Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Thơng mại quốc tế (TMQT) đã đợc khẳng định cả về lý luận và thực
tiễn, là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trởng kinh tế và do đó nó góp
phần quyết định sự thắng bại của một đờng lối công nghiệp hoá ở các nớc
đang phát triển. Đặc biệt là lĩnh vực hoạt động xuất khẩu từ lâu đã chiếm vị
trí quan trọng hàng đầu trong sự tồn tại và phát triển kinh tế của mọi quốc
gia. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ơng Đảng tại Đại hội
lần thứ VIII nhấn mạnh: "Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp
tác quốc tế, đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào các
nguồn lực trong nớc là chính đi đôi tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây
dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hớng mạnh về
xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nớc
sản xuất có hiệu quả". Vai trò này đã đợc Đảng ta nhận thức rất sớm và đã
nhấn mạnh từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Đảng ta đã
khẳng định: "Xuất khẩu là một trong ba chơng trình cốt lõi của nhiệm vụ
kinh tế - xã hội trong 5 năm 1986-1990, không những có ý nghĩa sống còn đối
với tình hình trớc mắt mà còn là những điều kiện ban đầu không thể thiếu đợc
để triển khai công nghiệp xã hội chủ nghĩa trong những chặng đờng tiếp
theo". Hơn nữa, xuất khẩu đợc coi là yếu tố có ý nghĩa "quyết định" để thực
hiện chơng trình về lơng thực, thực phẩm, hàng hoá tiêu dùng và các hoạt
động kinh tế khác.
Xuất khẩu là cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh để đem
lại lợi nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất
khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và cơ sở hạ tầng.
Nhà nớc ta luôn luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất
khẩu khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết
công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ.
Lơng thực là sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng đầu của con ng-
ời và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đến toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội của
bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới.
Chơng III : Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam
Kết luận.
Hà Nội, tháng 11 năm 1999
Sinh viên thực hiện
Đàm Thị Hằng
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ch ơn g I
Cơ sở lý luận về kinh doanh xuất khẩu hàng hoá
trong nền kinh tế thị trờng
I-/ Tầm quan trọng của xuất khẩu hàng hoá trong nền kinh tế
quốc dân:
1-/ Tính tất yếu khách quan của thơng mại quốc tế (TMQT):
Thơng mại quốc tế là lĩnh vực kinh doanh buôn bán hàng hoá và dịch vụ với
nớc ngoài nhằm thu đợc lợi nhuận và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Buôn bán
hàng hoá và dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế - xã hội và phản
ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngời sản xuất kinh doanh hàng hoá nói
riêng của các quốc gia nói chung. Thơng mại quốc tế tạo điều kiện cho các nớc
tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất n-
ớc. TMQT là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trởng kinh tế và do đó nó
góp phần quyết định sự thắng bại của một đờng lối công nghiệp hoá ở các nớc
đang phát triển cũng nh của Việt Nam.
Khi quá trình phân công lao động quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu sắc thì
TMQT đã trở thành một qui luật tất yếu khách quan và đợc xem là một điều kiện
tiền đề, phơng tiện cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Thực tế đã chứng
minh rằng không một quốc gia nào có thể tồn tại chứ cha nói gì đến phát triển nếu
nh xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh mang tính chất tự cấp tự túc, không quan
hệ với thế giới. Bởi vì, nền kinh tế tự cấp tự túc vô cùng tốn kém về cả vật chất và
thời gian, cho dù quốc gia đó to lớn nh Liên Xô (cũ), Mỹ và Trung Quốc cũng
không có đủ sức làm việc này. Do vậy, TMQT đã trở thành vấn đề sống còn vì nó
của nhà kinh tế học David Ricardo (1817) đã phần nào giải thích một cách căn bản
và có hệ thống những câu hỏi này.
Quy luật lợi thế tơng đối nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất, coi đó
là chìa khoá của các phơng thức thơng mại. Lý thuyết này khẳng định nếu mỗi nớc
chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nớc đó có lợi thế tơng đối (hay có hiệu quả
sản xuất so sánh cao nhất) thì thơng mại sẽ có lợi cho cả hai bên. Thậm chí nếu
một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết
các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào TMQT để tạo ra lợi ích
cho mình. Khi tham gia vào TMQT, quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất tất
cả các loại hàng hoá sẽ chuyên môn hoá sản xuất, xuất khẩu các loại hàng hoá mà
việc sản xuất chúng ít bất lợi nhất và nhập khẩu các hàng hoá mà việc sản xuất
chúng bất lợi lớn nhất.
Tuy nhiên, ngời ta cũng thấy rằng TMQT vẫn diễn ra do sự chênh lệch giữa
các nớc về chi phí cơ hội của hàng hoá tạo ra trong điều kiện sản xuất khá giống
nhau. Chẳng hạn nh, một nền kinh tế khép kín có các nguồn lực nhất định có thể
làm ra máy video và áo sơ mi. Càng dùng nhiều nguồn lực vào việc làm ra máy
video, thì càng ít nguồn lực có thể dùng làm áo sơ mi. Chi phí cơ hội của máy
video là lợng áo sơ mi bị hy sinh do dùng các nguồn lực vào việc làm ra các máy
video thay cho các áo sơ mi. Cũng nh sự trao đổi buôn bán ô tô là khá phát triển
giữa Mỹ và Nhật Bản; điều tơng tự cũng xảy ra đối với các mặt hàng điện tử giữa
các nớc Tây Âu. Rõ ràng là, không có thế lực nào bắt buộc hai nớc phải buôn bán
với nhau nếu một nớc không có lợi. Các quốc gia hoàn toàn tự do trong việc lựa
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chọn mặt hàng cũng nh đối tác buôn bán có khả năng đem lại lợi ích cao cho họ.
Do vậy, sự chênh lệch giữa các nớc về chi phí tơng đối trong sản xuất quyết định
phơng thức TMQT.
Vậy TMQT bắt nguồn từ đâu:
Một là, TMQT xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản xuất
giữa các nớc, nên chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng có lợi thế và nhập
phi hiệu quả. Hiệu quả kinh tế theo quy mô là lý do quan trọng giải thích TMQT về
những hàng hoá nhất định nào đó.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ba là, sự khác nhau về thị hiếu, sở thích, phong tục tập quán, sự độc quyền về
bản quyền, bằng phát minh sáng chế, tri thức chuyên môn của một số ngời. Thị hiếu
rất khác nhau cả giữa các nớc và mọi ngời. Điều này nói lên việc buôn bán các sản
phẩm rất khác nhau giữa các nớc tơng tự. Một tác động khác là sự tồn tại những bằng
phát minh sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp. Công ty có quyền sở hữu về một phát
minh sáng chế có thể từ chối cấp giấy phép sản xuất hoặc gia công chế biến đối với
các công ty ở nớc khác hoặc chỉ cho phép với điều kiện là các sản phẩm ấy không đ-
ợc xuất khẩu. Điều này tạo cho nớc sở hữu phát minh có một sự độc quyền thực sự về
loại sản phẩm này. Trên thị trờng thế giới.
Cuối cùng là, do nhu cầu kinh tế hay sở thích làm giầu mà bất cứ một quốc gia
nào trên thế giới cũng muốn. Muốn đất nớc giàu có thì TMQT phải phát triển.
Những lợi ích mà TMQT đem lại đã làm cho thơng mại và thị trờng thế giới
trở thành nguồn lực của nền kinh tế quốc dân, là nhân tố kích thích sự phát triển
của lực lợng sản xuất, của khoa học công nghệ, là một phơng tiện để thúc đẩy tăng
trởng kinh tế. TMQT vừa là cầu nối kinh tế của mỗi quốc gia với các nớc khác trên
thế giới, vừa là nguồn hậu cần cho sản xuất và đời sống của toàn xã hội văn minh
hơn, thịnh vợng hơn.
Trong thế giới hiện đại không một quốc gia nào bằng chính sách "đóng cửa
với nớc ngoài lại phát triển có hiệu quả nền kinh tế trong nớc". Muốn phát triển
nhanh, mỗi nớc không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải tận dụng
có hiệu quả tất cả những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của loài ngời đã đạt
đợc. Nền kinh tế "mở cửa" sẽ mở ra những tiềm năng sẵn có của một nớc nhằm sử
dụng sự phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất.
Nhận thức đợc vấn đề này, Đảng và Nhà nớc ta đã có những bớc đi đúng đắn
trong đờng lối đối ngoại của mình. Với chính sách đa dạng hoá và đa phơng hoá các
quan hệ quốc tế, mở cửa và hớng mạnh ra xuất khẩu đã làm cho nền kinh tế nớc ta
kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dẫn tới việc hình thành các liên
doanh, liên kết giữa các chủ thể trong và ngoài nớc một cách tự giác tạo sức mạnh
phát triển cho các chủ thể một cách thiết thực, nó liên kết chặt chẽ giữa các nhà
sản xuất với các nhà khoa học một cách thiết thực và có hiệu quả từ phía các nhà
sản xuất, nó khơi thông nhiều nguồn chất xám ở cả trong và ngoài nớc, tạo ra sự
tăng trởng mạnh cho nền kinh tế góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với
các ngời giàu.
Vì vậy, trong định hớng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, chính sách kinh
tế đối ngoại nói chung và chính sách TMQT nói riêng phải đợc coi là một chính
sách cơ cấu có tầm quan trọng chiến lợc nhằm phục vụ quá trình phát triển của
nền KTQD. Chính sách xuất nhập khẩu phải tranh thủ đợc tối đa nguồn vốn kỹ
thuật công nghệ tiên tiến của nớc ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát
triển, giải quyết việc làm cho ngời lao động, thực hiện phơng châm phát triển th-
ơng mại với nớc ngoài để đẩy mạnh sản xuất trong nớc, vừa có sản phẩm tiêu dùng
vừa có hàng hoá để xuất khẩu.
Với những nớc nghèo nh nớc ta, sự phát triển mạnh của xuất khẩu sẽ góp
phần giải quyết những nhiệm vụ kinh tế quan trọng, thể hiện nh sau:
2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nớc:
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong điều kiện nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ của
trang thiết bị quá cũ, lạc hậu. Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
trớc mắt chúng ta phải nhập khẩu một số lợng lớn máy móc, trang thiết bị hiện đại
bên ngoài nhằm trang bị cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu thờng dựa vào
các nguồn chủ yếu là: vay, viện trợ, đầu t nớc ngoài và xuất khẩu. Ba nguồn vốn
đầu phụ thuộc vào nớc ngoài, vì vậy nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu là
xuất khẩu. Đối với nhiều nớc, xuất khẩu đã trở thành nguồn tích luỹ chủ yếu trong
giai đoạn đầu của công nghiệp hoá.
2.2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
2.3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống của nhân dân:
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt. Trớc hết sản xuất
hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập
không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn đề nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân.
2.4. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta:
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cờng sự hợp tác quốc tế với các nớc,
nâng cao địa vị và vai trò của nớc ta trên thơng trờng quốc tế,... xuất khẩu và công
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng, đầu t, mở rộng vận tải quốc
tế... Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta vừa kể trên lại tạo
tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, xuất khẩu không chỉ đóng vai trò quan trọng là phơng tiện hỗ trợ
phát triển kinh tế mà còn cùng với hoạt động nhập khẩu nh là yếu tố bên trong trực
tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế nh: kỹ
thuật, lao động, nguồn tiêu thụ thị trờng, vốn,...
Đối với nớc ta, nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về mặt kinh tế.
Nớc ta đang bớc vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối
cảnh thế giới có nhiều thuận lợi: các tổ chức kinh tế - thơng mại khu vực đã ra đời
và đang hoạt động có hiệu quả, Đảng và Nhà nớc ta đã gia nhập vào ASEAN,
AFTA và đang trong quá trình hội nhập vào WTO,... Xu thế toàn cầu hoá, khu vực
hoá đã tạo điều kiện thuận lợi để nớc ta hoà nhập vào sự phát triển chung của thế
giới sử dụng tốt những lợi thế của đất nớc và thông qua quan hệ trao đổi để bù đắp
những sự thiếu hụt, yếu kém, qua đó tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học
công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt Nam so
với thế giới, để trở thành nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hoàn chỉnh.
3-/ Vai trò của xuất khẩu gạo trong phát triển kinh tế và xã hội ở Việt Nam:
trên 2 triệu tấn và xuất khẩu gạo vơn lên chiếm một vị trí quan trọng trong tổng
kim ngạch xuất khẩu.
Gạo xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng lên cả về số lợng lẫn chất lợng.
Do đó kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng lên từ 274,6 triệu USD năm 1990
đến năm 1996 là 868,1 triệu USD, năm 1997 đạt 870 triệu USD, năm 1998 đạt 1.024
triệu USD tăng khoảng 154 triệu USD so với 1997 và chiếm 11% tổng kim ngạch
xuất khẩu năm 1998 lớn thứ 4 trong các mặt hàng xuất khẩu. Với lợng ngoại tệ này,
chúng ta đã nhập các loại máy móc thiết bị hiện đại của nớc ngoài phù hợp với điều
kiện của Việt Nam, xây dựng các nhà máy chế biến gạo, xây dựng các cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất nông nghiệp, đầu t nghiên cứu các loại giống lúa cho năng suất cao
chất lợng tốt,... Ngoài ra, xuất khẩu gạo tạo ra ngoại tệ góp phần không nhỏ phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mặt khác, cũng nhờ có xuất khẩu gạo bộ mặt nông thôn đã dần dần thay đổi:
một số ngành nghề mới xuất hiện nh thơng mại dịch vụ, công nghiệp chế biến,...
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đã tạo ra công ăn việc làm cho ngời dân, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp - nông thôn.
II-/ Những hình thức và nội dung kinh doanh xuất khẩu chủ yếu:
1-/ Các hình thức kinh doanh xuất khẩu chủ yếu:
Theo qui định của NĐ 33 CP (19/4/1994) lĩnh vực kinh doanh này gồm các
hình thức:
- Hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác sản xuất và gia công quốc tế.
- Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ vật t phụ tùng cho sản xuất.
- Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
- Làm các dịch vụ nh đại lý, nhận uỷ thác xuất khẩu.
- Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nớc ngoài hợp
tác sản xuất và gia công quốc tế.
2-/ Nội dung kinh doanh xuất khẩu hàng hoá chủ yếu:
Kinh doanh xuất khẩu là hoạt động hết sức phức tạp và chịu tác động của nhiều
bộ những hoạt động từ đầu t, sản xuất kinh doanh cho đến các nghiệp vụ nghiên
cứu thị trờng, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, vận chuyển, bảo quản sơ chế
phân loại nhằm tạo ra hàng hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu.
2.4. Thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá:
Thanh toán là bớc bảo đảm cho ngời xuất khẩu thu đợc tiền về và ngời nhập
nhận đợc hàng hoá, hiệu quả kinh tế trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu một
phần lớn nhờ vào chất lợng của việc thanh toán. Thanh toán quốc tế là một khâu
vô cùng quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. Thanh toán quốc
tế trong ngoại thơng đợc hiểu là việc chi trả những khoản tiền tệ, tín dụng có liên
quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá và đã đợc thoả thuận qui định trong hợp đồng
kinh tế. Trong xuất khẩu hàng hoá, thanh toán phải xem xét đến các vấn đề sau
đây: tỷ giá hối đoái, các điều kiện đảm bảo hối đoái, tiền tệ trong thanh toán quốc
tế, thời hạn thanh toán, các phơng thức và hinh thức thanh toán quốc tế.
2.5. Giao dịch - đàm phán - ký kết hợp đồng xuất khẩu:
- Các hình thức giao dịch: hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều hình thức giao
dịch, mỗi hình thức này có những đặc điểm riêng với kỹ thuật giao dịch riêng. Tuỳ
thuộc vào mặt hàng dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu mà doanh nghiệp lựa chọn hình
thức nào cho phù hợp. Thông thờng gồm các hình thức giao dịch: giao dịch trực
tiếp, giao dịch qua th tín, giao dịch qua điện thoại.
- Đàm phán và nghệ thuật đàm phán: đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với
nhau các điều kiện mua bán giữa các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến
thống nhất ký kết hợp đồng. Đàm phán trong kinh doanh bất kỳ một loại hình nào
đều là một nghệ thuật. Trong kinh doanh TMQT, các chủ thể là ở các quốc gia khác
nhau, với ngôn ngữ và tập quán trong kinh doanh cũng khác nhau làm cho việc đàm
phán phức tạp hơn. Chính vì vậy, đàm phán kinh doanh xuất nhập khẩu càng đòi hỏi
phải tinh tế và khéo léo để đi đến đợc kết quả là hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết.
Nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản bắt buộc, là cơ sở pháp lý để giải
quyết các vấn đề trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu xảy ra.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2. Các chính sách và quy định của Nhà n ớc:
Thông qua các chính sách và qui định của Nhà nớc thiết lập môi trờng pháp
lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp, nên nó ảnh hởng rất lớn
đến hoạt động xuất khẩu. Chúng ta có thể xem xét tác động của các chính sách đó
dới các khía cạnh.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Tỷ giá hối đoái.
- Thuế quan và quota.
- Các chính sách khác của Nhà nớc.
Những thay đổi cơ bản trong quản lý quá trình xuất nhập khẩu của Nhà nớc
cũng ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu. Đặc biệt là từ khi ra đời Nghị định
57/1998 NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ và các văn bản hớng dẫn thi hành
thì quyền tự do kinh doanh của thơng nhân đợc mở ra một bớc tiến mới, họ đợc
quyền kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm, tạo ra môi trờng kinh
doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp. Thủ tục xin đăng ký kinh doanh xuất
nhập khẩu trực tiếp với những điều kiện ràng buộc về vốn, tiêu chuẩn nghiệp vụ,...
đối với doanh nghiệp đã đợc dỡ bỏ. Từ khi thi hành Nghị định này (1/9/1998) nớc
ta đã có hơn 30.000 doanh nghiệp đợc quyền tham gia xuất nhập khẩu, với con số
này không tránh khỏi tình trạng tranh mua, tranh bán, ép giá, dìm giá làm cho
nhiều doanh nghiệp bớc đầu cha có lối thoát nên hiệu quả kinh doanh xuất nhập
khẩu còn thấp.
Những thay đổi về thông qua xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu, việc áp dụng
các luật thuế mới đối với hàng hoá xuất nhập khẩu cũng ảnh hởng đến quá trình
xuất nhập khẩu.
2-/ Nhân tố tài nguyên thiên nhiên và địa lý:
Nguồn tài nhiên thiên nhiên là một trong những nhân tố quan trọng làm cơ sở
cho quốc gia xây dựng cơ cấu ngành và vùng để xuất khẩu. Nó góp phần tác động
đến loại hàng, qui mô hàng xuất khẩu của quốc gia.
Vị trí địa lý có vai trò nh nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển
tố con ngời bởi con ngời là chủ thể sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động
ảnh hởng của nhân tố này thể hiện qua hai chỉ tiêu chủ yếu nhất đó là: tinh thần
làm việc và năng lực công tác.
3-/ Mạng lới kinh doanh của doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh XK của các doanh nghiệp ngoại thơng phụ thuộc rất lớn
vào hệ thống mạng lới kinh doanh của nó. Một mạng lới kinh doanh rộng lớn; bố
trí hợp lý là điều kiện để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động một cách thuận
tiện hơn và do đó góp phần nâng cao hơn hiệu quả kinh doanh XK. Nếu mạng lới
kinh doanh quá thiếu, bố trí các điểm không hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động
kinh doanh làm triệt tiêu tính năng động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thơng trờng.
4-/ Khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp:
Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp nh vốn cố định và vốn lu động là cơ
sở cho hoạt động kinh doanh. Các khả năng này qui định qui mô tính chất của lĩnh
vực hoạt động XK. Vì vậy nó cũng góp phần quyết định đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
5-/ Huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp:
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của kinh doanh là lợi nhuận. Để thực hiện kinh
doanh có lợi nhuận, các doanh nghiệp phải huy động và sử dụng triệt để nguồn
vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng.
C-/ Các nhân tố ảnh hởng đến XK gạo:
Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động XK gạo do nhiều nguyên nhân chủ
quan và khách quan, bắt đầu từ phía bên ngoài và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu
của Chính phủ và năng lực của doanh nghiệp.
1-/ Chất lợng:
a-/ Chất l ợng lúa gạo chịu ảnh h ởng của 4 nhóm nhân tố chính:
- Nhóm nhân tố giống lúa.
- Đặc điểm môi trờng sinh thái.
hàm lợng protein, mùi thơm đặc trng.
2-/ Các tổ chức tham gia xuất khẩu gạo
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Kể từ năm 1991, nhiều tổ chức đã tham gia XK gạo. Trong năm 1992, có trên
40 DN XK gạo. Các doanh nghiệph này cạnh tranh nhau về bán gạo, làm giá
giảm, ảnh hởng xấu đến kết quả XK. Một số doanh nghiệp không có kinh nghiệm
cũng tham gia XK, họ ký kết những hợp đồng bất hợp lý và một số trong số đó
không có khả năng thực hiện đợc.
3-/ Quản lý hạn ngạch XK.
Trớc kia, tổng số hạn ngạch XK đợc phân chia cho các tổ chức XK từ đầu
năm. Từ năm 1992, phần lớn hạn ngạch đợc phân bổ theo khả năng thơng thuyết
và ký kết hợp đồng của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ký kết hợp đồng trớc,
nhận hạn ngạch sau để làm giảm bớt việc mua đi bán lại hạn ngạch. Từ năm 1993,
Bộ Thơng mại đệ trình và Chính phủ thông qua nh sau:
Thủ tớng thông qua tổng hạn ngạch XK dựa trên sự gợi ý của Bộ Nông
nghiệp - PTNT, Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc, Bộ Thơng mại. Chính phủ cho phép Bộ
Thơng mại kiểm soát tất cả các hoạt động xuất nhập khẩu.
Bộ Thơng mại phân bổ 70% tổng hạn ngạch cho các doanh nghiệp dựa trên
khả năng xuất khẩu của họ, 30% còn lại sẽ tái phân bổ cho các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả và các doanh nghiệp mới đợc cấp giấy phép dới sự cho phép của
Hiệp hội lơng thực.
4-/ Quản lý về giá cả.
Để bảo vệ quyền lợi của Nhà nớc, ngời sản xuất và các doanh nghiệp, Bộ Th-
ơng mại hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nớc để nghiên cứu thị trờng và
cung cấp các thông tin cần thiết. Ví dụ nh: Tổ chức Hiệp hội lơng thực, Bộ NN -
PTNT, Ban vật giá để định ra giá sàn XK. Khi Bộ Thơng mại cung cấp thông tin
về mức giá mới, tất cả các tổ chức phải thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Các
doanh nghiệp vi phạm sẽ bị phạt, trong trờng hợp xấu nhất sẽ không đợc cấp giấy
phép XK lâu dài. Sau khi công việc hoàn tất, tất cả các doanh nghiệp phải báo cáo
một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nớc. Chẳng hạn, tính đến năm 1997 kim ngạch XNK của nớc ta chiếm
hơn 70% thị phần của các nớc thuộc khu vực Châu á - Thái Bình Dơng.
Trong thời gian qua, thành tựu của XK hàng hoá ở nớc ta không chỉ biểu hiện
ở tổng kim ngạch mà còn ở sự chuyển đổi cơ cấu hàng hoá, cơ cấu ngành. Do vậy,
sự phát triển của sản xuất hàng hoá XK theo xu hớng tiến bộ hơn và rất có lợi cho
nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Biểu 2: Kim ngạch XK giai đoạn (1986 - 1998)
Đơn vị: triệu USD
Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Tổng kim
ngạch
677,8 723,9 833,5 1524 1815 2082 2975 3000 3600 5500 7100 8700 9361 10700
% tăng 6,8 15,1 82,9 19,0 14,7 18,9 21,2 20 52,8 29,0 22,5 7,4
Nguồn: Niên giám thống kê 1997 - 1998
Trong giai đoạn này, kim ngạch XK đã tăng liên tục từ 20 - 30% một năm.
Năm 1986, kim ngạch XK chỉ đạt 0,6778 tỷ USD, thì đến năm 1997 giá trị XK đã
đạt 8,7 tỷ USD, tăng hơn 12,8 lần, riêng năm 1989 XK tăng 82,9% so với năm
1988 là năm có tốc độ tăng cao nhất. Năm 1995 tăng 52,8% so với năm 1994 đây
là năm tăng cao thứ hai trong giai đoạn này, năm 1996 tăng 29% và năm 1997
tăng 22,5%, năm 1998 tăng 7,6. Trong năm 1998 này không nằm trong trung tâm
cơn bão tài chính tiền tệ khu vực nhng chịu tác động rất nặng nề đến Việt Nam, đó
là kim ngạch XK giảm đột ngột xuống còn 7,6% so với năm 1997. Do trong kim
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ngạch ngoại thơng Việt Nam có tới trên 60% là giao dịch với các nớc Châu á và
70% vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp (FDI) cũng bắt nguồn từ đấy. Bởi vậy cuộc
khủng hoảng tài chính, tiền tệ nhất định ảnh hởng đến hoạt động kinh tế đối ngoại
của Việt Nam.
2-/ Cơ cấu mặt hàng XK
năm kim ngạch XK không tăng so với cùng kỳ năm 1998 nhng đã tăng nhanh từ
quí II-1999. Sau đây là cơ cấu XK hàng Việt Nam:
Biểu 4: Cơ cấu XK % 10 tháng đầu năm 1999
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nông, lâm, hải sản 18,2% đạt 2 tỷ USD
Khoáng sản 19,0% đạt 2,1 tỷ USD
Dệt may-da giày 28,0% đạt 3,1 tỷ USD
Điện tử, linh kiện điện tử 5,3% đạt 580 triệu USD
Thủ công mỹ nghệ 1,5% đạt 180 triệu USD
Các lĩnh vực khác 19,4% đạt 2,13 tỷ USD
Mặc dù kim ngạch XK tăng, cơ cấu chuyển dịch đã có sự tích cực. Song cơ
cấu XK vẫn nặng về dạng thô và nguyên liệu chiếm hơn 40% trong tổng kim
ngạch XK. Chất lợng mẫu mã và giá cả XK cha tạo đợc sức cạnh tranh mạnh mẽ
so với các nớc trong khu vực và trên thế giới, còn những khó khăn về thị trờng, giá
cả, về sản xuất. Các mặt hàng chủ lực vẫn còn đơn điệu, nh đã có từ cách đây 9-10
năm, cha XK những mặt hàng mốc. Bên cạnh đó công tác quản lý của Bộ máy
Nhà nớc vẫn còn chồng chéo cha chặt chẽ cha thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp hoạt động.
Tất cả những tồn tại trên đã dẫn tới : mặc dù lợng XK tăng cao, song kim ngạch
XK không tăng tơng ứng.
Các mặt hàng XK chủ lực đã đạt đợc tốc độ tăng nhanh cả về giá trị, khối lợng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch XK, việc chú trọng đầu t đổi mới công nghệ
sản xuất, chế biến hàng hoá, hình thành các ngành sản xuất hàng hoá, các khu công
nghiệp, mở rộng thị trờng XK đã tạo ra nhiều mặt hàng XK chủ lực mới có khối lợng
và giá trị XK trên 100 triệu USD, nh hàng dệt may mặc, cà phê, cao su (1991-1993),
giày dép, hạt điều, lạc nhân (1994-1995).
Thời kỳ 1991-1995 các mặt hàng chủ lực chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim
ngạch XK nh: dầu thô 25%, thuỷ sản 12,8%, gạo 11,6%, hàng dệt may 10,6%, cà
phê 7,5%, lâm sản 3,8%, cao su 3,3%, lạc nhân 1,8%, hạt điều 1,5%. Biểu sau đây
hàng hoá trên thị trờng thế giới, tăng nhanh giá trị hàng hoá và kim ngạch XK phù
hợp với xu thế phát triển. Sau đây là biểu đồ biểu hiện tình hình XK hàng hoá của
Việt nam trong các năm 1996-1998 và mấy tháng đầu năm 1999.
Biểu 6: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực (1996-1998)
Chỉ tiêu
Mặt hàng
Đơn
vị tính
Thực hiện
1996
Thực hiện
1997
Thực hiện
1998
9 tháng
đầu 1999
Ước năm
1999
1. Dầu thô 1.000 tấn 8.705 9.615 12.144 10.890 14.000
2. Hàng dệt may triệu USD 1.150 1.350 1.450 1.200 1.500
3. Gạo 1.000 tấn 3.200 3.600 3.750 3.820 4.200-4.300
4. Cà phê 1.000 tấn 283 382 382 250 388
5. Thuỷ sản triệu USD 651 780 858 687 900-950
6. Giày dép các loại triệu USD 530 964,3 1.031,8 1.000 -
7. Lạc nhân 1.000 tấn 85 84 87 80 110
8. Than triệu tấn 3,6 3,5 3,163 2,1
9. Chè 1.000 tấn 21,0 31 34 21,5 35
Trong đó, tỷ trọng của các mặt hàng trên chiếm trong kim ngạch XK tăng
qua các năm nh sau:
22
tăng 21,5% đạt 420 triệu USD, hạt tiêu tăng 16% đạt 126 triệu USD, rau quả tăng
30% đạt 56 triệu USD, hàng thủ công mỹ nghệ tăng 47% đạt 119 triệu USD, than
giảm 3% đạt khoảng 73 triệu đồng, chè các loại giảm khoảng trên 10% đạt khoảng
29 triệu USD, cà phê giảm trên dới 10% đạt khoảng 376 triệu USD, cao su giảm
trên dới 5% đạt 86 triệu USD, lạc nhân giảm trên dới 10% đạt khoảng 28 triệu
USD (tất cả tỷ lệ tăng giảm là so sánh với cùng kỳ năm 1998).
Nh vậy, so sánh tiềm năng của nớc ta với các nớc trong khu vực thì mức xuất
khẩu của ta tính ra theo đầu ngời còn rất thấp. Mặc dù, trong những năm qua,
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chúng ta đã hình thành đợc thêm nhiều mặt hàng XK chủ lực mới, kim ngạch xuất
khẩu của các mặt hàng đó tăng khá nhanh, song về cơ cấu hàng hoá vẫn còn tồn
tại mấy vấn đề cơ bản sau:
- Trong các mặt hàng XK, tỷ trọng các hàng hoá thuộc nhóm ngành nông,
lâm, hải sản vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn (năm 1998 là 37%). Điều này phản ánh cơ
cấu sản xuất trong nớc còn mang nặng tính công nghiệp.
- Hàng XK đợc thu gom ở nhiều địa phơng, nhiều vùng lãnh thổ khác nhau
nên chất lợng không đồng đều. Cha chú trọng qui hoạch vùng sản xuất hàng XK
lớn và đồng bộ. Kết hợp với do thiếu sự hớng dẫn, điều hành, phân phối, khó hấp
dẫn ngời mua nên sức cạnh tranh trên thị trờng kém, chất lợng không ổn định làm
giảm uy tín của ta với các bạn hàng nớc ngoài.
- Mặc dù đã hình thành thêm nhiều mặt hàng XK chủ lực nhng vẫn cha có
mặt hàng XK chủ lực đạt giá trị hàng tỷ USD.
- Tuy đã có sự chuyển biến theo hớng XK hàng chế biến, nhng nhìn tổng thể
thì hàng XK của Việt Nam phần lớn còn ở dạng thô và nguyên liệu chiếm 80% giá
trị kim ngạch XK, hàng chế biến sâu và tinh chiếm tỷ trọng thấp. Các mặt hàng
may mặc, giày dép tuy đạt giá trị kim ngạch cao, nhng phần lớn là hàng gia công
theo đơn đặt hàng cho nớc ngoài, nên giá trị thực thu ngoại tệ mới chiếm 20% giá
trị kim ngạch XK.
3-/ Thị trờng hàng xuất khẩu của Việt Nam và khả năng cạnh tranh của
- Tây Bắc Âu 15,0 13,0 19,0 20,0 21,0 21,0
- SNG và Đông Âu 2,8 3,8 2,5 3,0 4,0 5,0
- Liên bang Nga 8,67 1,48 2,36 1,37 - - -
3. Châu úc 0,96 1,07 1,04 0,82 2,78 3,0 3,0 2,0
4. Châu Phi 0,68 0,56 0,70 0,7 0,80 1,0 1,0 1,0
5. Châu Mỹ 0,16 2,76 4,33 4,22 4,48
- Bắc Mỹ 0,16 2,59 3,4 3,7 3,80 7,0 9,0 12,0
- Mỹ Latinh 0,17 0,93 0,52 0,68 1,0 1,0 1,0
- Hoa Kỳ 3,10 3,43 3,21 - - -
Tổng cộng 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Nguồn:
Xét theo Châu lục - thị trờng XK của Việt Nam chủ yếu diễn ra nh sau: nếu
năm 1991, thị trờng Châu á chiếm tới 80% tổng kim ngạch XK của Việt Nam thì
năm 1994 giảm xuống còn 75,8% và năm 1997 chỉ còn chiếm 67,7% và dự báo
đến năm 1999 - 2000 chiếm 63-54% (Đông Bắc á: 40-30%, Đông Nam á 23-
24%). Riêng thị trờng Đông Bắc á năm 1995 chiếm tới 50% tổng kim ngạch XK
của Việt Nam, nhng đến năm 1997 thì còn chiếm 44,0%. Thị trờng XK của Việt
Nam phát triển theo hớng mở rộng sang Châu Âu, đặc biệt là Tây Bắc Âu, thị tr-
ờng liên bang Nga và các nớc Đông Âu có dấu hiệu phục hồi. Nếu nh năm 1991,
thị trờng Châu Âu mới chỉ chiếm tỷ trọng 9,79% trong tổng kim ngạch XK của
Việt Nam thì đến 1994 đã tăng lên gấp 2 lần đạt 17,17% và năm 1997 tiếp tục
tăng lên 21,5%, dự báo 1999-2000 chiếm tỷ trọng 57-61%. Châu Mỹ mà đặc biệt
là Hoa Kỳ là một hớng mới trong phát triển mở rộng thị trờng XK của Việt Nam.
Nếu 1991 Châu Mỹ mới chỉ chiếm tỷ trọng 0,16% trong tổng kim ngạch XK của
Việt Nam thì năm 1994 đã tăng lên 2,76% và năm 1997 chiếm tới 4,48% và dự
báo 1999-2000 chiếm khoảng 10-13%. Thị trờng Việt Nam cũng đang đợc mở
rộng đáng kể sang Châu úc đặc biệt là Ôxtrâylia. Nếu 1991 thị trờng này mới chỉ
chiếm 0,96% trong tổng kim ngạch XK của Việt Nam nhng đến năm 1997 đã tăng
2,78% và dự báo 1999-2000 chiếm khoảng 2-3%.
25