Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Các hình thức tín dụng trên thế giới đã có một lịch sử phát triển lâu dài
và nay đang ở một mức độ rất cao. Trong quá trình phát triển của mình, tín
dụng đã góp phần mạnh mẽ vào sự phát triển nền kinh tế không chỉ trong
phạm vi một quốc gia mà trên toàn thế giới.
Hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn đầu trong
lịch sử phát triển của tín dụng. Do đó cần phải nghiên cứu nó, một mặt để
thấy đợc tác dụng của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, đồng
thời thấy đợc những hạn chế, vớng mắc nhằm đề ra những phơng hớng cho sự
phát triển của tín dụng trong tơng lai theo kịp với sự phát triển của Thế giới,
góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, hoạt động tín dụng phổ biến và mạnh mẽ nhất là
Tín dụng ngân hàng. Nên bài viết này chỉ tập trung vào loại hình tín dụng
này, xem xét tác động của Tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế Việt
Nam trong thời kì CNH-HĐH và xu hớng phát triển của nó trong tơng lai.
Chắc chắn bài viết còn nhiều thiếu sót, em mong đợc sự giúp đỡ sửa
chữa của thầy cô giáo.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng I. Lịch sử hình thành tín dụng và vai trò
của nó đối với nền kinh tế
I. Khái quát lịch sử ngân hàng và tín dụng ngân hàng.
Nghề ngân hàng là một nghề cổ xa, đã xuất hiện trên thế giới khoảng
2000 năm trớc Công nguyên tại thành cổ Babylone với các nghiệp vụ đổi
tiền, cho vay và các nghiệp vụ khác.
Các hoạt động nói trên của ngân hàng nói trên đợc tiếp tục qua nhiều
thế kỉ tại ven biển Địa Trung Hải, tại Hy Lạp, La mã, Trung Đông và các đô
thị lớn giải rác trên các con đờng tơ lụa, nối liền Trung Đông và Trung Hoa.
Trớc thế kỉ 15, ngời ta không thấy một cơ cấu hay một cơ quan đợc xem
nh là một ngân hàng thực sự nh theo quan niệm ngày nay.Phải mãi đến đầu
kinh doanh có những doanh nghiệp vừa bán đợc hàng nhng cha đến thời hạn
phải trả lơng cho công nhân, cha phải nộp thuế cho nhà nớc, cha phải thực
hiện các nghĩa vụ tài chính khác, cha cần dùng đến tiền để tiến hành đầu t
mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu cho chu kì sản xuất kinh doanh mới... nên
tạm thời thừa vốn. Nhng cùng lúc đó có những doanh nghiệp lại thiếu vốn
do đã đến lúc phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính, hay đang có một cơ hội
làm ăn hấp dẫn cần đầu t gấp... mà họ lại cha có vốn do cha bán đợc hàng,
cha thu đợc nợ.
Đối với cả hai doanh nghiệp, sự thừa hay thiếu vốn đêu gây ra những
thiệt hại. Doanh nghiệp thừa vốn, vốn nhiều không sử dụng hết đó là một sự
lãng phí. Còn ở doanh nghiệp thiếu vốn thì thiệt hại còn rõ nét hơn nhiều.
Nếu không trả đợc lơng cho công nhân công nhân có thể đình công gây đình
đốn cho việc sản xuất của doanh nghiệp; Không trả đợc nợ cho các chủ nợ
doanh nghiệp có thể lâm vào vòng kiện tụng, tài sản bị niêm phong; ở mức
thiệt hại nhẹ nhất là doanh nghiệp ít nhất phải chờ đến khi thu hồi đợc vốn
mới tiếp tục sản xuất kinh doanh đợc.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong thực tế mâu thuẫn này đợc giải quyết bởi sự xuất hiện của ngân
hàng làm trung gian tài chính cho cả 2 doanh nghiệp. Doanh nghiệp thừa vốn
có thể gửi số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình vào ngân hàng để thu lợi tức.
Còn doanh nghiệp thiếu vốn có thể đến ngân hàng vay vốn cho hoạt động của
mình.
Nh vậy số vốn nhàn rỗi đợc sử dụng một cách hiệu quả, các doanh
nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh liên tục qua các chu kì kinh doanh
khác nhau.Tổng hợp các doanh nghiệp (đại diện cho các thành phần kinh tế)
tạo ra nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động thuận lợi nghĩa là nền kinh tế ổn
định.
2.2. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng luôn có quan hệ tín dụng với Nhà
tế. Ngân hàng nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn, phát hành ra các công
cụ tài chính nh trái phiếu, chứng th tiền gửi loại lớn, phát hành Rps
(Repurchase Agreements), vay ngắn hạn bằng giấy nợ phụ...để vay vốn đông
thời có thể sử dung các loại giấy tờ có giá này trong thanh toán làm giảm l-
ợng tiền mặt trong lu thông, Ngân hàng có thể kiểm soát chặt chẽ và dễ dàng
hơn đối với dòng lu thông tiền tệ qua đố Ngân hàng nắm bắt đợc những sự
biến đổi của nền kinh tế kịp thời thông tin cho nhà nớc để áp dụng các chính
sách kinh tế vĩ mô để ổn định nền kinh tế.
Tóm lại, tín dung ngân hàng giải quyết vấn đề về vốn cho nền kinh tế,
phát triển kinh tế gia đình, doanh nghiệp và đất nớc, tạo ra những công cụ tài
chính góp phần đẩy nhanh dòng lu thông vốn trong nền kinh tế.
2.3. Tín dụng ngân hàng tạo cơ sở cho lãi xuất ngân hàng xuất hiện,
thúc đẩy Tín dụng thơng mại phát triển.
2.3.1. Tín dụng Thơng mại và giấy bạc ngân hàng.
Tiền tệ ra đời làm trung gian trong việc trao đổi hàng hoá, thúc đẩy sản
xuất và lu thông hàng hoá. Nhờ có tiền làm phơng tiện thanh toán mà đã tạo
điều kiện cho hoạt động mua bán chịu giữa ngời sản suất và những ngời làm
chức năng lu thông hàng hoá. Ngời mua đã sẵn sàng mua, ngời bán đã sẵn
sàng bán nhng chỉ thiếu tiền do đó xuất hiện quan hệ tín dung Thơng mại.
Tham gia quan hệ tín dụng thì ngời mua không phải trả tiền ngay mà sau một
thời gian nhất định mới trả tiền và đơng nhiên họ phải trả cao hơn giá hiện
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tại, khoản chênh lệch giá đó là chi phí thêm mà ngời mua phải trả thêm cho
việc mua chịu hàng của ngời bán.
Khi mua bán chịu với nhau, thời kì đầu ngời mua phải viết giấy nợ và
cam kết sẽ trả cho ngời bán số tiền nợ mua hàng sau một thời gian nhất định,
giấy nợ đó gọi là kì phiếu thơng mại. Ngày nay, kì phiếu thơng mại đợc gọi
là hối phiếu, hay còn gọi chung cho cả hai loại là Thơng phiếu. Về bản chất
kì phiếu thơng mại và hối phiếu không có gì khác nhau, chỉ khác là hối phiếu
đáp ứng yêu cầu sản xuất và lu thông hàng hoá.
Từ sự phân tích trên cho thấy lu thông thơng phiếu là cơ sở cho việc lu
thông giấy bạc Ngân hàng. Và sự ra đời của giấy bạc Ngân hàng, một loại
tiền mới thay thế cho tiền vàng, có sự góp phần không nhỏ của tín dung Ngân
hàng, tín dụng Ngân hàng là cầu nối cho sự chuyển đổi đó.
2.3.2. Sự hình thành lãi suất ngân hàng.
Do sự phát triển của sản xuất và lu thông hàng hoá đã đẫn đến sự ra đời
của tiền tệ. Tiên tệ ra đời đã đáp ứng đợc nhu cầu của sự mở rộng quan hệ
kinh tế, rở rộng thị trờng, làm cho kinh tế hàng hoá phát triển lên một mức
cao hơn.Nhất là đến thời đại Phục hng thế kỉ XV, XVI cả Châu Âu bừng tỉnh
hoạt động kinh tế vơn ra khỏi hàng rào cát cứ phong kiến của các lãnh
chúa để hình thành thị trờng dân tộc thống nhất, vơn ra khỏi biên giới một
quốc gia, tiến hành buôn bán hàng hoá, giao lu kinh tế giữa các nớc với nhau.
Khi đó để đảm bảo cho việc thanh toán và dự trữ tiền vàng đợc an toàn những
ngời buôn bán gửi tiền vào những xởng vàng_ tạm gọi là các Ngân hàng và
Ngân hàng phát hành ra ngân phiếu dựa trên lợng tiền mà khác hàng đã gửi
vào. Do ngân phiếu thanh toán thuận tiện và an toàn hơn tiền vàng nên nó
nhanh chóng đợc sử dụng phổ biến và đồng thời tiền vàng cũng ít đợc rút ra,
trừ trờng hợp phải thanh toán ở những nơi ngân phiếu không đợc chấp nhận.
Do đó tiền vàng chủ yếu đợc cất giữ tại các ngân hàng và các chủ Ngân hàng
nhanh chóng phát hiện ra điều đó, họ mang số tiền vàng cất giữ đó cho vay
để lấy lãi. Tiền lãi đợc tính theo một tỷ lệ nhất định so với số tiền cho vay, tỷ
lệ đó gọi là lãi suất cho vay.
Do nhu cầu vay vốn ngày càng lớn và do ham muốn lợi nhuận, các
Ngân hàng không chỉ cho vay trên phạm vi số các khoản tiền gửi tại Ngân
hàng mà còn phải mở rộng hơn nữa lợng vố cho vay này, bằng cách vay để
cho vay. Sức cho vay của Ngân hàng phụ thuộc vào số lợng tiền mà Ngân
hàng đã tập trung thu hút đợc. Cho nên đã xuất hiện cuộc cạnh tranh giũa các
Ngân hàng nhằm thu hút nhiều hơn các khoản tiền trong dân chúng và cuộc
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
có thể đợc vay vốn. Đến đây không phải là Ngân hàng để tuỳ ý cho khách
hàng sử dụng số vốn mà không cần phải kiểm soát mà trái lại, Ngân hàng vẫn
tiếp tục giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng theo cam kết
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khi vay vốn hay không nếu có dấu hiệu bất ổn với số vốn đó lập tức Ngân
hàng sẽ rút vốn về để đảm bảo an toàn cho lợng vốn đó.
Qua hoạt động tín dụng mà Ngân hàng có thể có thể xâm nhập sâu vào
bên trong các doanh nghiệp hay các khách hàng để có thể nắm bắt đợc những
thông tin bí mật từ đó mà có thể kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp _
khách hàng, hớng hoạt động của doanh nghiệp theo những mục tiêu nhất
định, thông tin cho nhà nớc về nhng bất ổn về những chính sách của nhà nớc
đối với doanh nghiệp, dự liệu những vấn đề phát sinh giúp nhà nớc hoạch
định những chính sách hợp lý cho sự phát triển kinh tế nói chung.
Ngân hàng kiểm soát lợng vốn cho vay nhằm bảo đảm an toàn cho số
vốn đó nhng đứng về phía Ngân hàng không có gì bảo đảm rằng Ngân hàng
không vì lợi nhuận mà toàn bộ hoặc phần lớn lợng vốn huy động đợc và sự
mất khả năng thanh toán có thể xảy ra bất kì lúc nào và khi Ngân hàng lâm
vào tình trạng đó thì sẽ đẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn trong hệ thống
ngân hàng và toàn nên kinh tế. Để ngăn chặn nguy cơ đó, Nhà nớc quy định
một tỷ lệ dự trữ trên cơ sở lợng vốn mà Ngân hàng đã huy động đợc, gọi là tỷ
lệ dữ trữ bắt buộc, nhằm bảo đảm khả năng thanh toán cho Ngân hàng trong
mọi tình huống.
Xuất phát từ quan hệ tín dụng Ngân hàng đã hình thành nên phạm trù
tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tiếp đó tín dụng Ngân hàng đã tạo cho hệ thống các
Ngân hàng thơng mại môt khả năng vô cùng quan trọng đó là khả năng tạo
tiền. Giả sử Ngân hàng thứ nhất nhận một lợng tiền gửi là 10000 USD, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc là 10%. Ngân hàng này sẽ dự trữ là 10% * 10000 = 1000
USD và cho vay ra 10000 1000 = 9000 USD. 9000USD này lại đợc gửi
vào Ngân hàng thứ hai, Ngân hàng này sẽ dự trữ là 9000 * 10% = 900 USD
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc r
r
làm giảm số nhân tiền từ đó mà làm giảm lợng
tiền tạo ra qua hệ thống Ngân hàng thơng mại và tất nhiên Nhà nớc hoàn toàn
có thể làm ngợc lại khi muốn tăng lợng cung tiền cho nền kinh tế.
Ngoài công cụ là tỷ lệ dự trữ bắt buộc Nhà nớc cũng có thể sử dụng
công cụ lãi suất tín dụng trong quản lý kinh tế. Khi muốn khuyến khích các
nhà đầu t vào một ngành, lĩnh vực nào đó Nhà nớc thông qua Ngân hàng hạ
lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp đầu t vào lĩnh vc đó, ngợc lại để
hạn chế những ngành khác Nhà nớc tăng lãi suất cho vay đối với các doanh
nghiệp đâù t vào ngành đó. Nhờ đó Nhà nớc có thể cân đối nền kinh tế, thực
hiện những mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Với công cụ lãi suất chiết khấu là lãi
suất cho vay của Ngân hàng TW đối với Ngân hàng thơng maị Nhà nớc cũng
có thể tăng giảm lợng tiền trong lu thông. Khi lãi suất chiết khấu tăng thì lãi
suất cho vay của Ngân hàng thơng mại cũng tăng sẽ làm giảm lợng tiền vay
của công chúng làm giảm lợng tiền trong lu thông.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nh vậy thông qua hoạt động tín dụng mà các Ngân hàng có thể thực
hiện chức năng kiển soát nền kinh tế mặt khác tín dụng Ngân hàng đã tạo ra
các công cụ của chính sách Tái chính-Tiền tệ cho Nhà nớc, góp phần ổn định
nền kinh tế,thc hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng II: TíN DụNG NGÂN HàNG TRONG ThờI Kỳ CNH-
HĐH ở VIệT NAM
I. Lịch sử ngành Ngân hàng Việt Nam và những đóng
góp của Ngân hàng và tín dụng ngân hàng trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc.
Ngân hàng ở Việt Nam ra đời gắn liền với quá trình sâm lợc và khai