LỜI NÓI ĐẦU
Khi hội nhập kinh tế quốc tế là bước đi tất yếu thì chủ chương mở rộng
quan hệ ngoại thương của Đảng, Nhà nước ta là cần thiết và đúng đắn. Sau
hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế nông
nghiệp và nông thôn đã có những bước phát triển đáng kể. Sản xuất nông
nghiệp tăng trưởng liên tục với nhịp độ cao và khá ổn định (Bình quân tăng 4
- 4,5%/năm), góp phần đáng kể trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn, theo hướng CNH và HĐH, tạo ra bước chuyển
biến mạnh mẽ từ nền kinh tế thuần nông, tự cung, tự cấp sang nền kinh tế thị
trường với tỷ suất hàng hoá ngày càng cao, khẳng định vị thế của nền kinh tế
nông nghiệp Việt Nam trên thương trường Quốc tế.
Lợi ích to lớn của hội nhập kinh tế Quốc tế mang lại cho mỗi nước
tham gia là rõ ràng và không thể bác bỏ. Con đường xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ theo kiểu cô lập với bên ngoài, tự cấp, tự túc, thay thế nhập
khẩu đã hoàn toàn không có sức thuyết phục. Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia
là hội nhập kinh tế ở mức độ nào, bằng hình thức nào để có thể mang lại lợi
ích tối đa và phải trả một cái giá tối thiểu quả thực là một thách thức không
nhỏ !
Việt Nam với hơn 80 triệu dân, và trên 70% lao động xã hội đang hoạt
động và sinh sống dựa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Nên vấn đề phát
huy các lợi thế và tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp,đẩy mạnh sản xuất và
xuất khẩu không chỉ là yêu cầu đối với sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp
mà còn là vấn đề mang tính chiến lược, nhằm giải quyết có tính tổng thể về
các quan hệ mang tính xã hội... Do đó cần phải có những thay đổi cách tiếp
cận về chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp với tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Trong thời gian thực tập tại Bộ Thương Mại, qua nghiên cứu tình hình
sản xuất và kinh doanh xuất khẩu nông sản. Với các lợi thế và tiềm năng về
đất đai, lao động, các điều kiện sinh thái... Nhưng khối lượng và kim ngạch
nông sản xuất khẩu của Việt Nam còn rất khiêm tốn và bộc lộ nhiều hạn chế.
+ Từ kiến thức đã học tại trường ĐH KTQD
+ Cùng sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Đặng Đình Đào, và sự chỉ
bảo của các cô chú làm việc tại Vụ kế hoạch thống kê - Bộ thương Mại.
+ Qua thu thập thông tin, số liệu từ các giáo trình, thời báo, tạp chí ...
có liên quan.
Do hạn chế về thời gian, tài liệu cũng như trình độ có hạn, hơn nữa việc
tìm hiểu các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam là
một công tác phức tạp liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế- xã hội, nên em viết
chuyên đề này không tránh khỏi thiếu sót. Em mong nhận được sự chỉ dẫn tận
tình của các thầy cô giáo và ý kiến đóng góp của các bạn sinh viên. Sau cùng,
em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Đặng Đình Đào người đã tận
tình chỉ dẫn, và các thầy cô giáo đã từng dậy dỗ em trong suốt quá trình học
2
tập, cùng các cô chú ở Vụ kế hoạch thống kê - Bộ thương Mại đã giúp đỡ em
hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
PHẨM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM
I. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT HÀNG NÔNG SẢN
TRONG HỆ THỐNG CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT
NAM
I.1. Hội nhập kinh tế của việt nam
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “ Mở rộng quan hệ
đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức và khu vực củng cố và nâng cao vị
thế của nước ta trên thương trường quốc tế” . Ngày 18 tháng 11 năm 1996, Bộ
Chính Trị đã ra nghị quyết về kinh tế đối ngoại nhằm chỉ đạo việc thực hiện
nhiệm vụ quan trọng này,Nghị Quyết số 7-NQ/Tw của bộ chính trị
giá thị trường Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn mới bắt đầu xuất phát so với
nền kinh tế nhiều nước trong khu vực, sự yếu kém có thể thấy cụ thể ở nguồn
vốn, lượng vốn qúa nhỏ, quy mô và phương pháp quản lý manh mún khiến
sức cạnh tranh rất thấp, đồng thời việc liên kết để tạo thành một tập đoàn kinh
tế cũng khó có thể thực hiện. Nhìn ở góc độ công nghệ hầu hết thiết bị công
nghệ đang sử dụng trong các doanh nghiệp còn lạc hậu, đi sau công nghệ
trung bình sử dụng ở các nước phát triển. Trong khi đó hoạt động chuyển giao
công nghệ chủ yếu được thực hiện trên bề mặt, chưa theo chiều sâu và chưa
có một chiến lược rõ ràng để tránh lãng phí, đảm bảo chất lượng và nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành sản xuất qua đầu tư công nghệ
thiết bị, lực lượng lao động đang sử dụng tại các doanh nghiệp hiện nay phần
lớn chưa phù hợp với yêu cầu của một phương thức quản lý hiện đại thì hầu
hết xuất thân từ nông nghiệp và công nghiệp bao cấp, chưa quen với tác
phong công nghiệp thị trường. Hơn nữa lại mất cân đối giữa công nhân kỹ
thuật , công nhân có tay nghề cao với lực lương cử nhân . Hội nhập là vấn đề
tất yếu để Việt Nam Phát triển, trước hết Việt Nam cần nỗi lực thực hiện Hiệp
Định Thương Mại Việt -Mỹ, AFTA,CEPT và trong tương lai là hội nhập toàn
cầu khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) . Song điều cần
nhấn mạnh là dù hiện tại hay tương lai việt nam cần luôn chủ động tận dụng
cơ hội và vượt qua thách thức để nâng cao vị thế cạnh tranh của hàng hoá và
uy tín của mình. Được vậy, sản phẩm Việt Nam khi hội nhập kinh tế thế giới
mới mong có chỗ đứng trên thị trường .
Hội nhập kinh tế Quốc Tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và
cạnh tranh, tuy quá trình hội nhập kinh tế đưa lai cho Việt Nam những thuận
lợi nhưng bên cạnh đó không ít những khó khăn, do vậy Việt Nam cần tỉnh
táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc vận dụng xử lý khéo léo tính hai mặt
của tiến trình hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp; vừa phải đề
phòng tư tưởng trì trệ thụ động, vừa phải trống tư tưởng giản đơn nôn nóng.
Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ
5