Mở đầu
Việt Nam là một nớc nông nghiệp có nhiều lợi thế và tiềm năng về đất đai,
lao động và điều kiện sinh thái... cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông sản
hàng hoá xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn. Sau hơn 10 năm thực hiện đờng lối đổi
mới của Đảng và Nhà nớc, kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã có những bớc phát
triển đáng kể. Sản xuất nông nghiệp tăng trởng cao và khá ổn định (bình quân tăng
4-4,5%/năm). Trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh của các vùng sinh thái và các
địa phơng cũng nh trong cả nớc, đã hình thành đợc nhiều vùng chuyên canh sản
xuất hàng hoá nông sản cho xuất khẩu trên quy mô lớn nh: Lúa gạo vùng đồng
bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng; cà phê vùng Tây Nguyên; cao su
vùng Đông Nam Bộ... Nâng cao đợc khối lợng hàng hoá và kim ngạch nông sản
xuất khẩu (bình quân tăng 20%/năm), góp phần đáng kể trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, theo hớng công nghiệp hoá và hiện
đại hoá, tạo ra bớc chuyển biến mạnh mẽ từ nền kinh tế thuần nông, tự cung tự cấp
sang nền kinh tế hàng hoá, nâng cao đợc vị thế của nền kinh tế nông nghiệp Việt
Nam trên thị trờng quốc tế.
Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều bất cập cần phải đợc
tập trung nghiên cứu và giải quyết. Hiện nay, trớc xu thế hội nhập, nông nghiệp
Việt Nam đang đứng trớc những thách thức có tính cạnh tranh về sản xuất và xuất
khẩu nông sản, mà chúng ta cha có mấy lợi thế, biểu hiện trên nhiều mặt còn yếu
kém: chất lợng, khối lợng của hàng nông sản, cha tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ ổn
định và thiếu bạn hàng lớn, giá cả thờng xuyên biến động gây không ít khó khăn
cho cả ngời sản xuất lẫn ngời tiêu dùng, năng xuất lao động xã hội và năng xuất lao
động trong nông nghiệp còn thấp. Năng lực thu hút lao động của các ngành kinh tế
1
quốc dân chậm, lao động trong nông nghiệp, nông thôn d thừa nhiều, sức ép về
công ăn việc làm đang là những vấn đề nhức nhối của toàn xã hội.
Nhập khẩu là những sản vật đợc tiêu dùng trong một nớc này nhng đợc sản
xuất ở một nớc khác.
1.1.1- Sự tất yếu của hoạt động xuất nhập khẩu.
Từ thế kỷ 18, các nhà kinh tế học ngời Anh là Adam Smith và David
Ricardo đã đa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, đến nay vẫn đợc
coi là lý thuyết nền tảng của thơng mại quốc tế, còn lợi thế cạnh tranh đợc xem nh
là những vấn đề có tính chiến lợc và sách lợc của từng quốc gia để phát huy các
yếu tố về lợi thế tuyệt đối và so sánh trong quá trình sản xuất và trao đổi thơng mại.
3
1.1.2.1- Lợi thế tuyệt đối.
Theo Adam Smith thì ở mỗi một quốc gia đều có những nguồn lực và tài
nguyên sẵn có nh: đội ngũ lao động, nguồn vốn, đất đai, công nghệ và truyền thống
kinh doanh... Nh vậy các quốc gia sẽ tiến hành sản xuất chuyên môn hoá những
mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt ddối về các nguồn lực, sau đó tiến hành trao đổi thì
hai bên cùng có lợi. Do vậy, trong quá trình trao đổi thơng mại, nguồn lực sẽ đợc
lựa chọn sử dụng có hiệu quả hơn và tổng sản phẩm của thế giới sẽ gia tăng. Giầu
có của quốc gia phải đợc đo bằng sự giầu có của tất cả các công dân của quốc gia
đó. Vởy làm thế nào để tối đa hoá lợi ích của tất cả các công dân. Thơng mại quốc
tế là nhân tố rất quan trọng để đạt đợc điều đó. Cơ sở nảy sinh thơng mại quốc tế là
sự khác biệt của các nớc về năng xuất lao động tuyệt đối. Đó chính là lợi thế tuyệt
đối.
1.1.2.2- Lợi thế tơng đối (lợi thế so sánh).
Xét cho cùng lợi thế so sánh là kết quả của những khác biệt quốc tế về năng
suất lao động tơng đối, mà theo nhà kinh tế học David Ricardo trong quá trình
tham gia thơng mại quốc tế, các quốc gia sẽ xuất khẩu loại hàng hoá và dịch vụ mà
họ sản xuất tơng đối có hiệu quả và sẽ nhập khẩu loại hàng hoá dịch vụ nào mà họ
sản xuất tơng đối kém hiệu quả. Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, và các nớc
khác nhau chỉ về năng xuất lao động trong các ngành công nghiệp khác nhau.
Ngày nay chúng ta đang dùng những thuật ngữ nh: Tính cạnh tranh; sức
cạnh tranh; khả năng cạnh tranh của một ngành, một sản phẩm nào đó, nhng đều
chung một ý nghĩa, để chỉ những đặc tính về chất lợng, gía cả, mẫu mã, kiểu dáng,
5
quy mô ngành hàng... mang tính cạnh tranh. Do vậy, lợi thế cạnh tranh, trớc hết là
sự biểu hiện tính trội của mặt hàng đó về chất lợng và cơ chế vận hành của nó
trên thị trờng, tạo nên sự hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong qúa trình sử
dụng. Nét đặc trng của lợi thế cạnh tranh đợc thể hiện trên các mặt nh: Chất lợng
sản phẩm, giá cả sản phẩm, khối lợng và thời gian giao hàng, tính chất và sự khác
biệt của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nớc này so với hàng hoá, dịch vụ của nớc khác
trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng... ngoài ra còn bao gồm hệ thống
chính sách kinh tế vĩ mô (thuế, tỷ giá, bảo hộ...), cơ chế vận hành và môi trờng th-
ơng mại.
Lợi thế cạnh tranh, còn là sự thể hiện tính kinh tế của các yếu tố đầu vào
cũng nh đầu ra của sản phẩm, nó bao gồm về chi phí cơ hội và năng suất lao động
cao, chất lợng sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị hiếu tiêu dùng trên các thị
trờng cụ thể, nguồn cung cấp phải ổn định, môi trờng thơng mại thông thoáng
thuận lợi. Do vậy, lợi thế cạnh tranh là những nội dung mang tính giải pháp về
chiến lợc và sách lợc cuả một đất nớc, trong quá trình sản xuất, trao đổi và thơng
mại. Chiến lợc cạnh tranh suy cho đến cùng là nhằm chinh phục cả thế giới khách
hàng bằng uy tín, giá cả và chất lợng là bí quyết của thành công.
Hay nói cách khác, lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện về những u thế nh chất
lợng, giá cả, môi trờng kinh doanh thơng mại, các điều kiện và chính sách hỗ trợ
của chính phủ... so với những nớc khác trên thị trờng thế giới. Nh vậy, nó chứa
đựng và bao gồm các giải pháp có tính chiến lợc và sách lợc của doanh nghiệp,
ngành và của cả quốc gia, để phát huy các yếu tố và lợi thế tơng đối, tuyệt đối
trong qúa trình sản xuất, trao đổi thơng mại.
Do vậy, phát huy lợi thế cạnh tranh đồng nghĩa với chiến lợc kinh doanh
mất mối quan hệ trực tiếp với thị trờng, lợng thông tin thu đợc nhiều khi không
chính xác.
1.1.3.3- Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
Đây là hình thức hàng mua của nớc này bán cho nớc khác, không làm thủ tục
xuất nhập khẩu và thờng hàng đi thẳng từ nớc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu. Ngời
kinh doanh chuyển khẩu trả tiền cho ngời xuất khẩu và thu tiền của ngời nhập khẩu
hàng đó. Thờng khoản thu lớn hơn tiền trả cho ngời xuất khẩu, do dó ngời kinh
doanh thu đợc số chênh lệch (lãi). Các mặt hàng này (tạm nhập tái xuất, tạm xuất
tái nhập, chuyển khẩu) đợc miễn thuế xuất nhập khẩu.
Xét về đờng đi của hàng hoá tái xuất và chuyển khẩu giống nhau. Chỗ khác
nhau là kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ vận tải: chỗ hàng
nớc ngoài từ cửa khẩu (cảng, ga) này đến cửa khẩu biên giới khác. Tái xuất là loại
hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: nhập khẩu để xuất khẩu hàng đó, không qua
chế biến, thu lãi tức thời. Ngời kinh doanh bỏ vốn ra mua hàng, bán lại hàng đó để
thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch thực hiện ở ba nớc: nớc xuất khẩu, nớc tái xuất, n-
ớc nhập khẩu. Giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên, ở ba nớc.
Mặc dù xuất nhập khẩu trực tiếp có những u điểm không thể phủ nhận đợc
nhng hiện nay do chính sách thơng mại của từng nớc nên hình thức chuyển khẩu và
tạm nhập tái xuất vẫn tồn tại khá phổ biến.
1.1.3.4- Mua bán đối lu.
Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với hoạt động nhập khẩu, có sự cân xứng giã mua và bán, ngời bán đồng thời là ng-
ời mua, lợng hàng trao đổi có giá trị tơng đơng. hình thức này đợc sử dụng rộng rãi
8
ở các nớc đang phát triển. Vì thiếu ngoại tệ tự do, các nớc này dùng đổi hàng để
cân đối nhu cầu trong nớc.
Đây là đặc trng cho quan hệ trực tiếp đổi hàng của nhiều đơn vị xuất nhập
vốn và cũng không lo về thị trờng tiêu thụ.
Các nớc đặt gia công cũng có lợi vì họ có thể tận dụng đợc nguồn nguyên
liệu phụ và nhân công dồi dào với giá rẻ của các nớc nhận gia công. Song hình thức
này cũng có hạn chế là các nớc nhận gia công bị phụ thuộc vào nớc đặt gia công về
số lợng, chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng dễ bị o ép về phí gia công.
ở nớc ta gia công xuất khẩu phổ biến là hàng may mặc, lắp ráp điện tử. Đó là
một hình thức mậu dịch lao động, xuất khẩu lao động qua hàng hoá.
1.1.3.6- Xuất khẩu uỷ thác.
Trong hình thức này, đơn vị ngoại thơng đóng vai trò quan trọng, làm trung
gian xuất khẩu làm thay cho đơn vị sản xuất (bên có hàng) những thủ tục cần thiết
để xuất hàng và hởng phần trăm theo giá trị hàng xuất đã đợc thoả thuận. Hình thức
này bao gồm các bớc.
* Ký hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị trong nớc.
* Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nớc
ngoài.
10
* Nhận phó uỷ thác xuất khẩu từ đơn vị trong nớc.
Đây là hình thức phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp đứng ra
nhận sự uỷ thác thờng là các doanh nghiệp Nhà nớc.
1.2- Một số yếu tố ảnh hởng đến hoạt động
xuất nhập khẩu.
Trong hoạt động thơng mại, bất cứ hình thức kinh doanh nào cũng chịu ảnh
hởng sâu sắc của môi trờng kinh doanh. Môi trờng kinh doanh có thể tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh phát triển, song cũng có thể là vật
cản mạnh mẽ cho hoạt động này. Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, một nội dung
quan trọng của hoạt động thơng mại quốc tế, thì ảnh hởng của môi trờng kinh
doanh lại càng mạnh mẽ hơn, bởi vì trong thơng mại quốc tế, các yếu tố về môi tr-
ờng kinh doanh phong phú và phức tạp hơn nhiều so với htơng mại trong nớc. ở
khẩu sẽ có lơị hơn nếu tình hình ngợc lại. Chính vì vậy các doanh nghiệp có thể
thông qua nghiên cứu và dự đoán xu hớng biến động của tỷ gía hối đoái để lựa
chọn nên xuất khẩu hay nhập khẩu, lựa chọn thị trờng, lựa chọn nguồn hàng...
Ngoài ra, trong yếu tố kinh tế còn có một số các yếu tố khác nh mục tiêu và
chiến lợc phát triển kinh tế, các chỉ tiêu kinh tế, giá cả và lạm phát... ảnh hởng đến
hoạt động xuất nhập khẩu.
Thị trờng trong và ngoài nớc:Tình hình và sự biến động của thị trờng trong
và ngoài nớc nh: Sự thay đổi, xu hớng thay đổi của giá cả, khả năng cung cấp, khả
năng tiêu thụ, giá cả và xu hớng biến động dung lợng của các thị trờng... Tất cả các
12
yếu tố đó đều ảnh hởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trờng, thời gian
thực hiện và hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu.
1.2.2- Xã hội.
Các yếu tố xã hội là tơng đối rộng, trong đó yếu tố con ngời là quan trọng
nhất, đóng vai trò trung tâm. Quyết định vì con ngời là cơ sở hình thành nguồn
nhân lực trong xã hội, là lực lợng tiêu dùng của xã hội. Con ngời với trình độ, kỹ
năng... ảnh hởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu. ở đâu con ngời có trình độ,
kỹ năng càng cao thì ở đó thơng mại càng phát triển, chuyên môn hoá càng sâu sắc.
Trong các yếu tố xã hội, nếu nh yếu tố con ngời là trung tâm thì bên cạnh
nó, yếu tố văn hoá cũng ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là trong
công việc đàm phán ký kết hợp đồng.
Ngoài ra, các yếu tố tập quán và truyền thống giá trị xã hội trong một nớc...
đều ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu. Tập quán và truyền thống ảnh hởng
đến thị hiếu và thói quen tiêu dùng. Các sản phẩm tiêu dùng phù hợp với giá trị xã
hội, giá trị đạo đức thì đợc chấp nhận.
1.2.3- Chính trị, pháp luật và chính sách thơng mại.
Đây là nhóm yếu tố ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu.
Các nhà kinh doanh khi tham gia vào hoạt động này cần lu ý đến:
hởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trờng, mặt hàng đợc mua bán,
khối lợng hàng hoá đợc mua bán trong từng chuyến.
* Vị trí địa lý của các nớc cũng ảnh hởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị
trờng tiêu thụ. Ví dụ việc mua bán hàng hoá với các nớc có biển sẽ có chi phí vận
chuyển thấp hơn việc mua bán hàng hoá với các nớc không có biển.
*Thời gian thực hiện hợp đồng có thể bị kéo dài do một trận bão.
1.2.5- Công nghệ.
Sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật đã giúp cho tất cả các khâu từ
quá trình sản xuất đến thu hoạch, chế biến sản phẩm. Công nghệ trong sản xuất
góp phần nâng cao năng xuất, rút ngắn thời gian, đặc biệt công nghệ sinh học trong
sản xuất góp phần tạo ra nhiều giống mới với năng xuất và chất lợng cao hơn, đáp
ứng đợc nhu cầu ngày càng tăng cả về số lợng và chất lợng của ngời tiêu dùng.
Ngay cả trong khâu thu hoạch và chế biến, sự góp phần của công nghệ cũng nâng
cao chất lợng sản phẩm cả về hình thức và phẩm chất.
Sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép các nhà kinh doanh nắm bắt
một cách chính xác và nhanh chóng thông tin với khối lợng lớn và cũng sẽ thuận
lợi hơn trong việc giao dịch, giảm đợc chi phí giao dịch cũng nh có thể thiết lập và
mở rộng quan hệ làm ăn với các khu vực thị trờng khác nhau... Ngoài ra, các nhà
kinh doanh cũng sẽ thuận lợi hơn trong việc theo dõi và điều khiển các hoạt động
mua bán hàng hoá quốc tế.
Tóm lại: Hoạt động xuất nhập khẩu chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố. Các yếu
tố này luôn biến động. ở mỗi trạng thái hay xu hớng vận động khác nhau của từng
yếu tố, cũng nh toàn bộ hệ thống các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp, gián tiếp có
lợi hay bất lợi khác nhau đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Do vậy, ở mỗi trạng
15
thái cụ thể này của các yếu tố trên sẽ chứa đựng trong nó những cơ hội, nguy cơ,
thuận lợi khó khác nhau mà các nhà kinh doanh phải đơng đầu.
1997 5300 134,4 6500 140,0 11800
1998 7255 133,2 11144 136,6 18399
1999 8905 126,6 11200 104,0 20050
2000 9356 101,9 11494 100,2 20850
2001 11523 123,1 11636 100,9 23159
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu t.
Qua bảng 1 ta thấy kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những
năm qua tăng khá nhanh. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 24%/năm. Kim
ngạch nhập khẩu cũng có xu hớng tơng tự gia tăng đều đặn song tốc độ chậm hơn
tốc độ gia tăng xuất khẩu. Nếu nh trong năm 2000, với kim ngạch 9356 triệu USD,
xuất khẩu của nớc ta chỉ đạt tốc độ tăng trởng 1,9% so với năm 1999, còn năm
1999 cũng chỉ đạt tốc độ tăng trởng 26,6% so với 33-36% của ba năm liền trớc đó,
thì trong năm 2001, tốc độ tăng trởng xuất khẩu đã đạt 23,1%, tức là đã bằng
86,84% mức tăng trởng của năm 1999, gấp 12,16 lần mức tăng trởng của năm
2000. Nh vậy, nếu nh trong năm 2000, chúng ta đã không đạt ngỡng 10 tỷ
USD/năm mà vào đầu năm chúng ta đã tởng nắm trong tầm tay (mục tiêu kế hoạch
đã đặt ra là 10,2 tỷ USD), thì trong năm 2001, chúng ta đã vợt xa ngỡng này tới
15,23%, đồng thời cũng vợt xa 15,23% mục tiêu kế hoạch đã đề ra (mục tiêu kế
hoạch xuất khẩu năm 2001 dự kiến là 10 tỷ USD). Điều đáng lu ý ở đây là, tuy tốc
độ tăng trởng xuất khẩu năm 2001 còn thấp hơn khá nhiều so với năm 1999, nhng
mức tăng trởng tuyệt đối trong xuất khẩu năm 2001 là 2,162 tỷ USD, cao hơn hẳn
so với 1,930 tỷ USD của năm 1999 (cao hơn 10,02%).
17
Hoạt động xuất khẩu của nớc ta trong năm 2001 chủ yếu phải nhờ vào tăng
trởng xuất khẩu hàng công nghiệp, trớc hết là dầu thô,giầy dép và hàng dệt may (ba
mặt hàng chủ lực này đạt mức tăng 1,392 tỷ USD, chiếm 64,38% tổng mức tăng
kim ngạch xuất khẩu của năm 2001 so với năm 2000), nhng hoạt động xuất khẩu
các mặt hàng nông sản cũng đã góp phần rất quan trọng. Trớc hết việc xuất khẩu
ở việt Nam (gạo, cà phê, cao su) từ năm
1992 đến nay.
2.1- Đặc điểm của kinh doanh nông sản trên thị
trờng thế giới.
Đây là một trong những sản phẩm thuộc nhu cầu thiết yếu đối với đời sống
con ngời; nông sản phẩm do hàng triệu hộ gia đình nông dân sản xuất, trở thành
một trong những nghề có tính truyền thống và tập quán.
Do sự phân bố dân c và đất đai giữa các vùng không đều, mang tính tự nhiên
trong khi đó tập quán và truyền thống ở mỗi vùng sản xuất những nông phẩm khác
nhau, đất đai ở mỗi vùng thích hợp với loại cây trồng khác nhau.
Mặt khác, việc sản xuất nông phẩm chịu ảnh hởng trực tiếp của điều kiện tự
nhiên: đất, nớc, khí hậu,... vì vậy việc sản xuất mang tính mùa vụ rõ rệt. Một đặc
điểm đáng lu ý là đất đai nông nghiệp có hạn, việc tăng sản lợng bằng cách mở
rộng diện tích là rất khó khăn, trong điều kiện thời tiết khí hậu bình thờng thì sản l-
ợng để cung ứng ra thị trờng trong mùa vụ là tơng đối ổn định.
2.1.1- Đặc điểm cung của nông sản phẩm.
20
Sản xuất ra nông sản mang tính thời vụ, có những sản phẩm mang tính vùng
vì cũng mặt hàng này cùng mang tính mùa vụ và mang tính vùng.
Thông thờng, ngay sau vụ thu hoạch, do nhu cầu tiêu dùng (tiêu dùng cá
nhân và tiêu dùng để phục vụ chu kỳ tiếp theo) buộc ngời sản xuất phải bán nông
phẩm ra thị trờng bất luận là giá tiêu thụ trên thị trờng là cao hay thấp. cùng một
thời điểm tất cả các nhà sản xuất cùng đa sản phẩm bán ra thị trờng làm cho giá cả
giảm, có lúc thấp hơn cả chi phí sản xuất. Ngời sản xuất có thể bị lỗ vốn nhng họ
không thể giữ sản phẩm của mình đến khi nào giá trên thị trờng tăng len mà đa sản
phẩm ra bán. vì làm nh vậy, sẽ không có vốn để thực hiện chu kỳ sản xuất mới,
mặtkhác do tính chất của nhiều loại sản phẩm càng không cho phép họ làm nh vậy
đợc.
Hàng nông sản chiếm một vị trí quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu của
nớc ta. Ngoài các mặt hàng quen thuộc nh lạc, chè, cà phê... những năm gần đây,
với sự xuất hiện trở lại khá ngoạn mục của mặt hàng gạo trên thị trờng quốc tế,
càng khẳng định thế mạnh xuất khẩu nông sản của nớc ta là thực tế. Từ chỗ mang
tính thu gom để xuất khẩu những lô hàng lẻ, từng bớc đã hình thành những vùng
chuyên canh, trồng và chế biến nông sản, tạo nên những mặt hàng xuất khẩu ngày
càng lớn có ấn tợng trên thị trờng.
22
2.2.1- Gạo.
2.2.1.1- Xuất khẩu gạo.
Sự tăng trởng vợt bậc trong sản xuất lơng thực nói chung, đặc biệt là lúa đã
xoá bỏ đợc những hàng rào cản trở và tâm lý lo âu thiếu ăn. Tạo đà cho sự phát
triển nông nghiệp, đến nay chúng ta đã trở thành nớc xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên
thế giới (sau Thái Lan), kể từ năm 1992 đến nay, lợng gạo xuất khẩu tăng bình
quân 17%/năm.
Bảng 2: Kết quả xuất khẩu gạo.
Năm
Số lợng (1000 tấn) Kim ngạch (triệu USD)
Số lợng % thay đổi Kim ngạch % thay đổi
1991 1.425 - 321,811 -
1992 1.624 13,95 310,403 -3,35
1993 1.033 -36,39 234,491 -22,46
1994 1.946 88,38 418,400 78,43
1995 1.728 11,21 362,900 -13,26
1996 2.040 18,05 449,500 23,86
1997 2.052 0,57 539,800 20,08
1998 3.047 48,48 868,200 60,82
1999 3.600 18,14 864,700 -0,05
đơn vị đầu mối xuất khẩu và từng đơn vị này lại bị khống chế chỉ đọc xuất khẩu
tong phạm vi 30%hạn ngạch đợc giao. Mặt khác, do giá gạo thế giới diễn biếntheo
hớng giảm xuống, cho nên nhiều đơn vị đã không đẩy mạnh xuất khẩu, bởi hạn
ngạch xuất khẩu đã đợc phân bổ. Hệ quả tất yếu là, trong hai tháng đầu năm 2001,
24
khi giá gạo thế giới hai tháng đầu năm còn rất cao thì ta xuất khẩu quá ít, còn đến
khi giá gạo thế giới tụt nhanh thì ta lại phải đẩy mạnh xuất khẩu. Các số liệu thống
kê hoàn toàn minh chứng cho điều đó: bình quân mỗi tháng trong hai tháng đầu
năm, khối lợng gạo xuất khẩu chỉ đạt 211,5 nghìn tấn, nhng với giá 259,34
USD/tấn, còn trong 10 tháng cuối năm thì các con số đó là 407,7 nghìn tấn và
223,28 USD/tấn. Điều này ngợc hẳn với việc xuất khẩu gạo năm 2000 khiến chúng
ta bị thua thiệt không nhỏ. May mà những điều nói trên chỉ diễn ra tong 2-3 tháng
đầu năm và cơ hội quý báu nhng ngắn ngủi đó đã không tận dụng đợc là điều đáng
tiếc, nhng tất cả những gì Chính phủ đã làm từ nửa cuối tháng 3 trở đi lại là hoàn
toàn đúng. Đó là các giải pháp thu hút các thành phần kinh tế tích cực tham gia
xuất khẩu gạo, đẩy mạnh việc mua lúa tạm trữ chờ xuất khẩu với nhữnh khối lợng
lớn trong thời gian dài.
Các đơn vị xuất khẩu gạo thì không chủ động nguồn hàng, thờng xuất đến
đâu mua đến đó, không có những chiến lợc về phát triển và gắn kết chặt tạo vùng
nguyên liệu hoặc đầu t hỗ trợ hay thông qua giá mua lúa của nông dân, để tạo vùng
nguyên liệu nguồn hàng ổn định về số lợng và chất lợng. Công nghệ và chất lợng
chế biến còn thấp, nhiều mặt cha đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của thị trờng.
2.2.1.3- Cơ cấu mặt hàng.
Về chất lợng gạo xuất khẩu trên thế giới nhu cầu tiêu dùng gạo có chất lợng
cao ngày càng lớn, các loại gạo thơm, gạo hạt dài đang đợc a chuộng. Mặt khác, do
yêu cầu của các sản phẩm từ gạo nh: cơm đồ, cơm hộp, chế biến xúp gạo..., những
sản phẩm đảm bảo tiện lợi khi sử dụng vệ sinh cao, đợc bảo quản và dự trữ lâu ngày
đang trở thành thị hiếu và nhu cầu của những ngời sử dụng gạo. Ngợc lại, nhu cầu