LỜI MỞ ĐẨU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang hướng tới một quốc gia kinh tế biển. Nước ta là một quốc gia
có biển lớn trong vùng biển đông với chỉ số biển khoảng 0.01, gấp 6 lần giá trị trung
bình thế giới. Biển Việt Nam dài và đẹp, lại chứa đựng nguồn tài nguyên phong phú
và đa dạng với trữ lượng, qui mô thuộc loại khá, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực
kinh tế biển quan trọng. Kinh tế biển đã và đang đóng góp một phần rất lớn cho nền
kinh tế nước nhà. Trong xây dựng và phát triển kinh tế biển, ngành công nghiệp
đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản đóng vai trò quan trọng.
Thủy sản là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỉ trọng
lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta. Năm 2006 được đánh dấu bằng cột
mốc mới về xuất khẩu thủy sản với việc đạt con số 3,4 tỷ USD, góp 8.6% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu chung cả nước. Sang năm 2007, xuất khẩu thủy sản Việt Nam
ở vị trí một trong mười nước có giá trị xuất khẩu hàng đầu thế giới và nằm trong
nhóm bốn ngành hàng có giá trị xuất khẩu trên 3 tỷ USD của Việt Nam. Tới năm
2008, giá trị xuất khẩu đã tăng lên trên 4.5 tỉ USD, tăng 19.8% về giá trị so với năm
2007. Những con số đó đã nói lên rằng thủy sản ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Ngành thủy sản đang trong quá trình đầu tư để trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn. Kể từ sau năm 1986, khi chính sách đổi mới của Đảng được thực hiện trong cả
nước, thị trường thủy sản được mở rộng và tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Sự mở
rộng thị trường đã kích thích sản xuất phát triển. Có thể nói thị trường xuất khẩu
thủy sản đã mở đường, hướng dẫn cho quá trình chuyển đổi mạnh mẽ các vùng diện
tích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả thành những vùng sản xuất nguyên liệu lớn,
phục vụ cho ngành nghề chế biến thủy sản xuất khẩu. Hiện nay, Bộ thủy sản đã có
kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật, khoa học công nghệ cũng như nguồn nhân
lực để phát triển ngành thủy sản với tầm nhìn đến năm 2020.
Suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế thế giới nói chung
cũng như kinh tế Việt Nam nói riêng, và ngành thủy sản cũng là một trong những
ngành gánh chịu hậu quả nặng nề. Trong bối cảnh suy thoái, các nước đã tận dụng
triệt để hàng rào kĩ thuật gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Năm 2009,
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng, hình, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát về tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu, thị trường thủy
sản thế giới, và tổng quan về thủy sản Việt Nam trong thời gian qua
Chương II: Tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu đối với hoạt động xuất
khẩu thủy sản Việt Nam
Chương III: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong bối cảnh
suy giảm kinh tế toàn cầu
Do khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu và sự hiểu biết còn hạn chế của bản
thân, bài khóa luận này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của quý thầy cô, bạn bè để đề tài hoàn
thiện hơn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đặc biệt là Ts. Đào Thị Thu
Giang đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày tháng năm
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GDP Gross Dosmetic Production
Tồng giá trị sản phẩm quốc nội
FED Federal Reserve System
Cục dự trữ liên bang Mỹ
WTO World Trade Ognization
Tổ chức thương mại thế giới
ILO International Labour Ognization
Tổ chức thương mại thế giới
ECB Europe Center Bank
Ngân hàng trung ương châu Âu
FAO Food and Agricultural Ognization
Tổ chức lương thực thế giới
KTHS Khai thác hải sản
Hình 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng quí của thế giới
(Đơn vị: phần trăm)
(Nguồn: /> Hình 1.1 cho ta thấy tốc độ tăng trưởng GDP hàng quí của thế giới từ năm 2005
đến năm 2009. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới cũng như các nước phát triển và các nước đang phát triển tương đối ổn định. Tuy
nhiên, bắt đầu từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới bắt đầu giảm mạnh, đặc
biệt giai đoạn từ quí 2 năm 2008 đến quí 1 năm 2009, con số này luôn âm ở hầu hết các
nền kinh tế trên thế giới. Cụ thể, giai đoạn từ năm 2005 đến 2007, tốc độ tăng trưởng
kinh tế thế giới chỉ dao động trong khoảng 3,5-5,5%, trong đó các nước phát triển là
1,5-3,5% và các nước đang phát triển là 7-10.5%. Năm 2008, thế giới chỉ tăng trưởng
3.75%, sụt giảm 5% so với năm 2007, hơn 20 nước chính thức tuyên bố suy thoái, trong
đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, và EU- đây cũng là lần đầu tiên 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới
cùng suy thoái kể từ năm 1945 đến nay; tăng trưởng tại các nền kinh tế mới nổi như
Trung Quốc (Quí 1/2008: 10,6%; Quý 2/2008: 10,1%; Quý 3/2008: 9%), Ấn Độ
(8,8-7,9%), Hàn Quốc (5,86-3,63%), Thái Lan (6,05-3,96%)[] và các nước đang phát
triển khác đều sụt giảm, trong đó có Việt Nam cũng chỉ ở mức 6,23%, mức thấp nhất
trong thập kỉ qua. Suy thoái kinh tế tiếp tục gây ảnh hưởng nặng nề cho nhiều quốc gia
vào đầu năm 2009, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2009 là 8,7%, (Quý 1/2009:
6,2%; Quý 2/2009: 7,9%; Quý 3/2009: 9.1%; Quý 4/2009: 10.7%)[2]; Việt Nam 6 tháng
đầu năm 2009 là 3,76% so với cùng kỳ năm 2008 [3]. Theo nhận định của các chuyên
gia kinh tế, như kinh tế gia trưởng Justin Lin củaWorld Bank, chuyên gia kinh tế của đại
học tổng hợp New York – Nouriel Roubini thì đây là cuộc suy thoái tồi tệ nhất của kinh
tế thế giới từ sau Đại khủng hoảng 1930.[25]
Từ cuối năm 2009, kinh tế thế giới đã có những dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên bên
cạnh những nhà kinh tế lạc quan cho rằng kinh tế thế giới đang phục hồi theo hình chữ
U, thì cũng không ít nhà kinh tế dự báo rằng, kinh tế thế giới chỉ tăng trưởng một thời
gian sau đó lại đi xuống, có nghĩa là sẽ đi theo hình chữ W. Theo nhận định của cựu chủ
tịch FED Alan Greenspan “thế giới sẽ còn phải trải qua những cuộc khủng hoảng tài
chính nữa trong tương lai”. Nói về khủng hoảng, ông cũng cho biết thêm “ Đó là lẽ tự
nhiên của con người. Trừ phi một ai đó có thể tìm ra cách thay đổi tự nhiên, chúng ta sẽ
giới là 150USD/thùng thì trong quý II/2009 giá chỉ còn 50 USD/thùng. Không chỉ là giá
dầu, mà giá những nguyên vật liệu khác cũng giảm mạnh, như giá kim loại, giá nông
sản,… Giá cả hàng hóa và nguyên vật liệu thô giảm gây khó khăn cho những nền kinh
tế đang phát triển vì nền kinh tế các nước này chủ yếu dựa vào xuất khẩu nguyên liệu
thô.
Hình 1.2: Chỉ số giá dầu thô qua các năm
(Nguồn: /> Niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng sụt giảm: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã
gây ra tình trạng thắt chặt thanh khoản và tín dụng trên Phố Wall, tình trạng này lan
rộng ra thị trường tài chính nhiều nước. Một lượng trái phiếu bất động sản chứa đựng
đầy rủi ro và nợ thế chấp của Mỹ đã được bán ra cho các nhà đầu tư nước ngoài, gây
nên thất thoát tài chính do tình trạng vỡ nợ ở nhiều nơi tụ trên thế giới.
Do thua lỗ nặng nề, các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu cắt giảm đầu tư vào các nhà
máy ở nhiều nơi trên thế giới. Thêm vào đó, các tập đoàn châu Âu cũng chịu tác động
đặc biệt lớn do họ phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng nhiều hơn các doanh nghiệp
Mỹ.
Bảng 1.1 Thiệt hại của một số ngân hàng, chức tài chính lớn trên thế giới tính
đến tháng 5/2008
(Đơn vị: tỷ USD)
UBS 37,7
Citygroup 24,1
Merrill Lynch 22,5
HSBC 17,2
Morgan Stanley 10,3
Bank of America 9,4
Deutssche Bank 7,0
JP Morgan Chase 2,9
Goldman Sachs 1,5
(Nguồn: tổng hợp từ NYT, FT, Economist, AFP)
Nhìn vào bảng tổng hợp có thể hình dung phần nào mức độ ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế Mỹ tới thế giới. Thiệt hại lớn nhất của ngân hàng số 1 Thụy Sĩ
Weighted
4.589,04 3.734,01 44,8
Nhật Nikkei 225 8.859,56 5.831,85 42,1
Hồng
Kông
Hang Seng 14.235,50 13.325,02 48,8
Hàn Quốc KOSPI
Composite
1.124,47 728,98 40,7
Singapore Straits
Times
1.770,65 1.690,57 49,0
Trung
Quốc
Shanghai
Composite
1.832,91 3.428,65 65,2
Ấn Độ BSE 30 9.716,16 10.749,14 52,2
Australia ASX 3.591,40 2.842,70 44,1
Việt Nam VN-Index 316,32 604,75 65,9
Nguồn:CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg
Hình 1.3 Biểu đồ tăng/giảm của một số chỉ số chứng khoán tiểu biểu năm 2008
Nguồn: />gioi-2008-kho-tin-nhung-la-thuc-te!.htm
Từ bảng và biểu đồ ta thấy năm 2008 là năm đánh dấu sự sụt giảm mạnh mẽ của các thị
trường chứng khoán trên khắp thế giới thể hiện qua việc xuống điểm mạnh so với năm
2007 của chỉ số chứng khoán tại các sàn trên thị trường thế giới. Tất cả các sàn đều
giảm điểm trên 30% so với năm 2007, trong đó điều đáng buồn là chỉ số Vn-Index giảm
mạnh nhất (-65,9%). Nhìn chung thị trường châu Á giảm điểm nhiều hơn hẳn so với thị
trường Mỹ và Châu Âu, các thị trường châu Á đều giảm trên 40%, trong khi thị trường
Suy thoái kinh tế kéo theo nhu cầu nhập khẩu lao động của các nước trên thế giới giảm,
chính phủ Malaysia đã tìm cách cắt giảm lao động nước ngoài mỗi năm 400.000 người
kể từ năm 2008. Tỉ lệ thất nghiệp tăng cao ở các nước đang phát triển dẫn đến nguy cơ
đói nghèo gia tăng.
Bảng 1.4: Tỉ lệ thất nghiệp ở một số quốc gia trong tháng 11, 12 năm 2008
(Đơn vị: phần trăm)
Tháng 11/2008 Tháng 12/2008
Anh 3,3% 3,6%
Croatia 13,2% 13,7%
Đan Mạch 1,9% 2,1%
Đức 7,7% 7,8%
Hà Lan 3,8% 3,9%
Na Uy 2% 2,6%
Rumani 4,1% 4,4%
Thụy Điển 6,2% 6,4%
Thụy Sĩ 2,7% 3%
(Nguồn: Bài “Tình trạng thất nghiệp tại 15 nước”
/> Bảng trên cho thấy tình trạng thất nghiệp tại 10 nước châu Âu trong tháng 11, 12
năm 2008. Liên tiếp trong 2 tháng cuối năm 2008, tỉ lệ thất nghiệp ở các nước trên gia
tăng từ mức 0,1%-0.6%. Nếu như năm 2008, tỉ lệ thất nghiệp thế giới là 5,7% thì trong
năm 2009 con số này đã lên đến 6,2%.
Theo ILO- tổ chức lao động quốc tế đưa ra nhận định khủng hoảng kinh tế có thể
làm tăng thêm 51 triệu người thất nghiệp, trong năm 2009 toàn thế giới sẽ có tới 230
triệu người không có việc làm. Tình trạng thất nghiệp tăng làm tăng thêm gánh nặng
kinh tế đối với từng gia đình, cá nhân, gây nên những bất ổn về mặt xã hội.
Nguy cơ gia tăng bảo hộ mậu dịch trên thế giới: Trong suốt thế kỉ 20, xu hướng
toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, làm cho các nước xích lại gần nhau, cùng hợp tác, phát
triển. Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, toàn cầu hóa lại là một nguyên
nhân gây nên phát tán khủng hoảng, dẫn đến nguy cơ về sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo
hộ mậu dịch. Các nước đã đưa ra các gói kích thích kinh tế lớn và khuyến khích dùng
Trong bối cảnh suy thoái, nhu cầu của người dân giảm sút mạnh mẽ trong khi
nguồn cung hàng hóa, nhà cửa rất dư dả, do đó, phải tốn khoảng thời gian dài để người
dân mới có thể tiêu thụ hết lượng hàng hóa đó. Thêm vào đó, suy thoái cũng làm cho
khả năng trả nợ của cá nhân doanh nghiệp giảm sút, khiến tình trạng vỡ nợ có khả năng
tăng vọt, nhiều doanh nghiệp, tổ chức tín dụng đứng bên bờ vực phá sản.
Nền kinh tế thế giới ảm đạm, nhiều nước trong tình trạng thâm hụt ngân sách, đặc
biệt là các cường quốc kinh tế như Mỹ, EU, Nhật Bản. Điều này làm hạn chế khả năng
áp dụng các biện pháp kích thích tài chính của chinh phủ để cứu vớt nền kinh tế. Trong
lần suy thoái vào năm 2001, ngân sách của Mỹ đi từ chỗ thặng dư 2,5% vào năm 2000
đến chỗ thâm hụt 3,2% GDP vào năm 2004. Trong cuộc khủng hoảng vừa rồi, thâm hụt
ngân sách của Mỹ đã ở mức cao và chính phủ chỉ có thể thực hiện kích thích tài chính
bằng 1% GDP[12].
Trong quá trình điều hành nền kinh tế, có rất nhiều vấn đề xảy ra, chính phủ có
thể đưa ra những biện pháp có lợi trong ngắn hạn, tuy nhiên về lâu dài có thể gây ảnh
hưởng không tốt tới nền kinh tế. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế, việc đưa ra
những chính sách đúng đắn để khắc phục tình trạng khó khăn trước mắt mà không ảnh
hưởng xấu tới nền kinh tế trong tương lai là điều không phải dễ đối với những người
lảm chính sách.
1.1.2.2 Tác động tích cực
Suy thoái kinh tế đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế toàn
cầu, tuy nhiên nhìn nhận ở một góc độ khác, suy thoái chính là cơ hội để xây nên nền
tảng phát triển bền vững.
Tạo lập nền tảng để tăng trưởng bền vững trong tương lai: Mặc dù suy thoái
kinh tế làm cho sản xuất sụt giảm, nền kinh tế tăng trưởng thấp, tỉ lệ thất nghiệp gia tăng
và có thể dẫn đến nhiều hệ lụy cho xã hội. Tuy nhiên suy thoái giúp nền kinh tế tái lập
nền tảng vững chắc để tăng trưởng bền vững trong tương lai. Khi khủng hoảng xảy ra,
những bong bóng kinh tế như bong bóng tài chính, bong bóng bất động sản, bong bong
trên thị trường chứng khoán,… sẽ bị nổ, vấn đề yếu kém của một nền kinh tế được
thanh lọc, tạo tiền đề phát triển nền kinh tế ổn định. Một khi những “căn bệnh” của nền
kinh tế được chữa trị tận gốc, nền kinh tế đó sẽ phát triển “khỏe mạnh”.
tới 46,8% tổng giá trị thế giới (49 tỉ USD), tổng cộng 3 nhà nhập khẩu lớn nhất này đã
chiếm tới 74,1% tống giá trị nhập khẩu thủy sản thế giới.
Hình 1.6 : Những thị trường xuất khẩu thủy sản chính 2008
Norway
6%
Canada
4 %
Viet Nam
4%
Chile
4%
USA
5%
Thailand
6%
China
10%
Russia
2%
Indonesia
2%
EU (25)
26%
(Nguồn: Global trade overview by Adun Lem
/>Từ hình 1.6, ta thấy EU là khu vực kinh tế xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới
chiếm tỉ trọng 26%, Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất với tỉ trọng
10% trong cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản thế giới 2008. Năm 2008, kim ngạch
xuất khẩu thủy sản Việt Nam xếp thứ 5 thế giới.
Năm 2009, kim ngạch thương mại thủy sản thế giới đã giảm sút, đặc biệt là trong
quý đầu năm 2009, sau đó con số này bắt đầu hổi phục từ quý thứ hai. Ở những thị
toàn cầu, thặng dư thương mại thuỷ sản nuôi của Trung Quốc vẫn tăng 190 triệu USD
(5,78%) lên 3,49 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2008 [22]. Ngoài cuộc khủng hoảng tài
chính, ngành nuôi trồng thuỷ sản nước này còn thường xuyên phải đối phó với thiên tai,
như thời tiết đông giá vào đầu năm và bão lụt hồi giữa năm. Tuy nhiên, sản lượng của
ngành này vẫn tăng nhờ việc cải tiến các đầm nuôi, thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm
dịch và hệ thống sản xuất con giống tốt.
1.2.3 Cơ cấu sản phẩm
Các mặt hàng thủy sản thế giới rất đa dạng: tôm, cá, mực, bạch tuộc, thủy sản khô,
ngao, sò, điệp,… tuy nhiên người tiêu dùng trên thế giới chủ yếu tiêu thụ những sản
phẩm tôm, cá ngừ, cá hồi, cá thu, cá da trơn.
Tôm:
Giá tôm thế giới tăng mạnh từ cuối năm 2007 tới gần hết quý I/2008, sau đó giảm
nhẹ vào đầu quý II, phục hồi vào quý tiếp theo và giảm trở lại vào cuối năm 2008, tiếp
tục tình trạng đó đến quý I năm 2009, sau đó phục hồi chậm từ quý II/2009. Sự bất ổn
của ở các thị trường tôm hàng đầu thế giới đã ảnh hưởng tới thị trường tôm toàn cầu.
Mỹ là nhà nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới, mỗi năm nước này nhập khoảng
550.000 tấn. Tuy nhiên, sau 10 năm tăng tăng liên tục, nhập khẩu tôm vào Mỹ năm 2008
bắt đầu trì trệ. Nhập khẩu tôm vào Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt tổng cộng
236.000 tấn, hầu như không thay đổi về khói lượng so với cùng kỳ năm 2007. Mặc dù
giá trị nhập khẩu tôm tăng 2,4% song nguyên nhân là do giá tôm nhập khẩu vào Mỹ
tăng 2,5%, chủ yếu là tôm vỏ đông lạnh. Nhìn chung, các nước Châu Á như Thái Lan,
Inđônêxia, Trung Quốc và Việt Nam vẫn chi phối thị trường tôm Mỹ, chiếm 65% tổng
nhâp khẩu. Ecuađo là nhà cung cấp quan trọng với 13% thị phần. Các nước Châu Á
cung cấp nhiều sản phẩ giá trị gia tăng hơn, trong khi các nước Mỹ Latinh chủ yếu cung
cấp sản phẩm tôm bỏ đầu đông lạnh.
Tại Nhật Bản, việc đồng Yên tăng giá so với Đôla Mỹ trong những tháng đầu và
cuối năm 2008 cũng tác động giảm tiêu thụ tôm. Nhập khẩu tôm vào Nhật bắt đầu giảm
từ năm 2007 và tiếp tục giảm trong năm 2008, 2009 nhưng Nhật vẫn là nước nhập nhiều
tôm lớn thứ 2 thế giới, sau Mỹ. Tôm vẫn là loại thuỷ sản được nhập nhiều nhất vào
Nhật, chiếm 16% trong tổng thuỷ sản nhập vào đây năm 2007, với 270.000 tấn[]. Đa số
vào giữa năm (so với khoảng 800-1.000 USD/tấn một năm trước đó). Cơ quan Nghề cá
Nhật Bản cho biết, giá nhiên liệu cho các tàu khai thác đã tăng gấp 2,3 lần kể từ tháng
3/2004 tới giữa năm 2008 do giá dầu thô tăng liên tục leo thang[16]. Theo số liệu thống
kê của FAO, tổng sản lượng khai thác 5 loài cá Ngừ chủ yếu là cá Ngừ vằn, cá Ngừ vây
vàng, cá Ngừ mắt to, cá Ngừ vây dài và cá Ngừ vây xanh năm 2008 và những năm tới
sẽ không thể tăng hơn mức vốn đã thấp của những năm 2005-2006, khoảng 4,35 triệu
tấn. Nhiều tàu khai thác cá Ngừ ở châu Á thậm chí có thể phải ngừng hoạt đồng do giá
nhiên liệu ngày một tăng, dẫn đến giá cá ngừ sashimi có thể sẽ tăng theo. Ngày càng có
nhiều tàu đã đăng ký nhưng không hoạt động do chi phí nhiên liệu tăng cao trong khi
việc đánh bắt ngày một khó khăn do nguồn cung suy giảm. Tuy nhiên vào những tháng
cuối năm, giá giảm dần do nhu cầu giảm, chịu tác động từ suy thoái kinh tế, và giá nhiên
liệu giảm. Từ mức 1.850 -1900 USD/tấn trong quý III, giá giá mỗi tấn cá ngừ đã giảm
xuống trung bình 1.400 USD.[16]
Cá hồi, cá thu
Theo khảo sát mới đây do Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp Nhật Bản tiến hành, nhu cầu
đối với cá hồi của Trung Quốc ước tính tăng khoảng 40% năm 2008. Tiêu thụ cá hồi và
nhu cầu nguyên liệu của Trung Quốc cho sản xuất sushi tăng nhanh chóng. Năm 2008,
Trung Quốc nhập khẩu 10.000 tấn cá hồi. Qua phỏng vấn nhiều tổ chức ngành, thì nhu
cầu đối với cá hồi của nước này tăng với tốc độ từ 35-40%/năm. Ở Trung Quốc, cá hồi
là loại thủy sản cao cấp với giá bán khoảng 40 NDT/kg. Trung Quốc dự định nuôi cá hồi
trên qui mô lớn trong tương lai.
Rô phi
Trên thị trường Trung Quốc, đợt rét khắc nghiệt nhất trong vòng 50 năm trở lại đây
xảy ra hồi đầu năm đẩy giá thuỷ sản tăng mạnh bởi tôm cá chết hàng loạt. Theo ước tính
của các nhà cung cấp, hơn 70% sản lượng cá rô phi nuôi của Trung Quốc bị thiệt hại do
đợt rét cuối tháng 1 gây ra, gây khan hiếm nguồn thuỷ sản không chỉ ở nước này mà ảnh
hưởng tới toàn cầu, vì Trung Quốc là nguồn cung cá rô phi chính cho thị trường thế
giới. Trong quý I, theo ước tính, giá cá rôphi trên thị trường Trung Quốc tăng từ 30% -
100%. Giá cá Rô phi giống trên thị trường đã tăng 50% và người nuôi chưa sẵn sàng thả
nuôi tiếp cho đến tháng 4. Sản lượng cá rô phi Trung Quốc năm 2008 ước tính giảm
Biển Đông. Cùng với diện tích đất liền trên 330 nghìn km
2
, hệ thống sông ngòi dày đặc
với nhiều cửa sông, eo vịnh, đầm phá, đặc điểm 8 vùng sinh thái khác nhau, Việt Nam
có thể phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các
vùng biển đảo và phát triển khai thác thủy sản ở hầu hết các thủy vực từ vùng ven bờ
đến vùng khơi, hay trong nội địa.
1.3.1.1 Hệ sinh thái biển Việt Nam
Đến nay trong vùng biển Việt Nam đã phát hiện chừng 11.000 loài sinh vật cư trú.
Trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy; trên 2.030 loài cá trong đó trên 130 loài cá
có giá trị kinh tế; 657 loài động vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm
biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim
nước. [5]
Các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao thường phân bố tập trung ở vùng bờ và
quyết định hầu như năng suất sơ cấp của toàn vùng biển và đại dương như: Rạn san hô,
thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng triều cửa sông, đầm phá và vùng nước trồi… Các hệ
sinh thái này có khả năng điều hoà dinh dưỡng trong vùng biển thông qua các chu trình
sinh địa hoá; là nơi cứ trú tự nhiên, nơi sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng của nhiều loài thủy
sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ mà còn từ ngoài khơi vào theo mùa (90% các loài
thủy sản sống ở vùng biển thềm lục địa và biển xa có tập tính gắn bó với vùng nước ven
bờ). Các hệ sinh thái biển - ven biển còn có tiềm năng bảo tồn đa dạng sinh học và
nguồn giống hải sản tự nhiên cho nghề khai thác và nuôi trồng hải sản trên biển. Chúng
có tính liên kết sinh thái, tương hỗ mật thiết với nhau và tạo ra những “dây xích sinh
thái” quan trọng trong biển và vùng ven bờ mà một mắt xích bị tác động sẽ ảnh hưởng
đến các mắt xích còn lại.
1.3.1.2 Tiềm năng nguồn lợi thủy sản
Nguồn lợi thủy sản ở vùng biển và ven biển Việt Nam được xem là khu hệ sinh
thái đa dạng và phong phú. Theo các số liệu nghiên cứu, đến nay chúng ta đã phát hiện
được khoảng 11.000 loài động vật và thực vật biển. Khu hệ cá biển có khoảng 2.000
loài trong đó đã kiểm định được 1.700 loài. Tuy nhiên số lượng cá có giá trị kinh tế
thác không lớn lắm. Do đó, bên cạnh chú ý đến trữ lượng cũng phải chú ý đến sản lượng
khai thác để duy trì được mức độ khai thác an toàn nhằm bảo vệ nguồn lợi tài nguyên
biển.
Tóm lại, Việt Nam là nước có diện tích biển nhiều tạo điều kiện cho nghề cá phát
triển. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lợi thủy sản khá dồi dào, việc đánh giá
đúng nguồn lợi, tổ chức khai thác tốt, chắc chắn ngoài đáp ứng đủ nhu cầu trong nước,
thủy sản còn là ngành hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta.
1.3.1.3 Nguồn nhân lực
Với nguồn nhân lực dồi dào tham gia vào các hoạt động thủy sản, đặc biệt là dân
cư tập trung khá đông đúc vùng ven biển là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế
biển nói chung và thủy sản nói riêng. Theo số liệu thống kê, tổng số lao động thủy sản
tính đến năm 2009 là xấp xỉ 10 triệu người, so với năm 1989 là 1 triệu người, như vậy
trong vòng 20 năm, số lao động trong ngành thủy sản đã tăng gấp 10 lần.
Về cơ cấu lao động cũng đang có sự chuyển hướng tích cực rõ rệt. Nếu hơn 20
năm trước, lao động trong ngành thủy sản chỉ tập trung chủ yếu ven biển trong ngành
khai thác ven bờ, thì nay không những chuyển mạnh sang khai thác xa bờ mà số tăng lao
động thủy sản còn tập trung trong nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản.
Về chất lượng lao động, trước đây đa phần lao động trong nghề có trình độ văn
hóa thấp, tuy rằng tỷ lệ lao động trẻ có tỉ lệ khá cao. Nhìn chung, lực lượng lao động
hầu hết thành thạo nghề, chịu khó, có kinh nghiệm, chăm chỉ, cần cù. Tuy nhiên, về lâu
dài, những lao động này cần được đào tạo bài bản, được tiếp thu khoa học công nghệ
tiên tiến để nâng cao năng suất lao động.
Dự báo đến năm 2020 riêng dân số vùng ven biển sẽ tăng lên khoảng 30,4 triệu
người, trong đó lao động khoảng gần 19 triệu người. Đây sẽ là lực lượng quan trọng
tham gia vào sự phát triển ngành thủy sản trong tương lai.
1.3.2 Thành tựu của ngành thủy sản và nguyên nhân đạt được
1.3.2.1 Những thành tựu
* Thủy sản liên tục tăng trưởng với tốc độ cao theo hướng nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả; gắn sản xuất với thị trường trong nước và xuất khẩu; đóng góp quan
trọng vào nền kinh tế quốc dân