Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và định hướng cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Pdf 30

Nội dung:
Phần I: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Muốn tìm hiểu về quá trình chuyển dịch cơ cấu phải đặt nó trong
điều kiện của nớc ta, phải trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa đang xây dựng ở nớc ta để thấy rõ toàn bộ đặc điểm và vai trò của nó
đối với sự phát triển nền kinh tế đất nớc.
1. Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam:
1.1. Nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam:
Sự phát triển của nền kinh tế xã hội từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao
bằng những cuộc biến đổi cách mạng, từ phơng thức sản xuất này sang ph-
ơng thức sản xuất khác, tiến bộ hơn. Đó là kết quả tất nhiên của sự phát
triển mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất. Nhng không
phải phơng thức sản xuất cũ đi đến chỗ kết thúc là có ngay phơng thức sản
xuất mới, cao hơn; cũng không phải phơng thức sản xuất cũ kết thúc hoàn
toàn mới nảy sinh phơng thức sản xuất khác, mà giữa chúng bao giờ cũng
có một sự chuyển hoá quá độ, trong đó phơng thức sản xuất cũ suy yếu dần,
phơng thức sản xuất mới ra đời, lớn lên và giữ địa vị thống trị. Nh vậy, trong
thời kỳ quá độ, cha có phơng thức nào giữ địa vị thống trị tuyệt đối, mỗi ph-
ơng thức sản xuất chỉ là một mảnh, một bộ phận, ấy là một thành phần
kinh tế. Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế quá độ, đặc trng cơ
bản nhất của nền kinh tế quá độ là còn tồn tại kinh tế nhiều thành phần.
Tính quy luật đó diễn ra trong lịch sử phát triển của các nớc trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. ở các nớc đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ yếu tồn
tại ba thành phần kinh tế cơ bản: kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế t bản chủ
nghĩa và kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ. Vận dụng lý luận này vào nớc ta,
chúng ta khẳng định sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là một tất
yếu bởi vì: Khi giai cấp công nhân và nhân lao động giành đợc chính quyền
và bớc vào xây dựng xã hội mới thì một đòi hỏi cấp bách và khách quan là

tài nguyên, ngân hàng, tài chính, dự trữ quốc gia) Doanh nghiệp nhà n-
ớc giữ vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu
gơng về năng suất, chất lợng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp
luật.
Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do
ngời lao động tự nguyện góp vốn, cùng kinh doanh, tự quản lý theo nguyên
tắc tập trung, bình đẳng cùng có lợi. Kinh tế tập thể phát triển với nhiều
hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Phát triển hợp
tác xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành. Nhà nớc giúp hợp
tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, nắm bắt thông tin mở
rộng thị trờng. Tổng kết việc chuyển đổi và phát triển hợp tác xã theo Luật
hợp tác xã.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan
trọng lâu dài. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên t hữu nhỏ về t
liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân ngời lao động và gia đình.
Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên t hữu nhỏ về t liệu sản
xuất nhng có thuê mớn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào
sức lao động, và vốn của bản thân và gia đình. Nhà nớc tạo điều kiện và
giúp đỡ phát triển; khuyến khích các hình thức hợp tác tự nguyện, làm vệ
tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Kinh tế t bản t nhân là thành kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên
cơ sở chiếm hữu t nhân t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất và bóc lột sức lao
động làm thuê. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay,
thành phần kinh tế này còn có vai trò đáng kể xét về phơng diện phát triển
lực lợng sản xuất, xã hội hoá sản xuất cũng nh
phơng diện giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là thành phần kinh tế rất
3
năng động, nhạy bén với kinh tế thị trờng, do đó sẽ có những đóng góp
không nhỏ vào quá trình tăng trởng kinh tế của đất nớc. Hiện nay, kinh tế t
bản t nhân bớc đầu có sự phát triển, nhng phần lớn tập trung vào lĩnh vực th-

trờng, tuy nhiên kinh tế thị trờng cũng có những khuyết tật vốn có của nó:
Thứ nhất, cơ chế thị trờng chỉ thể hiện đầy đủ khi có sự kiểm soát của cạnh
tranh hoàn hảo, còn khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo nh hiện tợng
độc quyền thì hiệu lực của cơ chế thị trờng bị giảm. Thứ hai, mục đích của
doanh nghiệp là lợi nhuận, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên xã hội, gây
ô nhiễm môi trờng sống của con ngời, do đó hiệu quả kinh tế-xã hội không
đợc đảm bảo. Thứ ba, sự tác động của cơ chế thị trờng sẽ dẫn đến sự phân
hoá giàu nghèo, sự phân cực về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình
ngời. Sự tác động của cơ chế thị trờng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, nh-
ng nó không tự động mang lại những giá trị mà xã hội muốn vơn tới. Thứ t,
một nền kinh tế do cơ chế thị trờng thuần tuý điều khó tránh khỏi những
thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ và thất nghiệp.
Do đó để sửa chữa khuyết tật của thị trờng, ở hầu hết các nớc có
nền kinh tế thị trờng thì đều có sự can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế,
tuy với mức độ khác nhau và theo những hớng khác nhau. Nớc ta thực hiện
nền kinh tế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc ở tầm vĩ mô, theo định hớng
xã hội chủ nghĩa. Tức là Nhà nớc quản lý nền kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa theo nguyên tắc kết hợp nhà nớc với thị truờng. Kế hoạch là
sự điều chỉnh có ý thức của chủ thể quản lý đối với nền kinh tế, còn cơ chế
thị trờng là sự tự điều tiết của bản thân nền kinh tế. Do đó, Nhà nớc ta phải
thừa nhận yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trờng: thừa nhận tính độc
lập của các chủ thể kinh tế để họ có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,
tự chịu trách nhiệm lỗ lãi; xây dựng hệ thống thị trờng có tính cạnh tranh,
giá cả chủ yếu do thị trờng quyết định; xây dựng cơ chế điều tiết vĩ mô của
nhà nớc nhằm hớng dẫn, giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế, hạn
chế những khuyết tật của thị trờng; xây dựng hệ thống pháp luật nhằm tạo ra
khuôn khổ cho hoạt động kinh tế; tôn trọng và thực hiện các thông lệ quốc
5
tế trong quan hệ kinh tế quốc tế. Đảng ta luôn xác định độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, nhng đó không phải là một nền kinh tế đóng mà

xuất chuyên môn hoá gồm hai nhóm ngành lớn: đó là nhóm ngành sản xuất
vật chất (nông nghiệp và công nghiệp) và nhóm ngành sản xuất phi vật chất
(ngành dịch vụ).
Cơ cấu ngành của một nền kinh tế phản ánh trình độ phát triển của xã
hội hoá, quốc tế hoá, trình độ tiến bộ khoa học-kĩ thuật, năng lực sản xuất.
Cơ cấu ngành có ảnh hởng rất lớn tới nền kinh tế nớc ta. Nếu chúng ta
có chính sách phát triển cơ cấu ngành một cách hợp lý thì sẽ thúc đẩy năng
lực sản xuất và tốc độ phát triển của nền kinh tế. Ngợc lại, nếu cơ cấu ngành
không hợp lý thì sẽ là yếu tố kìm hãm sản xuất, làm chậm tốc độ phát triển
của nền kinh tế đất nớc.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế vùng: là tập hợp các vùng kinh tế, các địa
phuơng, các đơn vị hành chính trong phạm vi lãnh thổ của toàn bộ một quốc
gia và mối tơng quan tỷ lệ giữa các vùng kinh tế với tổng thể toàn bộ nền
kinh tế đó.
Các vùng kinh tế căn cứ vào đối tợng phân công lao động, đợc chia ra
làm hai loại: Loại thứ nhất là vùng kinh tế ngành, vùng kinh tế ngành là đơn
vị lãnh thổ tập trung trong một ngành sản xuất nhất định nh vùng nông
nghiệp, vùng công nghiệpLoại thứ hai là vùng kinh tế tổng hợp, là một
tổng thể sản xuất theo lãnh thổ của nhiều ngành kinh tế phát triển cân đối và
nhịp nhàng. Trong vùng kinh tế tổng hợp có thể có nhiều ngành sản xuất
khác nhau.
ở nớc ta, theo phơng án phân vùng kinh tế đã đợc Chính Phủ phê
duyệt thì toàn bộ lãnh thổ quốc gia đợc chia làm 4 vùng kinh tế cơ bản, 7
tiểu vùng khác nhau và 53 đơn vị lãnh thổ. Các vùng và tiểu vùng đó là:
vùng Bắc Bộ gồm 2 tiểu vùng là miền núi trung du và đồng bằng ven biển,
vùng Bắc Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ có 2 tiểu vùng là Tây Nguyên và
7
đồng bằng ven biển, vùng Nam Bộ có 2 tiểu vùng: Tây Nam Bộ và Đông
Nam Bộ.
Các vùng kinh tế này là cơ sở để tiến hành kế hoạch hoá và quản lý

quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cả một quá trình phức tạp, lâu dài mà
mỗi quốc gia đều có một hớng đi cụ thể không giống nhau, song đều có một
điểm chung là làm sao phát huy đợc lợi thế so sánh của mình, mạnh dạn đi
vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế trọng điểm, thực hiện sự
mở cửa rộng rãi, khuyến khích xuất nhập khẩu, đồng thời quan tâm đến thị
trờng trong nớc.
Nền kinh tế của một quốc gia chỉ có thể đạt đợc tốc độ phát triển cao
và ổn định khi nó có một cơ cấu kinh tế hợp lý. Muốn vậy, vấn đề cần phải
giải quyết ở đây đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong 3 nội dung
của cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Về mặt lợng, đó là sự
thay đổi số lợng hoặc mối tơng quan tỷ lệ của mỗi ngành sản xuất so với
tổng thể nền kinh tế. Về mặt chất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đợc
thể hiện ở sự thay đổi phơng án bố trí các ngành trong cơ cấu với sự thay đổi
tính cân đối để chuyển sang một trạng thái mới hoặc trình độ cao hơn.
Nh vậy, để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách hợp
lý ta phải xác định số lợng các ngành, bố trí sắp xếp các ngành đó trong hệ
thống các ngành sản xuất trên cơ sở phân tích mối liên hệ sản xuất của từng
ngành, bảo đảm quan hệ tỷ lệ cân đối trong sự phát triển giữa các ngành.
Trong xu thế phát triển hiện nay, cơ cấu ngành của một quốc gia đợc
đánh giá là hợp lý khi tỷ trọng đóng góp vào GDP của quốc gia đó của từng
ngành theo thứ tự là nhóm ngành dịch vụ, nhóm ngành công nghiệp, và cuối
cùng là nhóm ngành nông nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một bộ phận quan trọng trong
chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nớc.
9
Thứ hai, chuyển dịch cơ câu kinh tế vùng lãnh: đó là việc tổ chức
phân công lại lao động theo lãnh thổ, tạo điều kiện để các vùng, các địa ph-
ơng phát triển đồng bộ và thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa chúng.

tốt các mục tiêu phát triển nền kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đối với nền kinh tế nớc ta, để thoả mãn hai điều kiện trên cần có các
giải pháp kinh tế để khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, phục vụ
tốt việc thực hiện các mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Đồng thời phải phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
của thành phần kinh tế nhà nớc và sử dụng các doanh nghiệp nhà nớc nh
một công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
2.1.3.Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế:
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình rất phức tạp và
lâu dài. Nó chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác
nhau. Về cơ bản, có các yếu tố sau:
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào các chiến lợc phát triển
kinh tế-xã hội của quốc gia.
Nền kinh tế của một nớc là một thể thống nhất hữu cơ giữa các bộ
phận của nó vừa độc lập lại vừa phụ thuộc lẫn nhau. Để nền kinh tế đợc vận
hành một cách thông suốt và liên tục thì phải có sự điều phối từ phía Nhà N-
ớc thông qua các chiến lợc phát triển, các chính sách phân công lao động
giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế. Đặc biệt, nền kinh tế nớc
ta là một nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghiã, do đó các chiến lợc của Đảng và Nhà Nớc đề ra phải
xuất phát từ tình hình thực tế của nền kinh tế. Do vậy, khi tiến hành chuyển
dịch cơ cấu kinh tế phải lấy chiến lợc kinh tế-xã hội vừa làm mục tiêu vừa
làm cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các phơng án.
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên.
11
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng bao gồm
số loại và khối lợng của các tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trờng, khí
hậu, vị trí địa lí của mỗi vùng. Những yếu tố này tác động mạnh tới sự hình

Dân số là một yếu tố tác động thờng xuyên, liên tục tới sự phát triển
của các ngành kinh tế. Nó ảnh hởng tới sức mua, tới khả năng và năng lực
của nền kinh tế.
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - kĩ thuật
của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế.
Mỗi ngành,mỗi vùng, mỗi thành phần kinh tế có những đặc đIểm
kinh tế kĩ thuật riêng. Đó là nững đặc điểm về sản phẩm, về nguyên liệu,
về công nghệ chế biến, điều kiện tự nhiên, lợi thế so sánh
Từ những phân tích ở trên, ta đã nắm đợc các khái niệm cơ bản về cơ
cấu kinh tế: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu lãnh thổ và nội dung của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các yếu tố tác động tới nó. Việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã đợc Đảng và
Nhà Nớc ta xác định là mục tiêu chiến lợc cần phải đạt đợc.
Vậy chúng ta sẽ xem xét tầm quan trọng hay tính tất yếu của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2.2. Tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở nớc ta hiện nay:
Một thực tế đang diễn ra ở nớc ta trong nhiều năm nay đó là năng
suất lao động xã hội thấp, các nguồn lực cha đợc khai thác hợp lí và đầy đủ,
tính cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trong nớc thấp. Nguyên nhân của
thực trạng trên là do cơ cấu kinh tế cha đợc sắp xếp một cách hợp lí.
Mặt khác, đứng trớc xu thế khu vực hoá và thế giới hoá đang diễn ra
mạnh mẽ, nớc ta phải có một nền kinh tế mạnh và tăng trởng cao để có thể
tham gia vào xu thế đó. Đồng thời thu hẹp khoảng cách phát triển tránh tụt
13
hậu so với các nớc trong khu vực, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị
trờng nớc ngoài, bảo đảm sự phát triển, tính năng động của nền kinh tế.
Điều này chỉ có thể thực hiện đợc khi nền kinh tế nớc ta có một cơ cấu hợp
lí. Do vậy, việc tiến hành cơ cấu kinh tế ở nớc ta hiện nay là một tất yếu.
Mặt khác, trong nền kinh tế nớc ta hiện nay đang tồn tại một nhân tố

vùng, ngành trên các địa điểm phù hợp. Bên cạnh đó, cần chú ý phát triển
các ngành công nghệ cao, để chúng trở thành các ngành mũi nhọn, tạo điều
kiện tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Đối với tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ:
Dới tác động của các yếu tố lịch sử nên mỗi vùng, mỗi địa phơng có
những đặc điểm về trình độ phát triển, khả năng, năng lực sản xuất, địa
điểm phân bố sản xuất khác nhau. Để có thể phát triển đợc kinh tế thì cần
kết hợp sức mạnh kinh tế của các vùng, các địa phơng để tạo nên sức mạnh
tổng hợp của cả nớc. Nhng trên thực tế, giữa các vùng, các địa phơng của n-
ớc ta còn có sự chênh lệch về trình độ phát triển. Đó là sự chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núiMột điều đáng tiệc ở
đây đó là các tiềm năng, các nguồn lực của nhiều vùng, nhiều địa phơng
không đợc quan tâm khai thác hợp lí.
Do vậy, giữa các vùng cần chủ động thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế để khai thác các nguồn lực, nâng cao mức sống của ngời dân.
Đối với tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần:
Nh đã nói ở trên nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần
với 6 thành phần cơ bản, mỗi thành phần giữ một vị trí vai trò khác nhau
trong nền kinh tế. Do vậy, để phát triển nền kinh tế, cần tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế phát triển. Đồng thời Đảng và Nhà Nớc ta cần xác
định rõ vai trò, phạm vi hoạt động của các thành phần kinh tế. Quan điểm
của Đảng ta là trong các thành phần kinh tế, kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò
15
chủ đạo. Nhng thực tế hiện nay cho thấy, hoạt động của daonh nghiệp nhà
nớc đạt hiệu quả rất thấp. Do đó cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần nhằm nâng cao sức mạnh của các thành phần kinh tế, đặc biệt kinh tế
nhà nớc để nó giữ đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân theo tiến
trình tiến lên chủ nghĩa xã hội của đất nớc ta.
3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt

với cơ cấu kinh tế công-nông-dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế
ngày càng sâu rộng .
Để thực hiện mục tiêu đó, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
lạc hậu thành cơ cấu kinh tế hiện đại, nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm rất
nhiều ngành nghề, nhiều quy mô gắn với công nghiệp chế biến; xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế
xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dụng , hàng xuất khẩu mở
rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu
hạ tầng, xây dựng nền công nghiệp nặng với những bớc đi thích hợp, trớc
hết là ngành phục vụ nông nghiệp. Thực hiện công nghiệp hoá và nhiệm vụ
liên kết kinh tế giữa các vùng tạo đIều kiện liên kết công nghiệp với nông
nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lu hàng hoá.
Thực hiện các chủ trơng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nền kinh tế
của Việt Nam đã có sự chuyển đổi tích cực tuy còn nhiều hạn chế.
Trớc hết trong chuyển dịch cơ cấu ngành, xét theo 3 khu vực lớn là
nông-lâm nghiệp-thuỷ sản, công nghiệp-xây dựng, dịch vụ thì khu công
nghiệp-xây dựng chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong GDP, năm 1995
chiếm 28,8%, năm 1997: 32,1%, năm 1999: 34,5%, năm 2000: 36,6%.
Trong 7 năm, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng đã tăng 9%, bình quân một
17
năm tăng 1,3%. Với mức tăng trởng này gần nh chắc chắn sẽ vợt mục tiêu
tỷ trọng GDP của công nghiệp-xây dựng năm 2005 theo nghị quyết kì họp
thứ 10, Quốc hội khoá X là 38-39%. Xét trong từng khu vực , cơ cấu các
ngành cũng đã có sự chuyển dịch tích cực. Năm 2001 đánh dấu bớc khởi
đầu quan trọng của việc cơ cấu lạI trong khu vực nông-lâm nghiệp-thuỷ sản,
theo hớng chuyển từ cây con có giá trị thấp sang cây con có giá trị cao để
tăng hiệu quả trên 1 ha canh tác, chuyển từ các sản phẩm cung đã vợt cầu
sang các sản phẩm có thị trởng tiêu thụ rộng lớn hơn hoạc có gia trị gia tăng
cao hơn. Biểu hiện rõ nhất là đã chuyển các cây lúa kém chất lợng năng suất
thấp sang trồng các loại cây lúa, hoa màu chất lợng tốt, năng suất cao. Bớc

cùng phát triển.
3.2. Những mặt tồn tại trong vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế:
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy mới bắt đầu nhng còn chậm và
còn những hạn chế bất cập.
Mặc dù năm 2001, ngành nông nghiệp đã đạt đợc một số thắng lợi
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, nhng
theo đánh giá của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, quá trình này còn
tiến triển chậm so với sự phát triển của thị trờng và sự trông đợi của ngời
nông dân. Kinh tế nông thôn vẫn nặng về nông nghiệp( chiếm 70%) và
trong nông nghiệp nặng nề về sản xuất lơng thực( chiếm 50%), trong khi n-
ớc ta vẫn phải nhập khẩu để đáp ứng 90% nhu cầu trong nớc về bông,sữa,
60% về đậu tơng, 50% thuốc lá, 10% ngô. Quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông thôn cha dựa trên cơ sở gắn kết giữa quy hoạch và chính sách thực
hiện quy hoạch nên vẫn còn nhiều yếu tố tự phát kém bền vững. Chẳng hạn
một số cây trồng nh cà phê, diện tích trồng gấp 1,5 lần diện tích quy hoạch;
hay cây mía trồng không đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy chế biến vì có
tới 14/44 nhà máy đờng chỉ đạt tới 50% công suất hoặc một số nhà máy hoa
quả mới xây dựng cũng chỉ đủ 5% nguyên liệu để chế biến
19
Trong tổng giá trị sản xuất nông lâm ng nghiệp thuỷ sản, ngành lâm
nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp, lại liên tục bị giảm sút; nếu năm 1990, còn
chiếm 6,6%; đến năm 2000-2001 chỉ còn 4,2% đến 4,3%. Trong giá trị sản
xuất nông nghiệp, chăn nuôi chỉ chiếm 16,5% và hầu nh không tăng trong
những năm qua.
Cơ cấu đầu t là nguồn gốc hình thành cơ cấu trong công nghiệp, nhng
các phân tích đều cho thấy nền công nghiệp đến nay vẫn cha là chỗ dựa để
giải quyết công ăn việc làm. Đờng lối chung phát triển công nghiệp là
khuyến khích đầu t vào các ngành thâm dụng lao động, nhng thực tế cho
thấy các ngành loại này vẫn cha phát triển tốt. Các chính sách gọi là đón

ớng tốt nhng còn chậm, việc chuyển dịch theo sự tự phát, nên mô hình cơ
cấu kinh tế còn kém hiệu quả, gây ra những trở ngại cho sự tăng trởng kinh
tế, đó là biểu hiện của sự không nhìn xa trông rộng.
Để cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công và thực sự
đem lại hiệu quả cho kinh tế đất nớc, cần phải có những biện pháp định h-
ớng rõ ràng và nghiêm túc thực hiện của các chủ thể kinh tế trong xã hội.

Phần II: Vai trò của tín dụng Ngân Hàng
với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.Thực trạng của hoạt động tín dụng Ngân Hàng
trong thời gian qua:
21
Hoạt động tín là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng,
nó là hoạt động sinh lời chủ yếu và luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng
tài sản có của các ngân hàng thơng mại. Tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò
quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đIều này thể hiện ở một số u
đãi về khối lợng vốn tín dụng và lãi suất cho các ngành nghề khác nhau với
từng giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mợn giữa ngân hàng với tất
cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không
phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm
thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức
trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mợn có
hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhợng
tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi.
Tín dụng ngân hàng có thể thoã mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn
của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động
nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội bằng nhiều hình thức và khối l-
ợng lớn.
Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tơng

ợc các ngân hàng thơng mại thực hiện với thời hạn dài đối với cá dự án
trọng đIểm của chính phủ, xây dựng cơ sở hạ tầngVì vậy, hiện nay kể cả
các ngân hàng thơng mại nhà nớc cũng thờng mất cân đối về kì hạn giữa
nguồn vốn và sử dụng vốn. Đặc biệt đối với nguồn vốn Việt Nam đồng, hầu
hết các ngân hàng này đều đã sử dụng tối đa tỷ lệ cho phép về sử dụng
nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Riêng đối với huy động bằng
ngoại tệ, do nguồn vốn hiện tại lớn hơn nhu cầu vay về ngoại tệ và tiến độ
giải ngân các hợp đồng tín dụng đã kí còn chậm, nên các ngân hàng thơng
23
mại vẫn phải gửi một phần vốn ngoại tệ đã huy động đợc tại các ngân hàng
ở nớc ngoài.
Hơn nữa, hiện trạng đầu t vốn tín dụng kém hiệu quả và không cân
xứng giữa các thành phần kinh tế cũng tác động không nhỏ đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế t nhân. Trong thời
gian gần đây, kinh tế t nhân đã tỏ rõ sự năng động cũng nh tính hiệu quả của
nó trong nền kinh tế thị trờng: huy động đợc các nguồn lực trong dân c, tại
ra nhiều công ăn việc làm cho một lực lợng lớn đảm bảo đời sống và do đó
góp phần đáng kể cho việc ổn định xã hội. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế t
nhân đang gặp phải một cản trở rất lớn đến sự phát triển của sản xuất kinh
doanh và hiện tợng phổ biến đối với toàn bộ doanh nghiệp, đó là tình trạng
thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất. Thực tế số doanh nghiệp có vốn
sử dụng dới 10 tỷ đồng chiếm 94,93%, bình quân vốn thực tế sử dụng một
doanh nghiệp là 3,7 tỷ đồng. Lợng vốn tự có của các ngân hàng thơng mại
chỉ đáp ứng 20% đến 30% yêu cầu. Các doanh nghiệp thiếu vốn dẫn đến
việc họ không có điều kiện để đầu t khoa học công nghệ hiện đại. ĐIều đó
lý giải tại sao khu vực kinh tế t nhân lại tập trung vào khu vực thơng mại
những ngành nghề đò hỏi ít vốn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu lãi ngay
chứ cha đủ sức đầu t vào những ngành nghề, lĩnh vực quan trọng đòi hỏi
nhiều vốn, có công nghệ hiện đại tiên tiến, tính chất của sản xuất nhỏ vẫn
tồn tại trong khu vực sản xuất này. Nhìn chung các doanh nghiệp t nhân

nông thôn chủ yếu do ngân hàng phục vụ ngời nghèo thực hiện. Mặc dù tín
dụng cho hộ nghèo đã ngày càng mở rộng, nhng d nợ cho vay hộ nghèo đến
nay chỉ chiếm khoảng 3% tổng d nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống ngân
hàng. Nhiều hộ nghèo, nhất là ở các vùng đặc biệt khó khăn vẫn cha đợc
vay vốn do một số nguyên nhân nh: bản thân hộ nghèo thiếu thông tin về tín
dụng và các cơ chế liên qua, thiếu lòng tin khả năng hoàn trả vốn vay, trình
độ dân trí thấp, các cán bộ làm tín dụng cho vay hộ nghèo chủ yếu là chiêm
25

Trích đoạn Về mở rộng tín dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status