TIỂU LUẬN PHÂN CÔNG lại LAO ĐỘNG xã hội TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở một số NĂNG và KINH NGHIỆM với VIỆT NAM - Pdf 39

PHÂN CÔNG LẠI LAO ĐỘNG XÃ HỘI TRONG
QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI NHỮNG KINH NGHIỆM CÓ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trong lịch sử những nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển
cũng đã thực hiện một sự thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc trong cơ cấu lao
động, đặc biệt là giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thoạt đầu, do kinh tế
còn lạc hậu, lao động nông nghiệp còn chiếm tuyệt đại bộ phận. Điều này,
V.I. Lênin đã từng nhấn mạnh : "Nhân khẩu của một nước mà nền kinh tế
hàng hóa ít phát triển (hoặc hoàn toàn không phát triển) thì hầu như hoàn
toàn chỉ là nhân khẩu nông nghiệp; tuy nhiên điều đó... chỉ có nghĩa là dân
cư làm nghề nông đã tự mình chế biến lấy nông sản, sự trao đổi và phân
công hầu như không có. Vậy sự phát triển của kinh tế hàng hóa eo ipso
(cũng do đó mà) có nghĩa là một bộ phận ngày càng đông dân cư tách khỏi
nông nghiệp, tức là nhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu
nông nghiệp giảm xuống"(1). Đi đôi với quá trình công nghiệp hóa, lao động
nông nghiệp không ngừng giảm xuống một cách tuyệt đối và tương đối, lao
động hoạt động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ không ngừng tăng
lên và chiếm tỉ trọng lớn. Sau đó, năng suất lao động trong các ngành sản
xuất vật chất đạt đến mức độ cao lại cho phép tăng tỉ trọng lao động trong
lĩnh vực phi sản xuất vật chất.
Như vậy, lao động trong nông nghiệp giảm, lao động trong các
ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên là một xu thế tất yếu và là một quá
trình. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào điều kiện và
đặc điểm của từng nước. Đối với nước Anh, là nước mà chủ nghĩa tư bản
hình thành sớm nhất, quá trình giảm tỉ trọng nông nghiệp từ 70% trong
toàn bộ lao động xã hội xuống còn 37%. Nước Anh đã mất 100 năm (từ
khoảng năm 1700-1800) với sự bóc lột, tước đoạt tàn bạo hàng triệu người


lao động mời đạt được một nền công nghiệp dẫn đầu thế giới vào thế kỷ 18.


16,8

Dịch vụ
1975

1985

1996

13,4

14

- Thái Lan

70,7

63,0

43,1

10,3

14,8

16,5

19,0


13

27

32,9

39,0

30,6

42,0

48,0

Nguồn: Niên giám Thống kê 1998, Nxb Thống kê Hà Nội
* Đối với Đài Loan
Quá trình phát triển kinh tế đã áp dụng bước đi tuần tự, sử dụng
đồng bộ các động lực kinh tế. Vì vậy đã đạt được tốc độ phân công lại lao
động xã hội rất nhanh, với phương châm: "Lấy nông nghiệp nuôi công
nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp". Với việc áp dụng các biện
pháp khoa học - kỹ thuật và công nghệ - nền nông nghiệp Đài Loan đã tăng
trưởng, khá nhanh vừa đảm bảo an ninh lương thực vừa chuyển vốn và lao
động trong nông nghiệp đầu tư những ngành khác - thúc đẩy quá trình công
nghiệp hóa ở Đài Loan một cách toàn diện với các bước đi như sau:


* Ổn định lương thực, thực phẩm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của
nhân dân, ổn định giá cả, giảm bớt nhập khẩu lương thực, thực phẩm, tiết
kiệm ngoại tệ.
* Tăng cường việc gia công chế biến các sản phẩm nông - lâm ngư nghiệp để xuất khẩu thu ngoại tệ.

có khá hơn cả về vật chất và tinh thần.
Song song với phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, Đài
Loan cũng đã củng cố và phát triển của ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và
các làng nghề cổ truyền, các xí nghiệp gia đình chế biến lương thực, thực
phẩm theo công nghệ cổ truyền...
Với chính sách hỗ trợ nông nghiệp và cải cách ruộng đất, nông
nghiệp Đài Loan đã phát triển đều và nhanh. Dân số từ 1992 - 1996 tăng
lên rất nhanh. Thời kỳ này, dân số Đài Loan là 26,5 triệu người. Trong đó,
dân số thành thị 57,4% so với số dân, dân số nông thôn chiếm 42,6%, lao
động trong nông nghiệp chiếm 0,8% (năm 1992 chiếm 12,9%). Cơ cấu
nông nghiệp thay đổi rõ rệt; trồng trọt từ chỗ chiếm 69% tầng giá trị sản
phẩm nông nghiệp, đã giảm xuống còn 40%; chăn nuôi tăng từ 16% lên
30%; thủy sản từ 9% lên 20%.
Công nghiệp hóa nông thôn thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao
động xã hội. Năm 1952 lao động nông nghiệp chiếm 16,1%, lao động công
nghiệp: 16,9%; lao động dịch vụ: 27%. Đến năm 1996 lao động nông
nghiệp giảm xuống còn 0,8%; lao động công nghiệp tăng lên: 32,9% và lao
động dịch vụ tăng lên: 66,3% (biểu 1).
Nhìn chung, nhờ sự quan tâm đúng mức của chính phủ nên việc
phân công lại lao động xã hội ở hai ngành cơ bản nông nghiệp và công
nghiệp mà nền kinh tế Đài Loan phát triển một cách vững chắc - kinh tế
nông nghiệp phát triển một cách bền vững trên vị trí của nó. Cơ cấu ngành
nông nghiệp ngay trong những năm 1952-1981 đã chuyển từ lấy trồng trọt
là chính sang chăn nuôi là chủ yếu - và do cơ cấu kinh tế thay đổi đúng
hướng đã thúc đẩy các ngành công nghiệp và thương nghiệp phát triển nhanh.


1.2.3. Đối với Thái Lan
Khác với Nhật Bản và Đài Loan, Thái Lan từ nền nông nghiệp độc
canh cây lúa chuyển sang nền nông nghiệp đa dạng hóa, vươn lên sản xuất

đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân, khắc phục được
tình trạng lao động nông nhàn và thu nhập thấp trong nông dân, phát huy
tối đa nguồn lực đất đai, lao động khắc phục được rủi ro về sản xuất và giá
cả biến động, đáp ứng sự thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng nội địa
và nước ngoài. Đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái.
Có thể nói bài học kinh nghiệm được rút ra từ đa dạng hóa nông
nghiệp Thái Lan như sau:
* Nhà nước dùng chính sách kích thích kinh tế đối với người sản
xuất để thực hiện đa dạng hóa: tài trợ đầu vào, giảm thuế, tạo điều kiện về
vay vốn tín dụng, tìm thị trường mới...
* Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn mở
rộng và phát huy nội lực trong các hoạt động nông nghiệp và phi nông
nghiệp nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
quốc dân từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giảm bớt lao động
trong nông nghiệp nhưng vẫn giữ được sản lượng lương thực.
Sự đa dạng hóa trong nông nghiệp chỉ có thể thành công khi có
sự kết hợp đồng bộ giữa nhà nước và nông dân trong điều kiện kinh tế
thị trường mở cửa có sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và
ngoài nước.
1.2.4. Hàn Quốc
Quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân
công lại lao động xã hội. Từ khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc
(1953) đến nay, sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với vấn
đề phân công lại lao động xã hội của Hàn Quốc qua các giai đoạn như sau:




Trong giai đoạn 1954 - 1961 diễn biến kinh tế trong thời kỳ này


bờ, dưới nước; và các nghề phụ khác.


* Với quan điểm coi trọng lương thực, "phi lương bất ổn", nên
Trung Quốc chủ trương: ổn định diện tích gieo trồng lương thực; nâng cao
sản lượng trên một đơn vị diện tích bằng con đường thâm canh; xây dựng
vùng sản xuất lương thực nông nghiệp có trọng điểm; khuyến khích trồng
những loại cây phục vụ cho công nghiệp chế biến và mở rộng kinh doanh
phục vụ nông nghiệp - nông thôn và kịp thời điều chỉnh cơ cấu sản xuất để
đáp ứng không ngừng nhu cầu cầu thường xuyên thay đổi của thị trường.
* Kiện toàn hệ thống thị trường và hệ thống chế độ chính sách trong
đó nhà nước cố gắng xây dựng và quản lý hệ thống thị trường buôn bán,
đồng thời chú ý xây dựng quy chế thị trường và thông tin thị trường.
* Sự phát triển của xí nghiệp "Hương trấn" hình thành 4 loại hình
khác nhau
Tình hình xí nghiệp Hương trấn năm 1987
Biểu 2:
Loại xí nghiệp
- Tổng số
Tỷ lệ (%)
- Xí nghiệp xã
Tỷ lệ (%)
- Xí nghiệp thôn
Tỷ lệ (%)
- Xí nghiệp liên hộ
Tỷ lệ (%)
- Xí nghiệp hộ
Tỷ lệ (%)

Số lượng

38,8

1.162.700

23.207.800

141,115

6,6

26,4

29,6

1.187.500

9.236.200

42,482

6,8

10,5

8,9

14.730,700

31.633.200


Xây dựng các loại mạng lưới: dịch vụ phục vụ các khâu sản xuất
nông nghiệp như: các dịch vụ cho vay vốn, tín dụng, gia công chế biến; tiêu
thụ sản phẩm; dịch vụ về kinh tế - kỹ thuật của nhà nước cung cấp, phổ
biến kỹ thuật và quản lý khoa học; các đơn vị nghiên cứu khoa học, các
trường đại học thâm nhập nông thôn, triển khai các dịch vụ tư vấn kỹ thuật,
bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tập đoàn, hợp tác xã...
Từ hoạt động này có thể rút ra bài học kinh nghiệm về việc xây
dựng hệ thống dịch vụ nông thôn, đảm bảo sự phát triển nhịp nhàng và bền
vững. Tất cả các hoạt động này đều phải nhằm mục đích phân công lại lao
động xã hội tại chỗ và phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn, không có
lý do nào để lợi nhuận đơn thuần tồn tại gây cản trở quá trình phát triển
phân công lao động xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp - nông thôn Trung Quốc.


Tóm lại, qua bài học kinh nghiệm của một số nước cho thấy: nhờ
có chiến lược cũng như sách lược đúng trong việc điều chỉnh kinh tế nông
nghiệp - nông thôn, quan điểm coi trọng vấn đề lương thực, mà chính phủ
các nước nói trên đã đề ra và đạt được thành công về phát triển nông
nghiệp - nông thôn toàn diện. Tạo tiền đề phân công lại lao động xã hội
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nhanh hơn.
Kinh nghiệm của Nhật Bản và các nước NIC đã chứng minh rõ điều
đó. Tận dụng được cơ hội gắn phân công lao động với liên kết, hợp tác
quốc tế quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhật Bản thực hiện chuyển
giao công nghệ của các nước phương Tây vào trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước đã đạt được những thành tựu. Sử dụng thành tựu
công nghệ, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, giảm dần lao động trong
nông nghiệp, chuyển lao động trong nông nghiệp sang công nghiệp. Để
đuổi kịp các nước tiên tiến, Nhật Bản bắt đầu đi từ chuyển giao công nghệ

Kinh nghiệm so sánh những nước Đông Bắc Á đông dân được minh chứng
qua biểu sau đây:
Biểu 3: Tỷ trọng việc làm, GDP và xuất khẩu của ngành nông nghiệp
tại một số nước châu Á trong giai đoạn 1980 - 1993
Đơn vị: %
Việc
làm

GDP

Xuất
khẩu

Nhật
Bản

Việc
làm

GDP

Xuất
khẩu

46

89

Hàn
Quốc


20

56

1939

42

15

18

1970

50

26

17

1960

33

13

11

1980


Đài
Loan

Trung
Quốc


1953

56

38

92

1952

84

51

555

1960

50

33


9

9

1978

71

28

25

1992

13

4

5

1987

60

28

18

1993



động lực cho nền kinh tế cất cánh. Công nghiệp được tập trung phát triển
các ngành liên quan phục vụ nông nghiệp, dịch vụ cũng được đầu tư đúng
mức góp phần chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành sản xuất
khác. Trong khi đó các nước NIC lại quan tâm đến công nghiệp, nổi bật là
Singapore và Hồng Kông, hầu như không có nông nghiệp. Họ đã dành phần
lớn thời gian và nguồn lực để ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Các ngành này luôn có tỷ trọng cao và tốc độ tăng trưởng lớn trong nền
kinh tế quốc dân. Với cách phát triển đi từ các ngành sản xuất hàng tiêu
dùng thay thế nhập khẩu, chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm có lợi thế so
sánh, kế đó là phát triển công nghiệp nặng phục vụ thị trường trong nước,
từng bước mở rộng qui mô sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tạo
mẫu mã, tiến tới xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế và một số các mặt hàng
có hàm lượng khoa học cao.
Một điểm cần chú ý là các nước này không đi vào sản xuất những
sản phẩm có giá trị lớn mà trên cơ sở phân tích nhu cầu thị trường, chọn
ra những sản phẩm độc đáo, giá trị nhỏ nhưng có khả năng xuất khẩu với
khối lượng lớn, vừa tạo ra việc làm cho nhân dân trong nước vừa tích lũy
ngoại tệ.
Ngày nay, khi xu hướng lợi thế giá lao động rẻ đang giảm dần, các
nước này đang ra sức chuẩn bị tích cực chuyển hướng sang các ngành có
hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao. Và đồng thời các nước này cũng đã kịp
thời hòa nhập vào xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế. Tích cực
đầu tư ra nước ngoài, nhưng vẫn đảm bảo xu hướng tăng trưởng lấy nhu
cầu trong nước làm chủ đạo và phát triển kinh tế trên cơ sở vẫn giữ vững
bản sắc văn hóa - xã hội độc đáo của mình.
Đối với Việt Nam, một đất nước có tỷ lệ lao động và đất đai lớn thì
có thể hy vọng rằng tỷ trọng GDP, xuất khẩu và việc làm trong nông
nghiệp sẽ giảm cùng với quá trình phát triển kinh tế. Mục tiêu của Việt
Nam là sẽ giảm tỷ trọng GDP trong nông nghiệp xuống còn 19,20%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status