Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
Lời nói đầu
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã,
đang và sẽ trải qua những biến đổi lớn: các xí nghiệp quốc doanh tiến hành sắp
xếp lại, chuyển sang hạch toán kinh tế toàn phần, xoá bỏ tình trạng lãi giả lỗ
thật, tính toán hiệu quả thực sự để bảo đảm sự tồn tại của xí nghiệp mình...;
các bộ, các cơ quan Nhà nớc... cũng tiến hành sắp xếp lại sao cho có hiệu quả
nhất. Những sắp xếp đó là cần thiết và đơng nhiên sẽ làm cho một số lớn cán
bộ công nhân viên dôi ra, thêm vào đó tốc độ phát triển dân số trong những
năm trớc cao nên nguồn lao động hiện nay vẫn tăng nhanh làm cho số ngời b-
ớc vào tuổi lao động hàng năm vẫn lớn; t tởng chỉ muốn làm việc trong khu
vực Nhà nớc vẫn còn nặng nề trong mỗi ngời lao động. Trong khi đó giải
quyết việc làm, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lao động lại là một trong
những nhiệm vụ và nội dung quan trọng nhất của chiến lợc phát triển kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia.
Vì vậy giải quyết việc làm là một vấn đề hết sức khó khăn, nhất là đối
với lực lợng lao động d thừa khi cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nớc. Việc định h-
ớng cho một giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho ngời lao động sau khi
rời khỏi doanh nghiệp nhà nớc có vai trò hết sức quan trọng, mang tính chất
chiến lợc. Hơn nữa việc thực hiện đề tài này cũng là nhằm bớc đầu tiếp cận với
một vấn đề có ý nghĩa thiết thực mà công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của
đất nớc đang đòi hỏi ngày một cao ở nớc ta hiện nay.
Mục đích nghiên cứu đề tài
1
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
Một số lý luận về vấn đề lao động, việc làm, d thừa lao động và nhu cầu
việc làm của ngời lao động sau khi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc.
Phân tích đề xuất một số hớng nhằm góp phần giải quyết việc làm cho
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
Mục Lục
Trang
Lời nói đầu 1
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài
Chơng 1
Chuyển đổi kinh tế theo hớng thị trờng với vấn đề
Phân công lại lao động ở Việt Nam. 6
1 - Tình hình lao động và việc làm ở nớc ta trong quá khứ 6
2 - Đổi mới kinh tế với vấn đề lao động, việc làm theo hớng
thị trờng 7
3 - Hiện trạng việc làm thất nghiệp ở Việt Nam 11
4 - Quan điểm và biện pháp giải quyết việc làm cho ngời lao động 14
4.1. Một số quan điểm về giải quyết việc làm cho ngời lao động 14
4.2. Một số biện pháp giải quyết việc làm cho ngời lao động 15
Chơng 2
Phát triển kinh tế và đổi mới doanh nghiệp với vấn đề
d thừa lao động trong các doanh nghiệp nhà nớc 18
1 - Lao động và việc làm trong quá trình đổi mới doanh nghiệp
Nhà nớc 18
2 - D thừa lao động trong quá trình phát triển kinh tế và sắp xếp
lại doanh nghiệp Nhà nớc 21
3 - Các biện pháp chủ yếu để giải quyết d thừa lao động trong
các doanh nghiệp Nhà nớc 25
4
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
Chơng 3
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại
Nguyên nhân chủ yếu là trong hệ thống cấu trúc kinh tế xã hội cũ, nền
kinh tế phi hàng hoá nhất loạt theo sắp xếp của một kế hoạch cứng nhắc từ
trung ơng. Chỉ khuyến khích hai thành phần kinh tế XHCN (quốc doanh và
hợp tác xã) và đòi sớm loại trừ các thành phần kinh tế phi XHCN, muốn chỉ
còn 2 giai cấp: Công nhân và nông dân tập thể. Về mặt lao động thì thúc đẩy
mọi ngời lao động hoặc vào khu vực quốc doanh hoặc vào khu vực HTX, hạn
chế tự do làm ăn, sợ nẩy sinh CNTB, không coi trọng cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần, kinh tế mở cửa, dẫn đến sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, cha
6
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
quan tâm đúng mức đến xây dựng chiến lợc kinh tế - xã hội hớng vào phát
triển những ngành công nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút đợc nhiều lao động,
dẫn đến hạn chế khả năng khai thác các tiềm năng hiện có để phát triển việc
làm và tạo điều kiện để ngời lao động tự tạo việc làm cho mình và cho ngời
khác; chức năng Nhà nớc trong việc tổ chức lao động, giải quyết việc làm cho
xã hội cha đợc phát huy đầy đủ.
Từ sai lầm trên, chúng ta đã thiết kế một hệ thống chính sách và cơ chế
không hớng vào sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và giải quyết việc làm,
dẫn đến xu hớng Nhà nớc hoá, quốc doanh hoá việc làm, hạn chế tự do tự
tạo và tự kiếm việc làm.
Hệ thống đào tạo phục vụ chủ yếu cho cơ chế bao cấp, đào tạo theo kế
hoạch Nhà nớc và phân phối chủ yếu cho khu vực Nhà nớc, đào tạo cha gắn
chặt với sản xuất, với việc làm, số đông ngời đợc đào tạo không biết làm ăn,
sản xuất kinh doanh.
Trong xã hội hình thành tâm lý phổ biến đổ xô vào biên chế Nhà nớc, ỷ
lại vào sự phân công sắp đặt của Nhà nớc, ngời lao động ít tự chịu trách nhiệm
về cuộc sống của mình, hạn chế tính sáng tạo trong tìm kiếm việc làm. Vì vậy
mà không khai thác đợc ở mức tối đa mọi tiềm năng kinh tế của đất nớc cho
sản xuất kinh doanh. Về thực chất là bóp chết thị trờng lao động, kìm hãm sản
đối dài, nhng do chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm cùng với sự giảm sút
tốc độ tăng trởng kinh tế trong 2-3 năm gần đây, trong khi số ngời đến tuổi lao
động hàng năm khoảng 1,2-1,3 triệu ngời, nên vấn đề lao động và việc làm vẫn
còn là một trong các vấn đề trọng tâm của đổi mới. Việc đổi mới kinh tế cần
đặt trong mối quan hệ qua lại với giải quyết lao động, việc làm, phát triển
nguồn nhân lực, mà trọng tâm là giải quyết hàng loạt các vấn đề sau:
Thứ nhất, tình trạng thiếu việc làm và d thừa lao động đang ngày càng
trở nên bức xúc, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Do tốc độ chuyển dịch cơ
8
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
cấu chậm, và do đó sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu
vực công nghiệp và dịch vụ còn rất chậm.
Thứ hai, đổi mới kinh tế không chỉ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và lao động giữa 3 khu vực kinh tế nh nêu trên mà đổi mới doanh
nghiệp nhà nớc (DNNN) luôn đợc đặt ở vị trí u tiên hàng đầu, liên tục diễn ra
việc cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nớc và giải quyết các vấn đề về lao động,
việc làm trong khu vực DNNN. Việc cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nớc một
mặt đòi hỏi cơ cấu lại lao động dôi d trong khu vực DNNN, mặt khác phải chú
trọng hơn đến phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới của DNNN.
Bằng việc cổ phần hoá các doanh nghiệp đã huy động đợc một nguồn vốn lớn
ngoài xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, đầu t chiều sâu, đổi mới công
nghệ, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Thứ ba, 15 năm đổi mới cũng là 15 năm thực hiện chính sách mở cửa và
hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế. Một mặt, việc mở cửa và hội nhập đã
tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp thu công nghệ mới, kinh
nghiệm quản lý, nâng cao trình độ tay nghề và đổi mới phong cách làm việc
cho đội ngũ lao động. Nhng đồng thời, mở cửa và hội nhập cũng là nhân tố
dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực kinh tế. Hiện nay đã có
Thứ sáu, do tốc độ tăng thu ngân sách nhà nớc từ năm 1997 đến nay có
xu hớng giảm nên ảnh hởng đến việc chi cho giải quyết lao động dôi d trong
khu vực DNNN, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 1997 tốc độ tăng thu ngân sách chỉ đạt 5,3%,
lần đầu tiên thấp hơn cả tốc độ tăng trởng kinh tế kể từ năm 1993. Năm 1998
là năm liên tiếp thứ hai có mức tăng thu ngân sách thấp hơn mức tăng trởng
kinh tế. Tổng thu trên GDP đã giảm dần từ 22,9% năm 1996 xuống 20,5%
năm 1997 và 18,7% năm 1999. Tỷ trọng thu từ DNNN (nếu loại trừ thu thuế
xuất nhập khẩu) so với tổng thu ngân sách giảm liên tục từ 41,5% năm 1996
xuống khoảng 39,3% năm 1999 và từ chỗ thu từ doanh nghiệp nhà nớc chiếm
10
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
9,8% GDP năm 1995 xuống khoảng 7% GDP năm 1999. Nguyên nhân cơ bản
của xu hớng giảm tỷ lệ thu ngân sách nhà nớc là do tốc độ tăng trởng kinh tế
nói chung và của khu vực doanh nghiệp nhà nớc nói riêng bị sút giảm, do tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.
3. Hiện trạng việc làm - thất nghiệp ở Việt Nam
Số lao động có việc làm trong nền kinh tế tại thời điểm 1/7 hàng năm
ngày càng tăng. Năm 1996 mới có 33.760 nghìn ngời có việc làm, đến năm
1998 đã tăng lên 35.232 nghìn ngời có việc làm và lên 36.710 nghìn ngời có
việc làm vào năm 2000, mỗi năm tăng từ 726 nghìn đến 739 nghìn ngời có
việc làm.
Năm 2001, số ngời đủ tuổi hoạt động kinh tế thờng xuyên đã lên tới
39.498 nghìn ngời, tăng nhiều so với các năm trớc đây.
Trong số những ngời có việc làm nói trên, số ngời có việc làm mới tạo
ra hàng năm tăng nhanh, từ 863 nghìn ngời mỗi năm trong giai đoạn
1991-1995 lên 1,2 triệu ngời mỗi năm trong giai đoạn 1996-2000; tăng trởng
việc làm bình quân là 2,9%/năm.
Cùng với tăng số ngời có việc làm, cơ cấu việc làm theo ngành cũng
1999
2000
2001
5,88
6,85
7,40
6,44
6,28
7,71
9,09
10,31
7,95
7,39
Nguồn: Niên giám thống kê 2001, tr47
ở nông thôn, tỉ lệ thời gian lao động đợc sử dụng của dân số hoạt động
kinh tế thờng xuyên mới đạt trên 70%. Năm cao nhất cả nớc đạt 74,37%
(2001), năm thấp nhất đạt 71,13% (1998) (Xem bảng 2). Trong số những ngời
thất nghiệp, thiếu việc làm ở thành thị và nông thôn, số thanh niên mới bớc
12
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
vào độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ đáng kể. Do đó giải quyết việc làm cho họ là
một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Bảng 2: Tỉ lệ thời gian lao động đợc sử dụng của dân số hoạt động
kinh tế thờng xuyên ở khu vực nông thôn. Đơn vị tính: %
Năm Tỉ lệ Vùng cao nhất
1996
1998
1999
2000
nớc ngoài còn lúng túng...
Thứ ba, về chất lợng lao động cha đáp ứng đợc nhu cầu công việc. Chất
lợng lao động tuy từng bớc đợc nâng cao, tỉ lệ lao động đợc đào tạo tăng từ
10% năm 1996 lên 20% năm 2000, trong đó đào tạo nghề khoảng 13,4%, song
nhìn chung cha đáp ứng đợc yêu cầu của sản xuất nhất là ở các nghề mới xuất
hiện trong các năm gần đây thuộc các ngành công nghiệp - xây dựng - dịch vụ.
Điều này xảy ra ở các cơ sở sản xuất của các thành phần kinh tế, dễ nhận thấy
nhất là ở khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
Thứ t, sự gia tăng nguồn lao động. Do tốc độ tăng nguồn lao động còn
lớn (2,1%/năm), dân số trong độ tuổi lao động tăng hàng năm trên 1 triệu ng-
ời, cha kể số lao động cha có việc làm của các năm trớc chuyển sang, trong
khi khả năng thu hút lao động hàng năm cha đạt đợc mức đó nên xảy ra tình
trạng thất nghiệp, thiếu việc làm. Ngoài ra, việc sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà
nớc cũng khiến cho lao động dôi d ra hàng năm không nhỏ (dự kiến đến năm
2005 sẽ có khoảng 25 vạn lao động dôi d cần đợc bố trí việc làm), bộ đội xuất
ngũ, học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trờng sẽ góp thêm vào số ngời cần giải
quyết việc làm hàng năm.
4. Quan điểm và biện pháp giải quyết việc làm cho ngời lao động
4.1. Một số quan điểm về giải quyết việc làm cho ngời lao động
Để giải quyết việc làm tốt hơn nữa, cần quán triệt các quan điểm sau:
_ Giải quyết việc làm là nhiệm vụ của từng cá nhân, tập thể, các thành
phần kinh tế, các ngành, các cấp. Từng gia đình, đến phuờng, xã, quận, huyện,
tỉnh và trung ơng đều có trách nhiệm giải quyết việc làm. Các thành phần kinh
tế, các đoàn thể kinh tế xã hội đều phải coi giải quyết việc làm là một trong
những nhiệm vụ kinh tế - chính trị và xã hội quan trọng.
14
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
_ Giải quyết việc làm cho những ngời có nhu cầu làm việc. Những đối t-
ợng cần đợc u tiên là các đối tợng chính sách, thanh niên mới bớc vào tuổi lao
vệ sinh an toàn thực phẩm...cũng sẽ thu hút nhiều lao động, góp phần nâng cao
chất lợng cuộc sống, ổn định xã hội, giảm gia tăng dân số và nguồn lao động,
giảm hiện tợng dân nông nghiệp, nông thôn ra thành phố, khu công nghiệp tìm
việc làm một cách tự phát.
_ Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế ở thành thị. Với u thế của
mình, các doanh nghiệp Nhà nớc sẽ phát triển theo chiều rộng và chiều sâu,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát huy lợi thế cạnh tranh sử dụng
nhiều lao động có khả năng chiếm lĩnh thị trờng trong nớc về xuất khẩu của
các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông, dịch vụ, du lịch...
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần căn cứ vào nhu cầu
sản xuất, tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu, với khả năng về vốn, trình độ quản lý
và kỹ thuật có thể phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch, văn hoá, giáo dục, y tế...
_ Làm tốt công tác đào tạo nguồn lao động cho xuất khẩu lao động, tích
cực khai thác thị trờng mới, giữ vững thị trờng đã có, tăng cờng công tác quản
lý lao động ở nớc ngoài, sắp xếp lại các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu
lao động và cải tiến công tác tuyển chọn, thông tin về xuất khẩu lao động...
_ Nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật cho nguồn nhân lực
là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để giúp ngời lao động có khả
năng làm việc tìm đợc việc làm. Đặc biệt là đào tạo, bồi dỡng nghề cho ngời
lao động để tăng tỷ lệ lao động đợc đào tạo, đa dạng hoá hình thức đào tạo, bồi
dỡng với nhiều thành phần kinh tế tham gia. Các lao động mới bớc vào tuổi lao
động, lao động dôi d, lao động trẻ ở nông thôn là đối tợng cần đợc u tiên trong
việc trang bị các kiến thức và kỹ thuật về công nghệ mới liên quan đến trồng
trọt, chăn nuôi, các ngành nghề thủ công có điều kiện phát triển ở địa phơng
16
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
cũng nh các kiến thức cần thiết khác để cung cấp nhân lực cho các khu công
nghiệp mới, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
ợc.
Bên cạnh sắp xếp lại, các biện pháp cổ phần hoá DNNN và giao, bán,
khoán, kinh doanh, cho thuê DNNN đã đợc triển khai nhằm khơi dậy động lực
và hạn chế tình trạng mất việc làm, giảm gánh nặng bao cấp của Nhà nớc đối
với những doanh nghiệp không cần nắm giữ. Đến giữa năm 2000, số lợng
doanh nghiệp đã cổ phần hoá là khoảng 460 doanh nghiệp và có 27 DNNN đ-
ợc chuyển giao cho tập thể ngời lao động hoặc bán cho khu vực ngoài quốc
doanh.
Do đẩy mạnh đổi mới doanh nghiệp nhà nớc theo hớng cổ phần hoá, đa
dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nớc, sáp nhập, giải thể, cho thuê, khoán
kinh doanh, tổ chức lại sản xuất, đầu t công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của DNNN dẫn đến số lao động không bố trí đợc việc làm gia tăng.
Tổng số lao động của các doanh nghiệp dự kiến sẽ sắp xếp lại dới các hình
18
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
thức cổ phần hoá, sáp nhập, giải thể, giao doanh nghiệp cho tập thể ngời lao
động, bán doanh nghiệp, cho thuê, khoán kinh doanh trong 3 năm tới là gần
430 ngàn ngời. Trong đó có một bộ phận lao động sẽ không bố trí đợc việc
làm, một bộ phận khác chuyển sang làm việc ở các thành phần kinh tế khác.
Tính đến năm 2001 có khoảng 1,7 triệu lao động làm việc trong các
DNNN, chiếm khoảng 5% lực lợng lao động xã hội, trong đó doanh nghiệp do
trung ơng quản lý với hơn 1 triệu lao động và doanh nghiệp do địa phơng quản
lý với hơn 700 nghìn lao động. Tuy số lợng lao động không nhiều nhng trong
thời gian tới các biện pháp cơ cấu lại doanh nghiệp nh trên sẽ tiếp tục đợc thực
hiện. Đồng thời yêu cầu đổi mới công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp nhà nớc
để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới có ý nghĩa sống còn đối
với DNNN khi bớc vào hội nhập theo các điều kiện của AFTA sẽ làm cho lao
động dôi d trong doanh nghiệp nhà nớc tăng lên. Nh vậy sức ép về lao động
dôi d sẽ ngày càng tăng.
d, không chỉ trong khu vực DNNN mà cần tìm đến sự hỗ trợ của khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh với các cơ chế chính sách thích hợp về bảo đảm xã hội
cho số lao động chuyển dịch khỏi khu vực nhà nớc.
Do khu vực DNNN ít có khả năng tạo thêm việc làm đối với lao động
của các DNNN và lao động ngoài xã hội, vì tạo việc làm một phần quan trọng
phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của các DNNN và để tạo thêm chỗ làm
việc trong khu vực này cần tăng đầu t vào DNNN. Nhng giải quyết vấn đề này
gặp phải những hạn chế về nguồn tài chính và hiệu quả vốn đầu t, trong đó
một phần quan trọng không phải chi cho đầu t mở rộng sản xuất mà nhu cầu
cấp bách hiện nay là đầu t nâng cấp công nghệ, đầu t chiều sâu để nâng cao
năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh mới có tích luỹ
vốn để doanh nghiệp tự mở rộng sản xuất và trên cơ sở tích luỹ của doanh
nghiệp thì Nhà nớc mới có nguồn vốn để đầu t mở rộng sản xuất xã hội.
Mặt khác việc đẩy mạnh thực hiện đổi mới DNNN hiện nay bằng các
biện pháp cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê DNNN không chỉ đảm bảo
20
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
việc làm cho số lao động hiện có khi chuyển sang doanh nghiệp mới theo pháp
luật về lao động, mà quan trọng là tạo cơ sở vững chắc trên cơ sở hiệu quả cao
hơn trớc để tái tích luỹ, mở rộng sản xuất, thu hút lao động từ khu vực DNNN
chuyển sang và lao động ngoài xã hội.
Ngoài ra phải thực hiện các chính sách bảo đảm xã hội hợp lý để giải
quyết vấn đề lao động dôi d từ khu vực DNNN sang khu vực ngoài quốc
doanh.
2. D thừa lao động trong quá trình phát triển kinh tế và sắp xếp lại doanh
nghiệp Nhà nớc
Quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc, số lao
động thiếu việc là sẽ tăng lên. Đây là một thực tế khách quan đòi hỏi phải có
sự phân tích, đánh giá nghiêm túc để có những giải pháp hữu hiệu. Hơn nữa,
6. Thiếu nhất quán giữa khuyến khích lao động và việc quy định trách
nhiệm của giám đốc.
7. Chế độ lơng và hệ thống hỗ trợ cho lao động d thừa không hoàn chỉnh
và phù hợp.
Thực tế cho thấy, vấn đề trả lơng và việc khuyến khích ngời lao động là
những vấn đề gai góc nhất mà DNNN phải đối mặt khi phát triển nguồn nhân
lực. Hiện nay, Nhà nớc vẫn thực hiện chế độ quy định tỷ lệ mà các DNNN có
thể trích ra từ lợi nhuận để lập các quỹ khen thởng và phúc lợi. Đồng thời, Nhà
nớc cũng quy định mức lơng tối thiểu, tốc độ tăng lơng, các điều kiện để
DNNN áp dụng đợc hệ số điều chỉnh lơng để tính lơng cho ngời lao động.
Những quy định về quỹ lơng, thởng và phúc lợi đã tác động đến hoạt động và
khả năng sáng tạo của ngời lao động. Tuy nhiên, phần lớn các DNNN vẫn coi
lơng là vấn đề khó khăn ảnh hởng đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực của
doanh nghiệp và thờng phàn nàn về vấn đề khuyến khích vật chất, về đào tạo
lại lao động, về chế độ đãi ngộ để khuyến khích tự nguyện nghỉ hu...Những
22
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
vấn đề này làm cho việc giải quyết tình trạng d thừa lao động càng trở nên khó
khăn, phức tạp.
Quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá DNNN ở nớc ta những năm qua
cho thấy, số lao động d thừa thờng có những đặc điểm nổi bật sau:
_ Tình trạng d thừa lao động trong các DNNN địa phơng nghiêm trọng
hơn là các DNNN Trung ơng. Các DNNN ở các tỉnh phía Bắc có tỷ lệ lao động
d thừa cao hơn ở các tỉnh phía Nam.
_ DNNN trong các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ thơng mại
phải gánh chịu hậu quả d thừa lao động nặng nề hơn các ngành nông nghiệp,
lâm nghiệp, thuỷ sản trong quá trình đổi mới nói chung và cải cách DNNN nói
riêng.
_ Các DNNN có quy mô vừa và nhỏ có tỷ lệ d thừa lao động cao hơn so
động không có việc làm tìm việc làm mới hoặc tự tạo công việc cho mình...
Những chính sách trên đã góp phần tích cực vào việc giải quyết lao
động d thừa cho các DNNN trong quá trình chuyển đổi. Tuy nhiên, trên thực
tế, những chính sách và khung pháp luật về lao động đã bộc lộ một số hạn chế:
_ Các khoản trợ cấp theo quy định còn rất thấp và còn bị nhiều cơ chế
ràng buộc nên không tạo ra đợc những điều kiện và cơ hội cho ngời lao động
kiếm việc làm mới.
_ Các nhà quản lý ở các DNNN vừa và nhỏ rất khó dãn bớt lao động khi
bản thân ngời lao động không tự nguyện.
_ Việc đào tạo lại lao động còn có nhiều khó khăn, ách tắc, nhất là đối
với những ngời lao động đã cao tuổi, sức khoẻ yếu, trình độ hạn chế; họ rất
khó có thể theo kịp yêu cầu về công nghệ và sản xuất mới nhng cũng rất khó
sa thải.
_ Số lao động d thừa thờng vẫn tiếp tục trả bảo hiểm xã hội để đợc nhận
phúc lợi xã hội trong DNNN dẫn đến việc quản lý nguồn nhân lực của doanh
nghiệp trở nên phức tạp hơn.
24
Khả năng tìm việc làm của lao động đôi d sau khi sắp xếp lại DNNN
_ Khung pháp luật để giải quyết vấn đề d thừa lao động chỉ hạn chế ở
việc bồi thờng trực tiếp cho các lao động thôi việc tạm thời, cha giúp họ trở lại
thị trờng lao động.
3. Các biện pháp chủ yếu để giải quyết d thừa lao động trong các doanh
nghiệp Nhà nớc
Một là, khuyến khích, động viên ngời lao động dôi d trẻ tuổi đi đào
tạo, học nghề để chuyển sang sản xuất các sản phẩm mới hoặc xuất khẩu lao
động. Do sắp xếp lại DNNN, thay đổi mặt hàng và cơ cấu sản xuất nên các
DNNN vừa thừa lao động và cũng vừa thiếu lao động. Thừa lao động không
sản xuất các sản phẩm cũ (sản xuất sản phẩm mà doanh nghiệp vẫn đang sản
xuất), thiếu lao động để sản xuất các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng