Vấn đề lao động dôi dư trong quá trình đổi mới , sắp xếp lại doanh nghiệp NN - Pdf 12

Lời nói đầu
Đổi mới sắp xếp lại DNNN là một chủ trơng đúng của Đảng và Nhà nớc
ta. Sau hơn 10 năm điều chỉnh, đến nay số DNNN đã giảm mạnh từ 12.300
doanh nghiệp năm 1990 xuống còn 5.280 doanh nghiệp đầu năm 2001. Cùng
với việc tổ chức hoạt động cơ theo mô hình Tổng công ty 90 91, cổ phần hoá
và đa dạng hoá một bộ phận DNNN, việc sắp xếp lại DNNN ở các Bộ, ngành và
địa phơng cũng có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu vốn và lao động cơ. Điều đó đã
góp phần tích cực xây dựng và phát triển kinh tế Nhà nớc trở thành lực lợng chủ
đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần, đóng góp tỷ trọng lớn vào tăng trởng
đất nớc và là một công cụ để Nhà nớc định hớng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế
quốc dân.
Tuy nhiên, việc đổi mới, sắp xếp lại DNNN mới chỉ thu đợc kết quả bớc
đầu. Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, DNNN vẫn còn nhiều mặt yếu kém.
Tiến trình cổ phần hoá, sáp nhập, giải thể, bán, khoán, cho thuê một số DNNN
hết sức khó khăn và chậm lại do cha xử lý đợc công nợ, lao động dôi d và tâm
lý xã hội
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, bên cạnh việc tiếp tục điều
chỉnh, sắp xếp các doanh nghiệp cũ, Nhà nớc cần đa ra những giải pháp để khắc
phục các vấn đề còn tồn đọng trên. Đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất các
ảnh hởng và hậu quả tiêu cực trong quá trình đổi mới DNNN thời gian tới.
Trong giai đoạn trớc mắt cần tập trung giải quyết lao động dôi d trong
DNNN.Đó là một vấn đề cấp thiết hiện nay vì nếu không giải quyết tốt việc làm
cho ngời lao động, đặc biệt là lao động trong DNNN sẽ dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Vì vậy,
em chọn đề tài Vấn đề lao động dôi d trong quá trình đổi mới, sắp xếp lại
DNNN làm đề án môn học.
Do thời gian nghiên cứu không nhiều và sự hạn chế về trình độ, bản đề án
của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự thông
cảm và những ý kiến đánh giá quý báu của cô.
Em xin chân thành cảm ơn.
Chơng i. Đổi mới, sắp xếp lại DNNn - h-

vậy sự có mặt của DNNN trong lĩnh vực đầu t xây dựng cơ bản đóng vai trò tạo ra
các điều kiện tiền đề cần thiết để các doanh nghiệp khác có thể hoạt động .
Vai trò của DNNN ở nớc ta hiện nay còn thể hiện ở góc độ đóng góp vào
ngân sách nhà nớc. Trong suốt quá trình phát triển nền kinh tế ở nớc ta từ trớc đến
nay DNNN đã, đang và sẽ là lực lợng tạo ra nguồn thu lớn nhất cho ngân sách Nhà
nớc.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế của nớc ta hiện nay, DNNN còn góp
phần đáng kể vào việc tạo ra các hình thức mới trong nền kinh tế quốc dân. Đó là
phần lớn các đối tác trong các doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài là Nhà nớc,
doanh nghiệp Nhà nớc đi đầu trong các lĩnh vực công nghệ cao (diện điện tử, bu
chính viễn thông...), đi đầu trong việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các
ngành mũi nhọn then chốt.
Tóm lại, nền kinh tế nớc ta hiện nay đòi hỏi phải duy trì một số doanh
nghiệp có quy mô lớn ở một số lĩnh vực nhất định, chỉ có các DNNN mới có đủ
điều kiện để đáp ứng yêu cầu này. Bên cạnh đó DNNN còn phát triển ở nhiều quy
mô khác nhau, đặc biệt là ở quy mô vừa. Việc phát triển DNNN dới nhiều hình thức
khác nhau, nh DNNN độc lập, DNNN là các tổng công ty... góp phần làm phong
phú các hình thức DNNN của nền kinh tế quốc dân.
2.2. Kinh tế Nhà nớc tạo động lực cho các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác.
Vai trò này đợc thể hiện chủ yếu theo các hớng sau đây:
Thứ 1: Thúc đẩy, tạo đà và dẫn dắt các doanh nghiệp khác cùng góp phần
vào việc tăng trởng kinh tế. Để làm đợc điều đó DNNN phải giữ vị trí then chốt
trong một số ngành cũng nh một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Nhng các ngành, các lĩnh vực then chốt này cũng thay đổi theo các giai đoạn phát
triển của lịch sử. Vì vậy, Nhà nớc cần có chính sách phát triển kinh tế phù hợp cho
từng thời kỳ.
Thứ 2 : Doanh nghiệp Nhà nớc đóng vai trò thúc đẩy, chuyển giao và phát
triển công nghệ kỹ thuật hiện đại. Trong nhiều lĩnh vực chuyển giao công nghệ
không phải và không thể phát huy tác dụng trong thời gian ngắn và cũng xảy ra

Vai trò xây dựng xã hội mới đợc thể hiện ở việc hạn chế các khuyết tật của
cơ chế thị trờng , cung cấp các hàng hoá công cộng.....
II. Sự cần thiết phải đổi mới, sắp xếp lại DNNN
1. Những tồn tại yếu kém của DNNN
Trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay việc phát huy vai trò
chủ đạo của DNNN còn những mặt tồn tại, cha thực sự làm đòn bẩy để đẩy nhanh
tăng trởng kinh tế bền vững, ổn định; cha giải quyết đợc những vấn đề cơ bản về
mặt xã hội, vai trò mở đờng, hớng dẫn, giúp đỡ các thành phần kinh tế khác và vai
trò đối tác chính của DNNN trong liên doanh còn yếu, cha tạo đủ vật chất để đảm
bảo những cân đối lớn của nền kinh tế và để Nhà nớc thực hiện chức năng điều tiết
và quản lý vĩ mô, tình trạng tham ô lãng phí, tham nhũng trong DNNN còn gia
tăng....
Những tồn tại trên cha khắc phục đợc vì bản thân DNNN còn có những yếu
kém sau đây:
1.1. Số lợng DNNN còn quá lớn và dàn trải:
Số lợng DNNN cha đợc phân loại chồng chéo theo cơ quan quản lý và ngành
nghề, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nớc có quy mô nhỏ và vừa; số l-
ợng các công ty thành lập quá nhiều trong thời gian ngắn và cha đợc chuẩn bị đầy
đủ, nhất là các tổng công ty do các Bộ thành lập cha có bớc đi và điều kiện hợp lý
nên nhiều tổng công ty mới chỉ làm đợc chức năng trung gian, gom đầu mối quản
lý. Trong số trên 5000 doanh nghiệp, có tới 25% doanh nghiệp có số vốn dới 1 tỷ
đồng, trong đó 50% doanh nghiệp có số vốn dới 500 triệu đồng. Thậm chí có tỉnh
thành phố còn một số doanh nghiệp có vốn dới 100 triệu đồng. Trong số những
tổng công ty mới hình thành có một số công ty hình thành cha đầy đủ các điều kiện
nên hoạt động còn lúng túng, khó khăn kết quả còn hạn chế. Tốc độ tăng trởng của
DNNN có xu hớng chững lại chỉ có số ít các doanh nghiệp có quy mô lớn, công
nghệ hiện đại có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế và khu vực.
Nhiều DNNN cùng loại hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành
nghề kinh doanh, cấp quản lý tạo ra sự cạnh tranh không đáng có trong chính khu
vực DNNN với nhau. Các doanh nghiệp thuộc cùng một ngành nghề kinh tế kỹ

ờng quốc tế và khu vực thấp, sản lợng và giá xuất khẩu không cao. Số Giám đốc
doanh nghiệp vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nớc tăng lên, có vụ nghiêm
trọng nh TAMEXCO, dệt Nam Định Việc quy định về tính giá trị sản phẩm, vấn
đề công khai tài chính, giao vốn và bảo toàn vốn, tính giá thành, hạch toán có mặt
cha hợp lý, còn sơ hở nên dẫn đến tình trạng báo cáo lãi giả, lỗ thật làm cho việc
tính toán và đánh giá hiệu quả cha chính xác. vì vậy sức cạnh tranh của DNNN và
khả năng tự tái đầu t yếu.
1.4. Liên doanh với các chủ đầu t nớc ngoài bị thua thiệt lớn, thậm chí
mất vốn.
Tuy DNNN liên doanh với nớc ngoài có tác dụng thu hút vốn nớc ngoài vào
Việt Nam. Nhng mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh xuất khẩu không thực
hiện đợc, vốn của DNNN bị lỗ, tỷ trọng giảm, vì các chủ đầu t nâng giá đầu t của
các thiết bị đầu t (C1 và C2) lên, có loại đầu vào tăng lên 1,5 lần thậm chí 2 lần.
Bằng cách đó nhà đầu t tăng thu nhập riêng cho họ mà không ai kiểm soát đợc về
thực chất chủ đầu t đã lấy lợi nhuận thông quả hình thức tăng chi phí đầu vào mà
phía Việt Nam không kiểm soát đợc Nhìn bề ngoài là lỗ nh ng thực chất là lãi, lãi
này chủ đầu t thu trớc còn lỗ doanh nghiệp Việt Nam phải chịu. Đó là hậu quả của
việc thiếu cơ chế kiểm tra, quản lý, kiểm soát nhất là về mặt hạch toán tài chính.
Đây là sự thiếu cơ chế bảo đảm của Việt Nam trong liên doanh với nớc ngoài.
2. Nguyên nhân chủ yếu những tồn tại yếu kém của DNNN hiện nay.
2.1. Nguyên nhân do quá trình hình thành và phát triển lịch sử.
Nhiều DNNN phải gánh chịu hậu quả do quá trình lịch sử hình thành và phát
triển. Cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, giá trị sử dụng của số tài sản, thiết bị thấp
nhng tính giá trị để bảo toàn vốn và khấu hao lớn, ngợc lại một số tài sản thiết bị có
giá trị cao không đợc tính theo giá thị trờng nên giá trị vốn còn thấp. Cơ chế bao
cấp để lại một đội ngũ lao động quá lớn, trình độ thấp, sức khoẻ kém không đáp
ứng đợc yêu cầu sản xuất kinh doanh hiện nay. Trong khi đó cũng còn một số
DNNN lại tăng biên chế, nhng ngời làm thì ít, ngời ăn thì nhiều nên năng suất
không cao, thu nhập thấp.
Chủ sở hữu DNNN là Nhà nớc, nhng phải thông qua nhiều chủ sở hữu gián

ca máy là 15%, 3 ca máy là 20%. Các doanh nghiệp giấy sử dụng 80% công suất
thiết bị, Tổng công ty điện là 72,4%
Một số chính sách tạo vốn để phát triển và kinh doanh cha hợp lý và đồng
bộ. Khi chuyển sang cơ chế mới doanh nghiệp không chỉ lo vốn cho một khâu mà
cho cả 3 khâu: vốn cho đầu vào, vốn cho sản xuất, vốn cho tiêu thụ. Vốn Nhà nớc
trong thời kỳ bao cấp chủ yếu là vốn sản xuất, Nhà nớc cung ứng vật t và tiêu thụ
sản phẩm. Vì vậy, số doanh nghiệp nợ Ngân hàng Nhà nớc còn nhiều. Tình trạng
các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau là phổ biến và có xu hớng tăng lên, tỷ
lệ lợi nhuận để lại cho tái đầu t của doanh nghiệp còn quá nhỏ bé, số doanh nghiệp
bị lỗ, hoà vốn không đủ để nộp thuế sử dụng vốn và tái đầu t còn nhiều
Số doanh nghiệp huy động vốn trong dân và cán bộ, công nhân viên cho phát
triển còn ít. Thực tế đó đã làm cho tài chính của doanh nghiệp thiếu lành mạnh, số
nợ khoanh, nợ treo trong từng thời gian tăng lên do nguyên nhân bất khả kháng
cha đợc giải quyết dứt điểm, nên số nợ ngày một lớn và kéo dài, làm cho tài chính
của doanh nghiệp trở nên phức tạp và cũng không có khả năng để trang bị các dây
chuyền công nghệ tiên tiến.
Hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế ban hành và thực hiện cha cơ bản,
còn mang tính chất tình thế, đặc biệt việc tổ chức thực hiện còn chậm, cha nghiêm
túc nên hiệu lực thực hiện còn thấp. Sở dĩ nh vậy là vì chúng ta mới chuyển sang cơ
chế thị trờng theo định hớng XHCN nên cha đủ thời gian và kinh nghiệm xây dựng
hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế đồng bộ, có tính khả thi cao. Mặt khác, việc
hớng dẫn và tổ chức thực hiện cha kịp thời nghiêm túc, một số chính sách kinh tế vĩ
mô cha ổn định, hợp lý, có văn bản vừa công bố đã tạm thời đình chỉ. Ngoài ra, việc
quy định pháp luật, pháp lệnh đối với DNNN không thống nhất, cha hợp lý nhng
chậm sửa đổi , điều đó không những ch a tạo đợc môi trờng kinh doanh thuận lợi,
ổn định cho các doanh nghiệp phát huy tính chủ động sáng tạo, mà còn cản trở đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính sách tài chính của doanh nghiệp ch-
a hợp lý còn nặng về thu thuế suất cao, thuế tính chồng chéo và trùng lặp, thuế cha
khuyến khích tăng quy mô sản xuất và phát triển xuất khẩu, lãi suất cho vay còn
cao, thủ tục phiền hà, điều kiện cần để vay và thế chấp tài sản nhng lại thiếu cơ

hiệu quả còn thấp nên tình trạng thiếu vốn tăng lên.
Các hình thức tiền lơng, tiền thởng phân phối cho ngời lao động cha công
bằng còn bình quân, cha khuyến khích phát triển tài năng và nâng cao năng suất lao
động.
Công tác kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nớc đối với hoạt động
của doanh nghiệp và thủ trởng các đơn vị còn bị buông lỏng.
3. Sự cần thiết phải đổi mới, sắp xếp lại DNNN
Do yêu cầu của quá trình mở cửa để tiếp thu công nghệ cũng nh giao lu buôn
bán với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Quá trình này đòi hỏi mỗi tổ chức,
mỗi doanh nghiệp phải dần dần tách ra khỏi thế ỷ lại, dựa dẫm vào Nhà nớc mà
phải đứng vững trên đôi chân của mình, mỗi đơn vị trở thành một chủ thể kinh
doanh độc lập Nhà nớc chỉ đóng vai trò trung gian trong việc hỗ trợ về đầu ra, đầu
vào và công nghệ kỹ thuật cho những doanh nghiệp còn non yếu và thực sự có
triển vọng trong tơng lai.
Do quá trình CNH HĐH đã làm cho cơ cấu ngành nghề Việt Nam có sự
thay đổi đáng kể. Trớc kia từ cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ, ngày nay
chuyển sang công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và tơng lai sẽ là dịch vụ, công
nghiệp, nông nghiệp. Vì vậy, Đảng và Nhà nớc cần phải có chính sách chuyển dịch
các ngành, các lĩnh vực kinh tế sao cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại,
với đặc điểm, tình hình của đất nớc ta.
Do những yếu kém từ chính bản thân DNNN nên việc giữ lại tất cả các loại
hình DNNN trớc đây trong giai đoạn hiện nay là điều khó khăn và không cần thiết.
Quá trình mở cửa hội nhập Nhà nớc ta đang có chủ trơng đa dạng hoá các hình thức
sở hữu, khuyến khích nhân dân cả nớc tham gia làm kinh tế. Vì vậy việc giải thể,
phá sản các DNNN làm ăn thua lỗ kéo dài và việc giao bán, khoán, cổ phần hoá các
DNNN có thể khôi phục đợc là một chủ trơng đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta
nhằm mục đích nâng cao sức cạnh tranh của các DNNN, tạo môi trờng kinh doanh
bình đẳng cho các thành phần kinh tế, huy động tối đa nguồn vốn trong dân, đồng
thời phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi doanh nghiệp trong guồng máy phát
triển chung của đất nớc

Nhờ sắp xếp, đổi mới DNNN, hiệu quả hoạt động đợc nâng lên đáng kể, cơ
cấu DNNN đợc điều chỉnh hợp lý có tác dụng tích cực đối với việc tích tụ và tập
trung vốn, hình thành và phát triển một số doanh nghiệp mới có sức cạnh tranh và
hiệu quả, trình độ công nghệ kỹ thuật cao. Tỷ lệ nộp ngân sách trên một đồng vốn
đầu t tăng từ 14,7% năm 1991 lên 40,2% năm 2001.
2. Những tồn tại yếu kém
Tuy nhiên đến năm 2001 vẫn còn khoảng 60% DNNN trong đó 40% hoạt
động thất thờng và 20% thua lỗ, hoạt động tài chính của nhiều DNNN còn thiếu
lành mạnh, năng suất lao động còn thấp. Một trong những nguyên nhân quan trọng
tác động trực tiếp đến hạn chế trên là tình trạng lao động dôi d lớn trong các DNNN
cả trớc và sau khi đổi mới. Vì vậy, việc giải quyết lao động dôi d là một việc làm
quan trọng góp phần làm giảm thất nghiệp chung của cả nớc, đồng thời nâng cao
sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các DNNN. Đây là một việc làm đã đợc
Đảng và Nhà nớc ta quan tâm giải quyết nhng do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan vẫn cha có đợc đáp án tối u. Vì vậy, lao động dôi d luôn luôn là một
vấn đề mới đòi hỏi mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cần có sự quan tâm, giải quyết và đa
ra những giải pháp khác nhau nhằm khắc phục hạn chế một trong những vấn đề có
tính cấp thiết hàng đầu này.
Qua sự nghiên cứu về quá trình đổi mới, sắp xếp lại DNNN em thấy việc giải
quyết lao động dôi d phù hợp với trình độ và năng lực bản thân nên em mạnh dạn
chọn đề tài này với mong muốn góp phần hiểu biết của mình vào giải quyết việc
làm cho nguồn lao động trong các DNNN nói riêng và ngời lao động trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung, góp phần làm tăng trởng và phát triển
đất nớc, thực hiện mục tiêu kế hoạch của thời kỳ CNH HĐH .
IV. đổi mới sắp xếp lại dnnn với vấn đề lao động dôi d
1. Quan điểm về lao động dôi d
1.1. Lao động dôi d thực tế
Đây là bộ phận lao động mất việc làm do doanh nghiệp giải thể, phá sản
hoặc thu hẹp phạm vi sản xuất.
Trong quá trình mở cửa để hội nhập với khu vực và trên thế giới có rất nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status