bước chuyển
mới. Lúc này, không chỉ có quý tộc phong kiến mà ngay cả những thợ thủ
công thành thị, các thương gia đều có thể đi du lịch [74.tr.8]. Đến thời kì cuối
của chế độ phong kiến (thế kỉ XVI - XVII), khi phương thức sản xuất phong
kiến bị tan rã và dần thay vào đó là phương thức sản xuất tư bản thì những
điều kiện cho phát triển du lịch được mở rộng. Tại Pháp, giao thông phát triển
đã làm cho du lịch có điều kiện phát triển theo, trong đó đáng chú ý là du lịch
8


chữa bệnh, nghỉ dưỡng, giải trí. Năm 1589, tác phẩm “cuộc du hành ở Pháp”
ra đời, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi du lịch.
Từ thế kỷ XVII - XIX, khi thế giới xuất hiện cuộc cách mạng giao

thành lập (Viết tắt là WTO, tên Tiếng Anh đầy đủ là World Tourism
Organisation). Từ năm 2006, do trùng với tên viết tắt của tổ chức Thương mại
Thế giới, vậy nên để phân biệt, Tổ chức Du lịch Thế giới được quy định viết
tắt trong tiếng Anh là UN- WTO.
Như vậy, hoạt động du lịch đã có từ lâu đời, vai trò và vị trí của ngành
du lịch cũng ngày một nâng cao. Nhưng cho đến nay, khái niệm về du lịch lại
được hiểu rất khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau. Giáo sư Berneker, một
chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định: “Đối với du lịch,
có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [95]. PGS. TS
Trần Thị Minh Hoà, giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhận xét:
“hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về du lịch là do các tác giả
nghiên cứu về du lịch đã gặp phải không ít khó khăn”[74,tr8].
Khó khăn thứ nhất là do tồn tại các cách tiếp cận khác nhau dưới các
góc độ khác nhau mà các tác giả có định nghĩa khác nhau về du lịch. Dưới
góc độ của người đi du lịch thì cho rằng du lịch là một cuộc hành trình về lưu
trú tạm thời ngoài nơi lưu trú thường xuyên của các cá thể nhằm thỏa mãn của
nhu cầu khác nhau với mục đích hòa bình và hữu nghị. Dưới góc độ của
người kinh doanh du lịch thì lại cho rằng "du lịch là quá trình tổ chức các điều
kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người
đi du lịch". Dưới góc độ của chính quyền địa phương lại cho rằng "du lịch là
tổ chức các điều kiện hành chính về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để
phục vụ du khách” [74,tr.8].
Khó khăn thứ hai là do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu khác
nhau về du lịch ở các nước khác nhau. Có một số học giả cho rằng thuật ngữ
"du lịch" trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ gốc tiếng Pháp "Le
Tourisme". Bản thân từ "Le Tourisme" lại được bắt nguồn từ gốc "Le tour" có
nghĩa là một cuộc hành trình đi đến nơi nào đó và quay trở lại, thuật ngữ này

10




địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không
dính dáng đến hoạt động kiếm lời"[74,tr.13].
Tại Đại hội lần thứ 5, Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học
về du lịch đã chấp nhận định nghĩa này làm cơ sở cho môn khoa học du lịch.
Vì vậy, ngày nay, định nghĩa này vẫn được nhiều nhà kinh tế sử dụng để giải
thích từng mặt và cả hiện tượng du lịch. Tuy nhiên, định nghĩa này lại chưa
giới hạn được đầy đủ đặc trưng về lĩnh vực của các hiện tượng du lịch, thuộc
loại nào kinh tế, chính trị, xã hội hay văn hóa . Ngoài ra, định nghĩa đã bỏ sót
hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch,
nhiệm vụ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Do
đó, đặt vấn đặt ra là cần phải tiếp tục hoàn thiện định nghĩa về du lịch.
Tháng 8 năm 1963, tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại
Roma (Ytalia) đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “ Du lịch là tổng hợp
các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc
hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường
xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình, nơi họ lưu trú không
phải nơi làm việc của họ” [95].
Tháng 6 năm 1991, Hội nghị quốc tế về Thống kê du lịch ở Otawa
(Canada) lại đưa ra một định nghĩa khác về du lịch: “Du lịch là một hoạt động
của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong một
khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định
trước: mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm
tiền trong phạm vi vùng tối thiểu"[74, tr.15].
Ở Việt Nam, hoạt động du lịch cũng có từ lâu đời. Theo sách "Đại Nam
nhất thống chí" đã ghi về vùng du lịch Phan Thiết năm 1887, có phòng dành
riêng tiếp vua chúa các nước Đông Dương và toàn quyền Pháp với nhiều
khách sạn và biệt thự nghỉ mát. Thời Pháp thuộc, những trung tâm kinh tế văn hóa như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, hình thành hoạt động kinh doanh



13


Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam (1999), tại điều 1, chương I
những quy định chung, du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là một ngành kinh
tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành,
liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần
nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội đất nước”[2,tr2]
Trong Luật du lịch Việt Nam (2008), tại điều 4, chương I, du lịch lại
được hiểu: "Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [45,tr.6].
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu khái niệm về du lịch của các nhà
nghiên cứu du lịch trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau, chúng
ta có thể nhận thấy, du lịch là một dạng hoạt động tổng hợp và phức tạp. Nếu
đứng ở góc độ kinh tế, du lịch mang đặc điểm của một ngành kinh tế. Nếu
đứng ở góc độ xã hội, du lịch lại có đặc điểm của một ngành văn hoá, xã hội.
Vì vậy, khi nghiên cứu khái niệm về du lịch ở góc độ của người đi du lịch, ở
góc độ kinh tế cũng như góc độ văn hoá, xã hội, tác giả luận văn đồng tình
với khái niệm về du lịch trong Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999), trong Luật
du lịch Việt Nam (2008) và coi đó là cơ sở cho hướng nghiên cứu của mình.
1.1.2. Khái niệm về phát triển du lịch, phát triển kinh tế du lịch
Phát triển không chỉ đơn thuần là mục tiêu của ngành kinh tế du lịch
mà còn là mục tiêu chung của mọi ngành kinh tế, của mọi quốc gia, dân tộc.
Thời gian qua, khái niệm phát triển du lịch, phát triển kinh tế du lịch không
chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu du lịch trong và ngoài
nước mà còn nhận được quan tâm của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.
Trong Luật du lịch Việt Nam (2008), phát triển du lịch được hiểu

thực sự thống nhất về khái niệm phát triển kinh tế du lịch, song đa số các nhà
nghiên cứu đều thống nhất rằng: Phát triển kinh tế du lịch là quá trình tăng
tiến mọi mặt kinh tế du lịch. Nói một cách khác, phát triển kinh tế du lịch
15


chính là đảm bảo sự tăng trưởng về mọi mặt kinh tế du lịch, của các doanh
nghiệp du lịch và của ngành du lịch [95].
Như vậy, hai khái niệm phát triển du lịch và phát triển kinh tế du lịch là
hai khái niệm có tính độc lập. Sự độc lập của hai khái niệm này thể hiện ở
chỗ, phát triển kinh tế du lịch đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp du lịch và
cho ngành du lịch, góp phần thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế của quốc
gia. Trong khi đó, phát triển du lịch lại đem lại lợi ích cho mọi thành phần
kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, cho khách du lịch, cho cộng đồng, quốc gia trên
mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng.
Bên cạnh tính độc lập tương đối đó, hai khái niệm này cũng có nhiều
điểm tương đồng. Sự tương đồng này thể hiện ở chỗ, cả hai khái niệm đều
hướng đến sự tăng trưởng của du lịch, phát triển đảm bảo các vấn đề về kinh
tế, xã hội, môi trường. Chính sự tương đồng ấy, đòi hỏi khi phát triển du lịch
phải gắn với phát triển kinh tế du lịch và ngược lại. Bởi phát triển du lịch nếu
không chú ý tới lợi ích kinh tế thì sự phát triển đó không mang lại hiệu quả
cao, không thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Nhưng phát triển kinh
tế du lịch nếu không quan tâm tới phát triển các mặt khác của du lịch như việc
giải quyết các vấn đề về xã hội, môi trường, an ninh, chính trị sẽ dẫn sự bất ổn
của quốc gia, và sự mất cân đối trong đời sống kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, khi du lịch phát triển và kinh tế du lịch tăng trưởng đạt được
tốc độ cao thì con người bắt đầu lo nghĩ ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng
trưởng đó tác động đến tương lai mình. Vì vậy, vấn đề phát triển bền vững
được đặt ra. Thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm
1980 trong Ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” (Công bố bởi Hiệp hội

lợi cho môi trường).
Tuy nhiên, để du lịch và kinh tế du lịch Việt Nam phát triển và phát
triển một cách bền vững thì vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là
vô cùng quan trọng và cần thiết. Thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh, sự
lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, vai trò lãnh đạo của Đảng về mọi mặt,
đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế vẫn luôn là yếu tố quyết định.
Trong Cương lĩnh năm 1991, phương thức lãnh đạo của Đảng đã được
quy định "Đảng lãnh đạo xã hội bằng chính sách, chiến lược, các định hướng

18


về chính sách và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên truyền, thuyết
phục, vận động, tổ chức, kiểm tra hoạt động gương mẫu của đảng viên”[40]
Trong văn kiện Đại hội Đảng IX cũng đã chỉ rõ "Đảng lãnh đạo bằng
đường lối, quan điểm, Nghị quyết, lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa thành
Hiến pháp và Pháp luật” [41,tr.147]
Từ đó, có thể thấy rằng, trên lĩnh vực du lịch Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược trong phát triển
kinh tế du lịch.
- Xây dựng, góp ý xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong
hoạt động du lịch, đồng thời tuyên truyền, giáo dục pháp luật, các thông tin
về du lịch.
- Đảng lựa chọn các cán bộ về du lịch để giới thiệu với nhà nước bố trí,
sắp xếp vào các cơ quan chuyên ngành về du lịch của bộ máy nhà nước.
- Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình về du lịch, thông qua các tổ
chức cơ sở do Đảng thành lập, liên quan đến phát triển du lịch trong cơ quan
nhà nước và các tổ chức xã hội.

ngành "xuất khẩu tại chỗ" những hàng hóa công nghiệp, tiêu dùng, thủ công
mỹ nghệ, nông lâm sản theo giá bán lẻ được trao đổi thông qua con đường
trao đổi du lịch, hàng hóa được xuất khẩu mà không gặp phải hàng rào thuế
quan mậu dịch quốc tế. Mặt khác, du lịch là ngành "xuất khẩu vô hình", các
cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên, các giá trị văn hóa - truyền thống lịch sử,
phong tục, tập quán không bị mất đi mà qua mỗi lần bán, giá trị và uy tín của
nó tăng lên qua mỗi lần đưa ra thị trường. Với hai hình thức xuất khẩu đó,
việc phát triển du lịch giúp cho khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi suất cao.
Phát triển du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Một
quy luật có tính phổ biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới
hiện nay là, giá trị ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong tổng sản
phẩm xã hội và trong số người có việc làm. Do vậy, các nhà kinh doanh đi

20


tìm hiệu quả của đồng vốn đã coi du lịch là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so
với nhiều ngành kinh tế khác. Du lịch đem lại tỉ suất lợi nhuận cao, vốn đầu
tư vào du lịch ít hơn so với công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải mà thu hồi
vốn nhanh.
Phát triển du lịch góp phần vào củng cố và phát triển các mối quan hệ
kinh tế quốc tế. Hiện nay, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ về du lịch
đã có những tác động tích cực trong việc hình thành các mối quan hệ kinh tế
quốc tế. Việc mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với lượng khách phục vụ, việc
tìm hiểu thị trường của khách được chú trọng. Từ đó, thúc đẩy đầu tư, buôn
bán quốc tế. Đặc biệt, trong điều kiện nghèo nàn, lạc hậu, thiếu vốn thì hiện
đại hóa nền kinh tế có ý nghĩa to lớn. Bản thân việc kinh doanh du lịch cũng
phát triển theo hướng quốc tế hóa vì khách du lịch thường đến nhiều nước,
nhiều vùng khác nhau trong một chuyến đi dài ngày. Hoạt động kinh doanh
du lịch với lợi nhuận kinh tế cao đến lượt nó sẽ kích thích đầu tư nước ngoài

du lịch còn là một phương tiện để tuyên truyền, quảng bá có hiệu quả hình
ảnh một quốc gia, một vùng, hay một địa phương nào đó, như quảng bá cho
hàng hóa nội địa, các mặt hàng thủ công, công nghiệp, quảng bá các thành tựu
kinh tế - văn hóa - xã hội, hay các phong tục tập quán, truyền thống. Phát triển
du lịch làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân thông qua
người ở địa phương khác và khách nước ngoài. Du lịch làm tăng thêm tình
hữu nghị, đoàn kết, sự hiểu biết của nhân dân giữa các vùng miền khác nhau.
Bên cạnh những tác dụng và ý nghĩa to lớn ấy, tác hại về kinh tế - xã
hội do du lịch đem lại cũng không nhỏ. Nhất là, khi con người chúng ta khai
thác du lịch một cách quá tải sẽ dẫn đến việc làm mất thăng bằng cho con
người, cán cân thanh toán quốc tế, gây áp lực lạm phát. Mặt khác, phát triển
du lịch mạnh mẽ sẽ tạo ra sự phụ thuộc của nền kinh tế vào du lịch. Việc đảm
bảo doanh thu và phát triển ngành du lịch sẽ khó khăn so với nhiều ngành sản
xuất khác.

22


Khai thác du lịch quá tải sẽ tạo ra sự mất cân đối và mất ổn định trong
sử dụng lao động du lịch, làm ô nhiễm môi trường hoặc làm ảnh hưởng xấu
đến tài nguyên thiên nhiên, gây ra các tệ nạn xã hội và các tác hại sâu xa khác
trong đời sống tinh thần.
Vì những lẽ trên, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về du lịch sẽ có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với một vùng, một quốc gia trong sự phát triển
kinh tế, xã hội của chính khu vực đó. Đà Nẵng là một địa phương không nằm
ngoài vấn đề này, đặc biệt, khi Đà Nẵng được xác định là một trong những
trung tâm kinh tế - văn hóa trọng điểm của miền Trung - Tây Nguyên.
2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Những nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của Đà Nẵng và
những lợi thế so sánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status