PHÂN CÔNG LẠI LAO ĐỘNG XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Mác: "... Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
của một dân tộc bộc lộ rõ rệt nhất ở trình độ phát
triển của sự phân công lao động...".
Trong thời đại ngày nay, cùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc tiến hành phân
công lại lao động xã hội ở Việt Nam là một vấn đề tất yếu khách quan.
Đồng thời cũng không thể không xem xét mối quan hệ tương quan đến thế
giới bên ngoài. Sự phát triển đan xen cũng như sự phân công lao động hợp
tác quốc tế, sự thâm nhập kinh tế giữa các nước với nhau đã nói lên tính
phong phú, đa dạng của nền kinh tế mỗi nước. Vì vậy, trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi
hỏi phải chú ý đến sự phát triển nội lực kinh tế bên trong của đất nước,
trong đó vốn quý trước mắt và lâu dài vẫn là nguồn lực lao động trong xã
hội.
Là một nước nông nghiệp với tỷ lệ 80% dân số và 73% lao động
nông nghiệp. Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là phải đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động trong nông
nghiệp, nông thôn theo hướn công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vị trí rất
quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Song như chúng ta đã biết việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung hay sự phân công lại lao động nông
nghiệp, nông thôn nói riêng đều chịu sự tác động của môi trường tự nhiên
và vị trí địa lý của mỗi vùng trong nước. Ở những vị trí địa lý khác nhau
thì việc xác định phân công lại lao động xã hội trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế cũng có sự khác nhau. thực tiễn vừa qua cho thấy giá trị sản
lượng nông nghiệp còn chiếm trên 70% trong cơ cấu kinh tế nông thôn,
trong khi đó đất nông nghiệp ngày càng bị co hẹp lại bởi quá trình phát
triển dân số và công nghiệp hóa đô thị hóa. Mặt khác, thời tiết thất thường,
càng làm nặng nề thêm tình trạng quá thừa lao động giản đơn và thiếu lao
động kỹ thuật. Chính sự quá thừa và quá thiếu này đang đặt ra những đòi
hỏi bức xúc và hết sức phức tạp ảnh hưởng đến việc phân công lại lao
động xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về trình độ chuyên môn của người đang có việc làm
2
Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của con người lao động ở
nước ta nói chung là rất thấp, qua cuộc khảo sát 1997 Tổng liên đoàn lao
động Việt Nam đưa ra các con số sau đây:
- Về trình độ văn hóa: Cấp 1
: 4,1%
Cấp 2
: 19%
Cấp 3
: 32%
THCN
: 14%
ĐH và trên ĐH: 4,3%
hợp lý: 1 đại học, 1,5 trung học và 3,5 công nhân, trong khi đó cơ cấu lý
tưởng về lao động của một quốc gia đang phát triển là 1-5-20. Dẫn đến hậu
3
quả là sinh viên tốt nghiệp đại học dư thừa, thiếu việc làm trong khi đó
đơn đặt hàng cho nhu cầu lao động kỹ thuật lại không đáp ứng được. Mặt
khác, trong quá trình phân công lại lao động xã hội ở trong ngành nông
nghiệp, nông thôn gặp một cản trở rất lớn. Vì hiện nay, trình độ dân trí ở
nông thôn còn rất thấp, cụ thể: chưa hết cấp 1 là 0,27%; cấp 1 là 37,07%,
cấp 2 là 46,86%, cấp 3 là 15,80%. Từ thực trạng đó đòi hỏi việc nâng cao
mặt bằng dân trí ở nông thôn để tri thức hóa lao động nông nghiệp theo xu
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu rất bức xúc.
Để minh họa so sánh mối tương quan về trình độ học vấn của lực
lượng lao động Việt Nam với một số nước qua các số liệu như sau:
Trình độ giáo dục của dân số ở độ tuổi lao động (%)
Việt Nam
1989
Singapo
1990
Malaixia
1989
Đại học và sau trung học
5,1
47
30
40
37
Trình độ
Hàn Quốc Đài Loan
1989
1987
H.Kông
1990
Nguồn: Economic, Survey of Singapore 1992. Số liệu Niên giám
thống kê 1994, 1995. Nxb Thống kê, 1996 và số liệu T.Đ.T.DS.VM 1989.
Qua số liệu trên cho thấy rõ tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có
học vấn cao đẳng, đại học và sau đại học của Việt Nam là rất thấp chỉ có
2,0%. Từ thực trạng đó NQ Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã có chỉ tiêu
thực hiện mục tiêu đến năm 2000 phải thay đổi hợp lý cơ cấu đào tạo theo
trình độ và ngành nghề đạt từ 22-25% lao động được qua đào tạo (năm
1998 đạt 14%).
Với trình độ dân trí và chuyên môn nói trên của người lao động, là
một thách thức trở ngại lớn trong quá trình phân công lại lao động xã hội
theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với đất nước. Mặt khác,
việc chuyển đổi cơ chế vừa qua đã dẫn đến tình trạng từ 30-35% số lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước dôi ra cần phải sắp xếp lại và 60-70%
động hàng hóa sang phi hàng hóa. Hai vấn đề nàycần được nhà nước quan
tâm đồng bộ, bắt đầu từ việc quy hoạch lại thị trường lao động.
Để thực hiện được điềunày thiết nghĩ nhà nước cũng cần có chính
sách khuyến khích cả người dạy và người học và người dạy nghề. Mạnh
dạn chuyển từ trọng tâm đầu tư "thầy" sang "trò" theo cơ cấu các nước
đang đào tạo phát triển: 1-5-20. Có như vậy, việc phân công lại lao động
xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa hàng hóa mới thực hiện được cơ bản.
5
6