LUẬN VĂN: Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến 2005 pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
từ 1996 đến 2005
Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề tài
Thành tựu của công cuộc đổi mới là một trong ba thắng lợi vĩ đại của cách
mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
hoàn thành chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH và bước vào thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việt Nam đã phá được thế bao vây,
cấm vận của các thế lực thù địch, tăng cường mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội
nhập quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh. Kinh tế tăng
tưởng, đời sống của nhân dân được cải thiện, vị thế Việt Nam được nâng cao trên
trường quốc tế. Đất nước ta có được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, là nhờ đường
lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006),
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách thể hiện rõ sự đổi mới

thay đổi; đời sống của nhân dân không ngừng nâng cao; an ninh, chính trị, trật tự an
toàn xã hội ổn định.Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ được củng cố, tăng cường, đáp
ứng nhu cầu phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu. Đạt được kết quả trên là do Đảng
bộ Hà Nội luôn quan tâm chỉ đạo xây dựng, “phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm, xây dựng Đảng là khâu then chốt” [4, tr.58], quan tâm lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế Thủ đô phù hợp với định hướng của Trung ương, phù hợp điều kiện cụ
thể của Hà Nội. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn được Đảng bộ Hà Nội
chú ý tổng kết, hoàn thiện, đổi mới trong thực tiễn các giai đoạn phát triển kinh tế
của thành phố.
Việc đánh giá đầy đủ, khách quan, khoa học qúa trình lãnh đạo thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ Hà Nội và việc khẳng định tính đúng đắn
của chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng ta, là một vấn đề có ý nghĩa
chiến lược để xây dựng và phát triển nền kinh tế Thành phố Hà Nội. Mặt khác,
thành tựu, khuyết điểm, thuận lợi và khó khăn, kinh nghiệm thành công và chưa
thành công… trong sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội về chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cũng là những vấn đề của một số tỉnh, thành phố khác có đặc điểm, vị trí, điều kiện
tương tự, cần được nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm, để thực hiện thành công
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Từ đó tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh về lý luận, phát

triển về thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa việc cụ thể hoá đường lối của Đảng
đối với từng địa phương, trong đó có Thành phố Hà Nội.
Vì thế, tôi chọn đề tài "Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến 2005" làm đề tài
luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
chuyển dịch CCKT ở Việt Nam như: GS. Đỗ Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, NXB Chính trị
Quốc gia, H, 1994; PGS. Đỗ Hoài Nam: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát
triển mũi nhọn, NXB KHXH, H, 1996; Lê Du Phong: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

tạp chí chuyên ngành.
Các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Hồng hoặc cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn ở nước ta… Một vài công trình có đề cập đến sự
lãnh đạo của Đảng bộ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở một số tỉnh. ở Hà Nội mới chỉ có một công trình nghiên cứu về Đảng
bộ Gia Lâm lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Huyện Gia Lâm. Chưa có một
công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về: Đảng bộ
thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến 2005.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
+ Làm rõ quá trình vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối, chủ trương của
Trung ương trong lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương của
Đảng bộ Thành phố Hà Nội, từ 1996 đến 2005.
+ Đánh giá bước đầu thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở Hà Nội, từ 1996 đến 2005.

+ Nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, từ 1996 đến 2005.
- Nhiệm vụ:
+ Trình bày một cách có hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về phát
triển kinh tế, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 1996 đến 2005.
+ Trình bày quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội vận dụng đường lối, chủ
trương của Trung ương, lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thủ đô Hà
Nội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến 2005.
+ Phân tích kết quả quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của Đảng bộ Hà Nội.
+ Tổng kết những kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của Đảng bộ Hà Nội.

biểu về kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Báo cáo hàng năm của Thành uỷ,
UBND thành phố, Báo cáo của Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Công nghiệp, Sở Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Sở du lịch - Thương mại. Niên giám thống kê thành
phố, tài liệu khảo sát thực tế…
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá chủ trương, giải pháp của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, từ 1996 đến 2005.
- Phân tích đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạn
chế trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp
phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thủ đô Hà Nội, từ 1996 đến
2005.
- Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ Hà Nội về lãnh đạo, chỉ đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng tham khảo trong nghiên cứu
và giảng dạy lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 7 tiết.

Chương 1
Những chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ Hà Nội thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(1996 - 2000)

1.1. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
1.1.1.Một số khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế, đặc biệt trong đường lối đổi mới
đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc việc chuyển dịch CCKT,

buộc chặt chẽ với nhau; giai đoạn sau cao hơn, hoàn thiện hơn so với giai đoạn
trước.
CCKT mang tính khách quan, được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng của các yếu
tố cấu thành nền kinh tế.
CCKT có các loại khác nhau; có thể nghiên cứu chuyển dịch CCKT dưới
nhiều trình độ, lĩnh vực nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: cơ cấu nền kinh tế quốc
dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành
chính - lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế.
Trong những nội dung chủ yếu của CCKT, CCKT ngành là nội dung cơ bản
nhất quyết định phản ánh sự phát triển theo quan hệ cung cầu của thị trường, theo
tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Cơ cấu các thành phần kinh tế chỉ rõ thành
phần quan trọng thực hiện CCKT ngành, theo hướng của cơ cấu ngành, các thành
phần kinh tế được tổ chức thực hiện. Nhưng cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần
kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ, địa phương dựa
trên cơ sở sự phân bố lãnh thổ một cách hợp lý để phát triển các ngành và các thành
phần kinh tế, đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân.

Để có CCKT hợp lý phải thỏa mãn được một số tiêu chí cơ bản sau: Thứ
nhất, CCKT phải phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, trước hết là quy luật
kinh tế cơ bản. Thứ hai, CCKT phải khai thác hợp lý và phát huy được nguồn lực,
tiềm năng của đất nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng những tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Thứ ba, CCKT phải tạo nên sự phát triển cân
đối, phát huy lợi thế của các vùng các ngành kinh tế. Thứ tư, CCKT phải tạo lên sự
gắn kết giữa các loại thị trường trong nước và ngoài nước, mở rộng quan hệ hợp tác
kinh tế quốc tế. Thứ năm, CCKT phải tạo được tích lũy ngày càng tăng cho nền
kinh tế quốc dân, cùng với xã hội phát triển lành mạnh, giữ vững quốc phòng an
ninh.
Những nội dung chủ yếu của CCKT quốc dân có thể nghiên cứu dưới nhiều

ngành: vị trí, vai trò, xu hướng vận động, sự tương tác giữa các ngành hoặc phân
ngành trong mối liên hệ phát triển chung với toàn bộ nền kinh tế, khả năng hướng
ngoại, khả năng chiếm lĩnh thị trường và đáp ứng nhu cầu xã hội, quan hệ giữa cơ
cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế v.v.
Cơ cấu ngành luôn vận động và biến đổi phát triển không ngừng, nhất là
trong điều kiện cơ chế thị trường. Do vậy, khi phân tích cơ cấu ngành, phải làm rõ
tính quy luật của sự vận động, tìm ra phương hướng chuyển dịch CCKT ngành phù
hợp với CCKT khác và đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân
trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Thông thường, một nền kinh tế có ba
ngành kinh tế cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Việc sắp xếp thứ tự ưu
tiên như thế nào là phụ thuộc vào lợi thế của từng ngành và của mỗi nước trong
từng thời kỳ khác nhau của đất nước. Cơ cấu ngành còn quyết định cơ cấu đầu tư
vào mỗi ngành trong từng thời kỳ để từ đó đánh giá được hiệu quả đầu tư cho mỗi
ngành, tính toán được cơ cấu sản phẩm và khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường
của từng loại sản phẩm.
Chuyển dịch CCKT ngành là quá trình làm thay đổi cấu trúc các mối liên hệ
của các ngành hoặc các phân ngành trong một ngành theo xu hướng, mục tiêu và
phương hướng nhất định. Đó là sự thay đổi có mục đích, có định hướng và lựa chọn
trên cơ sở phân tích đầy đủ, có cơ sở lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng

đồng bộ các giải pháp để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái
khác một cách hợp lý và có hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH là quá trình làm
thay đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, sang
cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại, đó là quá trình làm tăng tốc độ
và tỷ trọng của công nghiệp trong nền kinh tế gắn với sự biến đổi của công nghệ và
năng suất lao động, tạo lên sự phát triển nhanh và bền vững trong nền kinh tế quốc
dân. Trong quá trình ấy cơ cấu phân ngành trong nội bộ ngành cũng có những biến
đổi đáng kể cả về chất và lượng. Vì thế, yêu cầu đặt ra là phải xác định được CCKT
hợp lý và có hiệu quả, xác định được các ngành mũi nhọn, các ngành trọng điểm,

đề mang tính tất yếu khách quan, đồng thời là quá trình đi lên từng bước dựa trên sự
kết hợp mật thiết của các điều kiện chủ quan, các lợi thế kinh tế - xã hội tự nhiên
trong nước, trong vùng, đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác liên kết, liên
doanh về sản xuất, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm của các nước, các vùng, đơn vị kinh tế
khác nhau.
Chuyển dịch CCKT phải được coi là điểm chủ yếu, nội dung cơ bản lâu
dài trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Nếu xác định được phương hướng và
phương pháp chuyển dịch CCKT đúng, sẽ có hiệu quả kinh tế xã hội cao trong
sự phát triển; ngược lại, sẽ phải trả giá đắt cho tương lai. Trong thời đại ngày
nay - thời đại của sự bùng nổ cách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng quốc
tế hóa sản xuất - không nước nào không phải tính đến sự chuyển dịch CCKT.
Do điều kiện thực tế của nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế nông nghiệp
nghèo nàn lạc hậu, cùng với sự tàn phá khốc liệt của nhiều năm chiến tranh giành
độc lập và bảo vệ Tổ quốc, vì thế, để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển kịp và
bằng nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, không bị tụt hậu, đói
nghèo, điều tất yếu phải thực hiện CNH, HĐH. Trên cơ sở đó ĐCS Việt Nam đã
khẳng định quan điểm nhất quán CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời
kỳ quá độ lên CNXH.
Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa VII (7-1994), đã xác
định rõ: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản

xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương
tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và
tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao.
Mục tiêu chủ yếu của CNH, HĐH là biến nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất kỹ - thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lượng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, hưởng
thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh vững chắc, dân

Để đẩy mạnh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH, cần dựa vào một
số quan điểm sau:
- Chuyển dịch CCKT phải nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, phù
hợp với mô hình định hướng XHCN.
- Chuyển dịch CCKT phải khai thác được tối ưu khả năng và thế mạnh của
từng vùng kinh tế trong cả nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần
kinh tế, tập trung đầu tư đúng mức cho một số vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng
thu hồi vốn nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế.
- Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo các quy mô và bước đi thích hợp, chú
trọng quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư ít, tạo được nhiều việc làm cho người lao
động, đặc biệt chú ý hình thành và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, ngành
kinh tế mũi nhọn có công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại.
- Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo được nền kinh tế có hiệu quả, có môi
trường sinh thái bền vững, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, gắn tăng cường ổn
định chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng.
- Chuyển dịch CCKT phải phù hợp với xu hướng mở rộng quan hệ hợp tác
kinh tế trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tranh thủ khả năng thu hút vốn đầu tư
và công nghệ hiện đại của nước ngoài nhằm phát triển kinh tế thúc đẩy mạnh quá
trình chuyển dịch CCKT trong nước.
Có thể thấy vấn đề xuyên suốt là:
Quá trình chuyển dịch CCKT được hoạt động thông qua hoạt động đầu tư và
sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế dưới tác động của cơ chế thị trường
được nhà nước hướng dẫn và thúc đẩy bằng công cụ quản lý vĩ mô và chương trình
đầu tư dựa vào nguồn vốn tập trung [31, tr.12].

Nội dung cơ bản của CNH, HĐH bao gồm hai vấn đề cốt lõi là áp dụng rộng rãi
thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và các ngành kinh tế,
xây dựng CCKT phát triển hợp lý có hiệu quả và ngày càng hiện đại. Vì vậy, chuyển dịch
CCKT và CNH, HĐH có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng
phát triển. Chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi và là nội

Do vậy, có thể thấy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là một trong
những nội dung kinh tế cốt lõi trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và
nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
1.1.2. Đường lối của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ
đổi mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo lý luận cách mạng của chủ
nghĩa Mác-Lênin về CNXH và con đường tiến lên CNXH. Người chỉ rõ mối quan
hệ gắn bó hữu cơ, tác đông biện chứng thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển giữa hai
ngành kinh tế cơ bản: công nghiệp và nông nghiệp. Tháng 4-1962, trong bài nói
chuyện tại hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam (khóa
III), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền
kinh tế. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng phát
triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiếp bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến
mục đích” [55, tr.544-545].
Nước ta là một nước nông nghiệp truyền thống do vậy việc phát triển nông
nghiệp luôn được chú trọng hàng đầu trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá
độ lên CNXH. Người khẳng định: “phải lấy nông nghiệp làm chính, phải toàn diện
phải chú ý các mặt công nghiệp, thương nghiệp tài chính, ngân hàng, giao thông,
kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế các ngành này phải lấy nông nghiệp làm trung
tâm” [56, tr.396]. Nông thôn phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm thì mới
giàu có. Nông thôn giàu sẽ mua nhiều hàng hóa do công nghiệp sản xuất ra. Đồng
thời nông nghiệp cung cấp đầy đủ nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và
thành thị. Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển. Công
nghiệp lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa. Công nghiệp, nông
nghiệp phát triển thì dân giàu nước mạnh. Khi đánh giá vai trò của nông nghiệp, Hồ
Chí Minh chỉ rõ:

Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là
nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay, cho
nên cần cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát trển các ngành

bắt đầu đổi mới từ tư duy kinh tế, để phát triển kinh tế Đảng ta chỉ rõ:
Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân
đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý,
trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại sản xuất có
quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết
với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển
ổn định [26, tr.47].
Trong bố trí lại CCKT, Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp lên mặt
trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn; ra sức phát
triển công nghiệp nhẹ. Đây là sự cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa
XHCN trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, là bước đột phá
trong tư duy và nhận thức đổi mới về chuyển dịch CCKT trong thời kỳ mới của
Đảng. Đại hôi chỉ rõ: Bố trí lại CCKT, phải điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư xây dựng
cơ bản của nhà nước nhằm tập trung cho việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn:
“lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [26, tr. 47].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (6-1991), đã tổng kết 5 năm đổi mới,
khẳng định một trong những thành tựu đầu tiên là trên lĩnh vực kinh tế đã đạt được
những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế. Đại
hội chỉ rõ: “Những kết quả thực hiện các mục tiêu gắn liền với những chuyển biến
tích cực trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư và bố trí lại cơ cấu kinh tế” [28, tr. 19-
20].
Đại hội lần thứ VII đã đề ra những định hướng trong chính sách kinh tế trong
đó có quan điểm đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với quá trình xây dựng cơ sở
vật chất - kỹ thuật, chuyển dịch CCKT theo hướng từng bước công nghiệp hóa,
thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu. Quan điểm về chuyển dịch CCKT được
hiểu: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng

nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu nhằm ổn định tình hình kinh tế xã hội; tăng tốc
độ và tỷ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ theo hướng huy động triệt
để các khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; đẩy mạnh thăm dò,

hội công bằng văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp [34, tr.80].
Đại hội VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt coi trọng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn”, chỉ rõ nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn những năm còn lại của thập kỷ 90 là:
- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung
chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hóa nhiều
về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng
được yêu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trong và ngoài nước
- Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa…
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng
cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới
bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp,
các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông
thôn mới văn minh hiện đại [34, tr.87].
Phát triển công nghiệp, ưu tiên các ngành chế biến lương thực - thực phẩm,
sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông
tin. Phát triển có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng (năng lượng - nhiên liệu,
vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa tàu thủy, luyện kim, hóa chất), tăng
thêm năng lực sản xuất tương ứng với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả
năng độc lập về kinh tế [34, tr.88].
Phát triển nhanh du lịch và các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính -
viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm công
nghệ, pháp lý, thông tin…và các dịch vụ phụ vụ cuộc sống nhân dân. “Từng bước
đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ có tầm cỡ trong
khu vực”.


“Về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng công

nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển dịch CCKT nông
nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH là phải tạo ra những chuyển hướng
mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa với cơ cấu đa dạng vừa để xuất khẩu với
sức cạnh tranh cao, vừa khai thác lợi thế tiềm năng của từng vùng sinh thái, tăng
nhanh năng xuất chất lượng và hiệu quả của nông nghiệp. Chuyển dịch CCKT nông
nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH nghĩa là từ chỗ nặng về trồng trọt, chủ
yếu là cây lương thực sang sản xuất các cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao;
từ chỗ chủ yếu làm nông nghiệp sang phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ. Trong đó giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản giữa trồng
trọt với chăn nuôi, giữa nông nghiệp với lâm nghiệp, giữa nông - lâm nghiệp với
công nghiệp và dịch vụ…
Ngày 10-11-1998, BCT khóa VIII ra Nghị quyết 06-NQ/TW: " Về một số
vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn". Nghị quyết khẳng định bốn quan điểm
phát triển nông nghiệp - nông thôn:
Một là, coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp (gồm cả
nông nghiệp, ngư nghiệp ) và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế
nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là
cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước theo định hướng XHCN.
Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch CCKT, gắn phát triển nông nghiệp với công
nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết
nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi
cả nước, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp
hóa với thực hiện dân chủ hóa và nâng cao dân trí đào tạo nhân lực ở nông thôn, tạo
ra sự phân công lao động xã hội mới, giải quyết việc làm nâng cao đời sống, xóa
đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn.
Ba là, phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến bộ

tiêu phấn đấu đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại.
Những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về chuyển dịch CCKT và
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã được cấp ủy Đảng các địa phương quán
triệt, thực hiện một cách đúng đắn, sáng tạo phù hợp với tiềm năng và lợi thế của

từng địa phương trên phạm vi cả nước. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ Thành
phố Hà Nội đề ra chủ trương, biện pháp, lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở Thành phố Hà Nội, từ 1996 đến 2005.
1.2. Cơ cấu kinh tế ở Thành phố Hà Nội trước năm 1996
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Hà Nội
Hà Nội, Thủ đô của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nằm ở trung tâm Bắc
Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20
0
53' đến 21
0
23' vĩ độ Bắc và từ 105
0
44' đến 106
0
02'
kinh độ Đông, tiếp giáp với 5 tỉnh: phía Bắc giáp Thái Nguyên; phía Đông giáp Bắc
Ninh, Hưng Yên; phía Tây và Tây Nam giáp Hà Tây, Vĩnh Phúc. Hà Nội có diện
tích 920,97 km
2
, bằng 0,28% diện tích tự nhiên của cả nước.

Khoảng

cách dài nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status