Việc làm cuả lao động xuất khẩu sau khi hết hạn hợp đồng về nước ở Việt Nam - Pdf 11

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn với đề tài: " Việc làm
cuả lao động xuất khẩu sau khi hết hạn hợp đồng về nước ở Việt Nam" tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ công nhân viên tại Trung tâm Xuất
khẩu lao động và Chuyên gia - Công ty cổ phần Thuỷ sản khu vực I. Đồng thời
tôi cũng nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của TH.S Phạm Văn Chiến,
các thầy cô và các bạn sinh viên.
Tôi xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ toàn thể cán bộ công nhân viên công
tại Trung tâm Xuất khẩu lao động và Chuyên gia - Công ty cổ phần Thuỷ sản
khu vực I, sự chỉ bảo và hướng dẫn của TH.S Phạm Văn Chiến, các thầy cô và
các bạn sinh viên Khoa Kinh tế chính trị đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VÀ CÁC CHƯ VIẾT TẮT
LLLĐ : Lực lượng lao động
XKLĐ : Xuất khẩu lao động
LĐXK : Lao động xuất khẩu
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
PTTH : Phổ thông trung học
THCN : Trung học chuyên nghiệp
CĐ, ĐH : Cao đẳng, Đại học

Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Xuất khẩu lao động đã và đang là một hoạt động góp phần đáng kể trong
công tác tạo việc làm cho lao động, giảm thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, tăng

lịch sử để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tên khóa luận và kết cấu khóa luận
Tên khóa luận: “Việc làm của lao động xuất khẩu sau khi hết hạn hợp
đồng về nước ở Việt Nam”
Kết cấu luận văn:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về Việc làm của lao động xuất khẩu hết hạn hợp
đồng về nước.
CHƯƠNG 2: Phân tích thực trạng việc làm của lao động xuất khẩu sau khi
hết hạn hợp đồng về nước ở Việt Nam.
CHƯƠNG 3: Phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp tạo việc làm cho
lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng về nước.
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
2
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG
XUẤT KHẨU HẾT HẠN HỢP ĐỒNG VỂ NƯỚC.
1.1. Lý thuyết chung về việc làm và tạo việc làm
Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một giải pháp tạo việc làm khá phổ biến ở
các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề hiện nay là
chưa có giải pháp, chính sách cụ thể nào dành riêng về hậu XKLĐ – tái sử dụng
lao động xuất khẩu khi hết hạn hợp đồng về nước. Trước khi đi vào tìm hiểu
vấn đề này ta cần hiểu một số khái niệm liên quan như việc làm, thất nghiệp,
XKLĐ, lao động xuất khẩu, lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng về nước, tạo
việc làm…
1.1.1.Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp
Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp luôn là mối quan tâm hàng
đầu của mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế và của chính bản thân
mỗi người lao động. Đặc biệt đối với Việt Nam - nước có nền kinh
tế đang phát triển, đông dân cư, tốc độ tăng dân số khá cao trong
khi tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tạo việc làm còn thấp,

Lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động và quá trình đó chỉ có thể diễn
ra khi đã được giả định những tiền đề vật chất cho quá trình lao động đầy đủ đó
là đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Xét trên một quốc gia thì quá trình lao động sản xuất (việc làm) của bộ
phận dân cư có sức lao động được giả định trên cơ sở số lượng việc làm.Do đó
việc làm không chỉ diễn ra trong mối quan hệ sản xuất giữa con người với tự
nhiên mà còn giứ con người với nhau trong quá trình sản xuất.Trong đó liên
quan đến lợi ích kinh tế và lợi ích pháp luật khi tạo lập đầy đủ các yếu tố vật
chất.Do đó việc làm là ván đề có ý nghĩa về kinh tế -xã hội – chính trị rất quan
trọng đối với quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
4
Khóa luận tốt nghiệp
Ở nước ta trước năm 1986 thì việc làm được hiểu là những người lao động
là người có việc làm và được xã hội thừa nhận.nhưng sau đổi mới từ năm 1986
thì với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế thì việc làm cũng được hiểu theo nghĩa khác
và rộng hơn.Theo đó thì việc làm được hiểu là mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm.Với quan niệm như vậy thì sẽ
làm cho nội dung của việc làm được mở rộng hơn tạo điều kiện cho giải phóng
tiềm năng lao động, giải quyết được việc làm cho người thuộc nhiều thành phần
kinh tế khác nhau.
Thiếu việc làm
Thiếu việc làm hay còn gọi là thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình là những
người làm việc ít hơn mức mình mong muốn
Thiếu việc làm được hiểu là hoặc người lao động không có đủ việc làm theo
thời gian quy định trong tuần,trong tháng hoặc là làm những công việc có thu
nhập thấp không đủ để đảm bảo cuộc sống nên muốn làm thêm.căn cứ vào tình
trạng hoạt động kinh tế thường xuyên của những người đủ 15 tuổi trở lên trong
12 tháng thì dân số hoạt động kinh tế thường xuyên được chia làm 2 loại:

việc cũng có khả năng tìm ngay được việc làm khác phù hợp với năng lực và sở
thích cá nhân, như vậy sẽ không có thất nghiệp. Tuy nhiên, trình độ, năng lực,
sở thích của mỗi người lao động là khác nhau, đồng thời mỗi công việc cũng có
những thuộc tính khác nhau, các luồng thông tin giữa nhu cầu tìm việc làm và
chỗ làm còn trống không ăn khớp nhau… Do đó, để tìm việc làm phù hợp
người lao động cần có thời gian và nỗ lực tìm việc.
2
Trần Thị Thu – Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( phân tích tình
hình tại Hà Nội) (2003), Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2003
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
6
Khóa luận tốt nghiệp
Thất nghiệp cơ cấu: Là thất nghiệp phát sinh khi không có sự đồng bộ giữa
kỹ năng, trình độ lành nghề và cơ hội làm việc do cầu lao động và sản xuất thay
đổi. Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp cơ cấu: cơ cấu nền kinh tế thay đổi dẫn
đến nhu cầu phân phối lại, đào tạo lại lực lượng lao động, sự cứng nhắc của tiền
lương do sự chi phối của tiền lương tối thiểu,…
Thất nghiệp do thiếu cầu: Theo lý thuyết của Keynes thì khi tổng cầu của
nền kinh tế giảm kéo theo giảm cầu về lao động làm cho thất nghệp xuất hiện.
Trong nền kinh tế thị trường, tất cả đều phụ thuộc vào mức tổng cầu, gồm cầu
của cá nhân người tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ; cầu cho đầu tư của khu
vực sản xuất tư nhân; cầu cho đầu tư và tiêu dùng của chính phủ. Nếu tổng cầu
đưa mức sản lượng xuống thấp hơn mức sản lượng tiềm năng khi đó sẽ có một
mức thất nghiệp nhất định. Để giảm thất nghiệp thì cần kích cầu bằng cách tăng
trực tiếp chi tiêu của chính phủ hoặc chính phủ có chính sách khuyến khích đầu
tư tư nhân như cho vay với lãi suất thấp, trợ cấp giá cho đầu tư,…
Thất nghiệp theo mùa: Là thất nghiệp phát sinh do cầu lao động dao động
thường xuyên vào những thời kì nhất định trong năm như: cầu lao động của
nông nghiệp giảm sau vụ trồng cấy và kéo dài đến khi thu hoạch mùa màng, cầu
của ngành xây dựng giảm vào các tháng mùa mưa,…

4
Vậy tiêu thức để xác định người thất nghiệp gồm: (1) đang không có việc
làm, (2) tích cực tìm kiếm việc làm, (3) có khả năng lao động. Như vậy, người
lao động có khả năng lao động, không có nhu cầu làm việc làm đương nhiên
không được xếp vào nhóm người thất nghiệp.
3
Trần Thị Thu – Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( phân tích tình
hình tại Hà Nội) (2003), Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2003.
4
Trần Thị Thu – Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( phân tích tình hình
tại Hà Nội) (2003), Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2003.
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
8
Khóa luận tốt nghiệp
Người thiếu việc làm: Gồm những người trong khoảng thời gian xác định
của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định trong tuần,
trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc là những người có
tổng số giờ làm việc bằng số giờ theo quy định trong tuần, tháng, năm nhưng có
thu nhập quá thấp không đủ đảm bảo cuộc sống nên muốn làm thêm.
Tình trạng việc làm của lao động xuất khẩu (LĐXK) hết hạn hợp đồng về
nước cũng bao gồm: thất nghiệp, thiếu việc làm, có việc làm và một nhóm
không có nhu cầu tìm việc làm. Vậy trước khi đi vào nghiên cứu tình hình cụ
thể về tình trạng việc làm của LĐXK hết hạn hợp đồng về nước trước tiên ta
cần hiểu thế nào là XKLĐ, người đi XKLĐ, LĐXK hết hạn hợp đồng về nước
Trước khi đi tìm hiểu về XKLĐ cần hiểu các khái niệm cơ bản sau :
- Nhập cư chủ yếu đề cập đến người lao động (có nghề hoặc không có nghề)
từ nước ngoài đến một nước nào đó để làm việc.
- Xuất cư chủ yếu đề cập đến người lao động ra đi từ một nước nào đó tới
nước mà họ lao động (có thể là từ quê hương hoặc từ một nước quá cảnh).
- Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là

hợp đồng.
Người lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng: Nghĩa là những người Việt
Nam đi lao động ở nước ngoài đã hoàn thành thời gian lao động ở nước ngoài
ghi trên hợp đồng lao động.
Các nước đang phát triển rất quan tâm đến vấn đề xuất khẩu lao động để tận
dụng lợi thế so sánh phát triển kinh tế đất nước tạo việc làm cho lao động, song
một vấn đề đặt ra là việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước. Đây là một
bài toán đặt ra cho các nước để sao cho hoạt động XKLĐ – tạo việc làm cho lao
động không chỉ mang tính tạm thời mà làm cho XKLĐ là hoạt động mang tính
chiến lược lâu dài trong việc tạo việc làm cho người lao động, làm cho việc đi
XKLĐ là một lợi thế để khi hết hạn hợp đồng về nước LĐXK có cơ hội tốt hơn
6
– Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay – PGS, TS
Trần Thị Thu – Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
10
Khóa luận tốt nghiệp
trong việc tìm kiếm việc làm. Trước khi đi vào nghiên cứu tình hình tạo việc
làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước cần hiểu rõ thế nào là tạo việc làm –
tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước, các nhân tố ảnh hưởng đến
công tác tạo việc làm cho lao động nói chung, LĐXK hết hạn hợp đồng về nước
nói riêng, tìm hiểu khái quát một số mô hình tạo việc làm.
1.1.2.Tạo việc làm cho người lao động
Khái niệm: “Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu
sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội
khác để kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất với nhau”
7
.
Theo quan niệm như thế này thì tạo việc làm cho người lao động đòi hỏi
phải có những yếu tố cơ bản đó là TLSX với số lượng và chất lượng đầy đủ,

mình, đồng thời người sử dụng lao động có thể thuê được số lượng và chất
lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc sản xuất kinh doanh. Như vậy,
việc phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động là hết sức cần thiết để
nhu cầu tìm việc làm của người lao động và cầu về sức lao động gặp nhau, nó
không chỉ giúp cho người sử dụng lao động duy trì và mở rộng sản xuất kinh
doanh đồng thời cũng góp phần tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập,
cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế xã hội. Vì thế mà vấn đề
tạo việc làm có ý nghĩa rất to lớn đối với LĐXK hết hạn hợp đồng về nước.
Cơ chế tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước là cơ chế ba bên:
người lao động - LĐXK hết hạn hợp đồng về nước; Nhà nước và người sử dụng
lao động. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của LĐXK hết hạn hợp đồng về
nước và Nhà nước trong việc tạo việc làm cho chính bản thân người lao động có
sự hỗ trợ giúp đỡ của Nhà Nước.
Về phía người LĐXK hết hạn hợp đồng về nước, phải chủ động tìm kiếm
việc làm, tiếp cận với thông tin của thị trường lao động, tự tạo việc làm cho bản
thân, có kế hoạch sử dụng nguồn vốn mang về một cách có hiệu quả. Muốn có
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
12
Khóa luận tốt nghiệp
được cơ hội có việc làm thì đòi hỏi bản thân người XKLĐ hết hạn hợp đồng về
nước phải nhận thức được tầm quan trọng kiến thức, kỹ năng, phương pháp, …
trong sản xuất kinh doanh. Việc học nghề gì, học như thế nào và bằng cách nào
là câu hỏi đặt ra đối với mỗi người LĐXK, người lao động có thể tìm kiếm
thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tạp chí, hệ
thống dịch vụ lao động việc làm, các trung tâm dịch vụ XKLĐ và chuyên gia,
các trường lớp đào tạo nghề,… Sự nỗ lực của bản thân người lao động trong
việc tạo việc làm cho bản thân là yếu tố quan trọng nhất, kết hợp với sự hỗ trợ
của Nhà nước và kết hợp của doanh nghiệp làm cho công tác tạo việc làm cho
LĐXK hết hạn hợp đồng về nước đạt hiệu quả cao nhất.
Như vậy, người LĐXK hết hạn hợp đồng về nước muốn tìm được việc làm

sự kết hợp chặt chẽ giữa ba bên: Nhà nước, người sử dụng lao động và chính
bản thân người lao động – LĐXK hết hạn hợp đồng về nước sao cho cơ hội việc
làm và mong muốn được làm việc của LĐXK hết hạn hợp đồng về nước gặp
nhau trên thị trường lao động đúng lúc, đúng chỗ. Vì thế mà Nhà nước cần có
chính sách khuyến khích phát triển thông tin thị trường lao động, tạo điều kiện
thuận lợi cho người sử dụng lao động và LĐXK hết hạn hợp đồng về nước gặp
nhau.
1.1.3. Một số mô hình tạo việc làm (trong đó có LĐXK hết hạn hợp đồng về
nước)
Mô hình tạo việc làm được các công trình nghiên cứu đúc rút về lý luận và
áp dụng cho các đối tượng lao động trong đó có LĐXK hết hạn hợp đồng về
nước. Các mô hình tạo việc làm mang tính khái quát, lý luận được áp dụng
trong việc tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước như: Mô hình cổ
điển về tạo việc làm; mô hình tạo việc làm, thất nghiệp của Keynes; Mô hình
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
14
Khóa luận tốt nghiệp
tập trung vào quan hệ giữa tích lũy vốn, phát triển công nghệ và tạo công ăn
việc làm; Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp khuyến khích giá, tạo công ăn
việc làm; Mô hình chuyển giao giữa hai khu vực.
Mỗi mô hình đều có ưu điểm và hạn chế nhất định. Việc vận dụng mô hình
nào vào công cuộc tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước là tùy
thuộc vào điều kiện của từng vùng, từng địa phương và từng ngành kinh tế nhất
định. Việc áp dụng các mô hình một cách linh hoạt, kết hợp nhiều mô hình
đồng thời dựa trên điều kiện thực tế sẽ tạo ra ngày càng nhiều việc làm mới cho
LĐXK hết hạn hợp đồng về nước đồng thời duy trì và phát triển số việc làm
hiện có của lực lượng lao động này.
1.2. Sự cần thiết phải tạo việc làm cho lao động xuất khẩu hết hạn hợp
đồng về nước.
1.2.1.Đặc điểm của lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng trở về nước

sản xuất tiên tiến, hiện đại. Do vậy, nếu không có biện pháp và kế hoạch sử
dụng nguồn lao động này sẽ gây ra lãng phí nguồn lực đồng thời làm tăng tỷ lệ
thất nghiệp.
Thứ ba, LĐXK hết hạn hợp đồng về nước chủ yếu là lao động chính trong
gia đình. Theo số liệu điều tra nghiên cứu của các cuộc điều tra cho thấy trung
bình mỗi LĐXK hết hạn hợp đồng về nước phải nuôi khoảng 2 – 3 người phụ
thuộc. Như vậy, nếu lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng về nước không có
việc làm, đời sống của nhân dân gặp khó khăn, y tế, giáo dục không được quan
tâm,… gây ảnh hưởng đến chất lượng lao động trong tương lai tức là ảnh hưởng
đến đầu vào của quá trình sản xuất trong tương lai, gây ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế xã hội. Do đó mà công tác tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp
đồng về nước không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là nhiệm vụ mang tính
chiến lược.
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
16
Khóa luận tốt nghiệp
Thứ tư, LĐXK hết hạn hợp đồng về nước có được tác phong làm việc công
nghiệp, có vốn kiến thức và trình độ ngoại ngữ nhất định. Khi về nước họ có thể
tự bỏ vốn ra mở các cơ sở sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ không những góp
phần tạo việc làm cho bản thân và gia đình mà còn góp phần tạo việc làm cho
một lượng lao động địa phương nhất định. Do vậy, chính quyền các cấp, các
ban ngành từ trung ương đến địa phương cần có những chính sách hỗ trợ, tạo
điều kiện cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước có thể sản xuất kinh doanh,
cung cấp cho họ những kiến thức cần thiết thông qua các buổi nói chuyện, tập
huấn về phương pháp tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức thành lập hội nông
dân làm giàu, …, khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công để LĐXK hết
hạn hợp đồng về nước có điều kiện tốt nhất áp dụng những kiến thức mà mình
có vào xây dựng, phát triển kinh tế gia đình đồng thời góp phần phát triển kinh
tế đất nước, ổn đinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói giảm
nghèo.

Tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước là tạo điều kiện cho
LĐXK hết hạn hợp đồng về nước có thể đem những kiến thức, kỹ năng,… thu
nhận được trong quá trình lao động ở nước ngoài vào sản xuất kinh doanh, xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Việc tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước không chỉ có lợi
cho bản thân người lao động mà còn có lợi cho gia đình cho toàn xã hội, là giải
pháp chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội đất nước. Tạo việc làm cho
LĐXK hết hạn hợp đồng về nước góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp tạm thời
xuống mức hợp lý thuận lợi cho nền kinh tế phát triển, đồng thời người lao
động có điều kiện áp dụng những kỹ năng, kinh nghiệm, phương pháp sản xuất
tiên tiến vào phát triển sản xuất, đặc biệt là việc phát triển các mô hình sản xuất
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
18
Khóa luận tốt nghiệp
kinh doanh vừa và nhỏ rất thích hợp với điều kiện hiện có của nước ta từ đó
thúc đẩy sản xuất phát triển, người lao động có thu nhập và còn tạo thêm nhiều
việc làm cho cả lao động tại địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống. Như
vậy tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước cũng đồng nghĩa với
việc tránh lãng phí “tài sản” quý giá nhất là nguồn vốn con người đồng thời
cũng tránh được những hậu quả tâm lý xã hội xấu đi kèm như tệ nạn xã hội, tội
phạm hình sự,… Muốn vậy, Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích
các chủ doanh nghiệp sử dụng LĐXK hết hạn hợp đồng về nước, có các chính
sách hỗ trợ về vốn, kiến thức, kỹ năng cần thiết để người lao động có thể tự tạo
việc làm cho mình bằng cách mở các cơ sở sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ,…
Tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước là cần thiết khách quan, góp
phần ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế xã hội.
Mối quan hệ giữa việc làm và chất lượng cuộc sống của con người: Phát
triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi quá trình phát triển.
Trong quá trình phát triển đó phải quan tâm đến hai nhóm nhân tố đó là phát
triển nhóm nhân tố tiềm lực chung như: công nghiệp, thương mại, dịch vụ,… và

nguyên biển,… đều trở thành nguyên vật liệu. Tuy nhiên đây đều là những vật
chết. Để những tài nguyên thiên nhiên được khai thác, đưa vào chế biến và sử
dụng đòi hỏi phải có vốn để mua công nghệ kỹ thuật, dây chuyền công nghệ,
máy móc phục vụ cho sản xuất chế biến. Trên thực tế có những nước rất nghèo
tài nghuyên như Nhật Bản nhưng nhờ có công nghệ, trang thiết bị hiện đại cùng
với trình độ quản lý tiên tiến, khoa học đã tạo ra được nhiều việc làm cho lao
động, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động.
Như vậy, với điều kiện tự nhiên thiên nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên
phong phú là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, tạo việc
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
20
Khóa luận tốt nghiệp
làm cho người lao động. Việc làm cần thiết hiện nay là phải thu hút được vốn
đầu tư vào phát triển sản xuất và sử dụng nguồn vốn sao cho có hiệu quả.
1.3.2. Nhân tố thuộc về chất lượng lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng về
nước ảnh hưởng đến tạo việc làm
Cơ chế tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước đòi hỏi sự kết
hợp chặt chẽ giữa ba bên: Nhà nước, người sử dụng lao động và bản thân người
lao động – LĐXK hết hạn hợp đồng về nước. Do đó, một trong những nhân tố
ảnh hưởng đến tạo việc làm cho LĐXK hết hạn hợp đồng về nước là số lượng
và chất lượng của lực lượng lao động này.
Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay thì chất lượng LĐXK hết hạn hợp
đồng về nước là vấn đề quan trọng hơn cả. Do đó để có cơ hội có được việc làm
phù hợp và ổn định khi về nước sau khi hết hạn hợp đồng thì ngay từ khi đi
XKLĐ người lao động phải có ý thức học tập, nâng cao tay nghề, đồng thời
chăm chỉ học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất tiên tiến hiện đại để khi về
nước có hành trang tốt nhất cho việc tìm kiếm việc làm cho bản thân.
1.3.3. Cơ chế chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tạo việc làm cho
lao động xuất khẩu hết hạn hợp đồng về nước
Chính sách của Nhà nước nói chung của các địa phương nói riêng có ảnh

chủ yếu của nền kinh tế Hàn Quốc hiện nay. Từ kinh nghiệm của các nước ta
thấy chất lượng lao động đặc biệt lao động xuất khẩu cần nâng cao, đồng thời
mục tiêu xuất khẩu lao động cần được quán triệt đến từng cá nhân lao động đi
xuất khẩu, để có tiền đề thuận lợi cho công tác giải quyết vấn đề hậu XKLĐ.
Qua kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về vấn đề tạo việc làm cho
LĐXK hết hạn hợp đồng về nước, đặc biệt là qua kinh nghiệm của Hàn Quốc ta
rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho công tác tạo việc làm cho LĐXK
hết hạn hợp đồng về nước của Việt Nam như sau:
Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng lao động đi xuất khẩu là giải pháp mang
tính chiến lược lâu dài. Chỉ khi lao động có trình độ về chuyên môn và nhận
Nguyễn Thị Hà QH2005E-KTCT
22
Khóa luận tốt nghiệp
thức nhất định thì khi đó hoạt động XKLĐ không chỉ đơn thuần là tạo việc làm,
giảm thất nghiệp mà khi đó XKLĐ còn là một cơ hội tốt để người lao động có
thể học tập kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, phát
triển sản xuất cũng như kinh nghiệm quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách
có hiệu quả nhất. Sau thời gian lao động – học tập ở nước ngoài, khi trở về nước
với những kiến thức trong tay cùng với nguồn vốn mang về và điều kiện thực tế
để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội đất nước. Việc nâng cao chất
lượng lao động đi xuất khẩu thông qua các biện pháp như chú ý phát triển giáo
dục ngay từ các cấp tiểu học, trung học, nâng cao tiêu chuẩn cần thiết của lao
động đi xuất khẩu lên, chú trọng phát triển XKLĐ theo hướng tập trung vào các
ngành mà trong nước có khả năng phát triển, các ngành mà sản xuất trong nước
còn lạc hậu, để khi lao động trở về có thể sử dụng những kiến thức mình có một
cách có ích và hiệu quả nhất.
Hai là, cần có chính sách cụ thể trong việc quản lý và tạo việc làm cho
LĐXK hết hạn hợp đồng về nước. Có kế hoạch sử dụng LĐXK hết hạn về nước
ngày từ khi lao động bắt đầu đi xuất khẩu.
Ba là, có chiến lược phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status