Thực trạng và giải pháp phát triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu - Pdf 28

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là một nước
nông nghiệp trên 70% lực lượng lao động hoạt động trong ngành nông
nghiệp, vì thế Đảng và Nhà nước ta đã xác định nông sản là mặt hàng xuất
khẩu chiến lược nhằm sử dụng lực lượng lao động rất lớn trong nông nghiệp,
phân công lại lực lượng lao động và tạo nguồn ban đầu cần thiết cho sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Thế Giới, việc
xuất khẩu của các quốc gia có vai trò rất quan trọng. Việc hội nhập kinh tế
quốc tế đối với Việt Nam ngày càng quan trọng và cần thiết bởi nước ta vẫn
là nước đang phát triển, có hội nhập thì chúng ta mới phát triển được.
Với những điều kiện hết sức thuận lợi như nước ta hiện nay, việc phát
triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản đang là một xu hướng tất yếu để góp
phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu và sự phát triển của nền kinh tế, nhất là
khi chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại Thế Giới
(WTO). Trong bối cảnh thế giới đang suy thoái toàn cầu. Hiện nay thì Việt
Nam phải có những hướng đi đúng đắn và có biện pháp thích hợp trong việc
xuất khẩu các mặt hàng nông sản như thế nào.
Ý thức được điều này, em đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát
triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt Nam trong bối cảnh suy giảm
kinh tế toàn cầu”
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản Việt
Nam trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu nhằm
Trang 1
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tình hình tăng hay giảm xuất nhập khẩu nông sản ở
Việt Nam
- Những thành công và hạn chế

1. Lý luận chung về suy thoái kinh tế
1.1 Khái niệm:
Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong kinh tế học vĩ mô là sự suy
giảm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực trong thời gian hai hoặc hơn
hai quý liên tiếp trong năm (hay nói cách khác là tốc độ tăng trưởng kinh tế
âm liên tục trong hai quý). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận
rộng rãi. Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra
định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập mờ hơn “là sự tụt giảm hoạt động
kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy thoái kinh tế có thể liên quan
sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế
như việc làm, đầu tư và lợi nhuận doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể
đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát)
trong thời kỳ đình lạm.
Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được goi là khủng hoảng kinh
tế. Sự tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp hay đổ vỡ kinh tế.
Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo
chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế)
không thường xảy ra. Nhiều tranh luận về việc chính phủ có nên can thiệp để
điều hòa kinh tế (học thuyết kinh tế vĩ mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ
Trang 3
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh tế (lý thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậm chí là tạo ra chu kỳ kinh tế
(chủ nghĩa tiền tệ).
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái kinh tế là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền
trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản
xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng
giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút.
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao
động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất

bớt; nạn thất nghiệp tràn lan, nguồn nhân lực bị xáo trộn, rối loạn; đời sống
của những người lao động bị xuống cấp; số công ty, hãng, doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ, bị phá sản ngày càng nhiều; thị giá cổ phần sụt xuống; lạm phát
tăng lên; thị trường chứng khoán rơi tự do, không ít thị trường chứng khoán
mất tới 50% giá trị; nguồn dự trữ của nhà nước bị cạn kiệt vì phải bơm tiền
vào thị trường; đồng tiền của nhiều quốc gia bị mất giá, phải cầu cứu IMF;
bất động sản bị chao đảo; những biến động kinh tế liên tục diễn ra tại nhiều
nước, đẩy nền kinh tế của nhiều nước rơi vào suy thoái. Mỹ, Anh, Nhật,
Đức,... đều phải gánh chịu hậu quả.
Dư luận Đức hiện nay đang nóng lòng vì cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu đã tác động khá mạnh đến hệ thống ngân hàng, trong đó, Deutsche
Bank, ngân hàng lớn nhất của Đức tuyên bố quý 4-2008, đã lỗ 4,8 tỷ euro.
Royal Bank của Xcốtlen, là một trong 5 ngân hàng lớn nhất thế giới, đã chịu
mức thua lỗ 39 tỷ USD lớn nhất trong lịch sử Anh quốc. Nhiều ngân hàng
nước ngoài do cần tiền đã bán bớt cổ phần cho các ngân hàng Trung Quốc.
Tổng giá trị tài chính toàn cầu giảm 50 nghìn tỷ USD. Trị giá tài sản "tài
chính" của châu á đã bị mất đi 9.600 tỷ USD, một khoản tiền cao hơn một
Trang 5
Chuyên đề tốt nghiệp
năm GDP của toàn châu á. Đồng tiền Hàn Quốc giảm 35% giá trị so với
mức bình quân của năm 2006-2007.
Các ngân hàng liên tục bị phá sản. Đến nay, thế giới mất gần 400 tỷ
phú USD, từ 1.125 người của năm 2008, đến đầu năm 2009 chỉ còn 793
người. Với 332 người bị loại ra khỏi làng tỷ phú (trong đó có 18 người chết)
đã làm cho danh sách các nhà tỷ phú vơi đi tới 30%. Đây là lần đầu tiên, số
lượng các nhà tỷ phú lừng danh trên thế giới bị giảm nhanh. Tổng tài sản của
các nhà tỷ phú cũng giảm tới 2 nghìn tỷ USD. Điều này, tác động mạnh tới
mọi lĩnh vực kinh doanh, từ cổ phiếu, thị trường nguyên liệu, bất động sản,
nhà đất, công nghệ, tín dụng đóng băng, sức mua yếu. Có người cho rằng, sự
phá sản của các nhà tỷ phú là sự mở đầu của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài

thương mại từ Mỹ giảm mạnh.
Tình hình kinh tế thế giới theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB)
và bình luận của các nhà khoa học kinh tế thế giới, thì năm 2009, sản lượng
công nghiệp thế giới sẽ thấp hơn tới 15% so với cùng kỳ năm 2008, trong
khi giá trị thương mại sẽ giảm mạnh nhất trong vòng 80 năm trở lại đây.
Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính lần này sẽ gây thiệt hại cho cả nước
giàu lẫn nước nghèo, trong đó, các nước đang phát triển có thể đối mặt với
các khoản thâm hụt tài chính lên tới 700 tỷ USD. Giá trị thương mại tại khu
vực Đông Á sẽ suy giảm mạnh nhất, vì đây là khu vực có nhiều nước xuất
khẩu lớn.
3. Tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu vào Việt Nam
Kinh tế thế giới bước sang 2009 với nhiều lo âu và thấp thỏm. Đầu tầu
kinh tế toàn cầu sau khi lên dốc không thành vào quý III/2008, đã trượt dốc
không phanh. Các kế hoạch cứu trợ khẩn cấp liên tiếp được đưa ra, mà riêng
ở Hoa Kỳ đã lên tới hơn 2.000 tỷ USD, nhưng không làm sao ngăn được sự
Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp
bốc hơi của lượng tài sản tài chính (bao gồm cả bất động sản đã tiền tệ hóa)
lên tới hơn 30.000 tỷ USD.
Toàn thế giới đã rung động. Sốt lạm phát. Giá hàng hóa vật tư sản
xuất tăng cao. Giá dầu ngự trị trên 149 USD, và đã từng được tiên đoán có
thể vượt 200 USD. Rồi co rút tín dụng và mất thanh khoản dòng vốn toàn
cầu. Giá dầu tụt xuống ngưỡng 40 USD chẳng bao lâu sau cái đỉnh suýt 150
kia.
Đối với Việt Nam, khó khăn về nguốn vốn và tín dụng quốc tế chưa
qua đi. Thu hút vốn FDI trong năm 2009 sẽ gặp nhiều khó khăn. Qui mô vốn
cam kết mới khó lòng vượt qua con số kỷ lục của 2008. Ưu tiên đẩy nhanh
tiến độ và tăng cường giải ngân các dự án đã có cam kết vốn trong những
năm trước là lựa chọn hợp lý so với nỗ lực thu hút thêm các cam kết đầu tư
mới. WB dự báo dòng vốn tư nhân chảy sang các nước đang phát triển sẽ

kinh doanh hiệu quả. Trong thời gian TTCKVN tăng trưởng đầy hào hứng
kể từ giữa 2006 đến hết 2007, nhiều dự án đầu tư mở rộng hoặc phát triển
mới đã được triển khai mà không có các đánh giá đầy đủ và cẩn trọng về
mức độ khả thi thương mại. Đa phần các ngân hàng hiện này đều có qui
trình tín dụng với nhiều thủ tục nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao cho các
khoản vay. Tuy nhiên, phần cơ bản nhất là đánh giá tín nhiệm để phân cấp
tín dụng, làm căn cứ xác định lãi suất và hạn mức cho từng khách hàng hay
nhóm khách hàng thì vẫn chưa hoàn chỉnh.
Tỷ giá USD/VND diễn biến phức tạp và khó lường, tâm lý găm giữ
ngoại tệ của các tổ chức và doanh nghiệp khiến cho cung cầu USD trở nên
căng thăng.
Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp
Do suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng, nhu cầu tiêu dùng trong
năm 2009 giảm mạnh. Từ đó, có thể nhận định nhiều khó khăn cho xuất
khẩu Việt Nam đang ở phía trước. Mặc dù giá nhập khẩu cũng có xu thế
giảm nhưng muốn đảm bảo nhập siêu ở mức an toàn, cần tiếp tục kiểm soát
chặt chẽ hoạt động nhập khẩu và cổ vũ thực hành tiết kiệm trong tiêu dùng
và đầu tư.
II. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN
CẦU ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
1. Đối với các yếu tố cung
Trong thập niên từ 1997-2007, nền kinh tế Việt nam khởi sắc cùng với
quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đặc biệt là sau khi gia nhập APEC cuối
năm 1998 và hiệp định thương mại song phương với Mỹ được ký kết năm
2000. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng trưởng kể từ các thời
điểm quan trọng đó. Sự tăng trưởng liên tục của thương mại quốc tế đã đưa
Việt Nam thành một quốc gia có độ mở lớn đối với nền kinh tế toàn cầu.
Từ đầu năm 2008, nền kinh tế toàn cầu bắt đầu có những dấu hiệu khủng
hoảng, bắt nguồn từ sự suy thoái của thị trường bất động sản ở Mỹ dẫn đến

ngành hàng, từng lĩnh vực khác nhau. Cụ thể như lĩnh vực nông sản, thị
trường nông sản cũng là thách thức lớn nhất cho xuất khẩu Việt Nam là tính
biến động cao của giá cả. Những biến động trong năm 2008 đã là những
minh chứng cụ thể cho đặc điểm này. Mặt hàng gạo, giá thế giới có khi tăng
vọt lên đến 300%, sau đó lại suy giảm.
Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp
III. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU NÔNG SẢN TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM KINH TẾ
TOÀN CẦU
1. Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo.
Nhưng cũng không tránh khỏi tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, Thái
Lan cũng phải chịu ảnh hưởng không nhỏ, cụ thể là giá gạo xuất khẩu năm
2009 cũng bị giảm mạnh.
Theo Vụ Ngoại thương thuộc Bộ Thương mại Thái Lan cho biết, giá
gạo xuất khẩu của Thái Lan năm 2009 chỉ còn 530 – 540 USD/tấn, giảm
mạnh so với mức 1.080 USD/tấn hồi tháng 4 năm 2008.
Xuất khẩu gạo của nước này năm 2009 có thể đạt từ 8,5 – 9,5 triệu tấn.
Tháng 1 năm 2009, xuất khẩu gạo của Thái là 628.792 tấn gạo, đạt 331 triệu
USD, giảm mạnh so với 1,02 triệu tấn, tương đương 421 triệu USD hồi cùng
kỳ năm 2008. Theo bà Apiradi Tantraporn, Vụ trưởng Vụ Ngoại thương cho
biết, xuất khẩu gạo của Thái Lan năm 2008 là một hiện tượng lạ khi những
nỗi lo về thiếu hụt gạo đã khiến cho các nhà nhập khẩu nhập nhiều gạo để
tích trữ. Thêm vào đó, vài nước xuất khẩu gạo lớn như Ấn Độ và Việt Nam
đã áp dụng những biện pháp hạn chế hoặc cấm xuất khẩu, điều này đã tạo
điều kiện cho các nhà xuất khẩu gạo của Thái. Do đó, xuất khẩu gạo của
Thái năm 2008 đạt 10,02 triệu tấn, tăng mạnh so với 9,5 triệu tấn năm 2007.
Tuy nhiên, năm 2009 với tình trạng khủng hoảng kinh tế thế giới lan rộng đã
Trang 12

công bố dự kiến về triển vọng kinh tế các nước Mỹ La tinh và Caribe năm
2009/2010. Theo báo cáo của Ủy ban này, GDP của các nước Mỹ La tinh sẽ
giảm 1,9% trong năm nay do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu, các mâu thuẩn nội tại trong khu vực và thiên tai dịch bệnh đã và đang
phát sinh
Khủng hoảng đã làm gián đoạn quá trình 6 năm liên tục tăng trưởng kinh tế
và cải thiện chỉ số xã hội theo hướng tích cực của các nước trong khu vực.
Và mặc dầu hiện tại đã có dấu hiệu cho thấy, thời điểm tồi tệ nhất đã qua,
song việc phục hồi vẫn diễn ra chưa được như mong đợi. Các chỉ số kinh tế
cơ bản như xuất nhập khẩu, đầu tư, sản xuất công nghiệp của các nước như
Achentina, Brazil, Chile, Mexico, Colombia, Venezuela, đều giảm mạnh so
Với cùng kỳ năm ngoái, Cũng do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính
toàn cầu, lượng kiều hối, nguồn thu nhập quan trọng của các nước Mỹ La
tinh trong 10 tháng đầu năm đã giảm trên 13% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nhiều nước đã phải điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP và thu ngân sách
của năm nay, đồng thời áp dụng các biện pháp nới lỏng tỷ giá chuyển đổi
giữa đồng USD so với đồng tiền bản địa, tạo mọi điều kiện thuận lợi để hỗ
trợ và khuyến khích xuất khẩu và tiếp tục thực hiện các chính sách kích cầu
và hỗ trợ lãi suất tín dụng đã được đưa ra vào cuối năm ngoái và đầu năm
nay. Thiên tai cũng là một nguyên nhân khiến cho kinh tế các nước chậm
tăng trưởng. Một số nước như Achentina, Uruguay, Paraguay, Venezuela và
Brazil lại phải đương đầu với nạn hạn hán lớn nhất trong vòng 10 năm qua
gây hậu quả nặng nề cho trồng trọt và chăn nuôi. Achentina dự kiến năm nay
sản lượng ngũ cốc và hạt có dầu sẽ giảm từ 97,1 triệu tấn của niên vụ trước
xuống còn 63,5 triệu tấn trong niên vụ này. Cũng do hạn hán, một số nước
Trang 14
Chuyên đề tốt nghiệp
trong khu vực như Ecuador, Venezuela buộc Chính phủ phải ban hành chính
sách tiết kiệm điện, nước và và luân phiên cắt điện, nước ở từng khu vực đô
thị . Tình hình chính trị trong khu vực cũng bất ổn tác động tiêu cực đến

Trang 16
Chuyên đề tốt nghiệp
Hàng nông sản phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu, địa lý… Năm
nào có mưa thuận gió hoà thì cây cối phát triển, năng suất cao, hàng nông
sản được bày bán tràn ngập trên thị trường. Năm nào thời tiết khắc nghiệt,
bão, lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên nông sản mất mùa lúc đó thì hàng
nông sản khan hiếm, chất lượng lại không cao, do không có hàng bán nên
cung < cầu, lúc này giá bán lại rất cao. Hàng nông sản chủ yếu là phục vụ
nhu cầu ăn uống của người tiêu dùng cuối cùng vì thế chất lượng của nó tác
động trực tiếp tới tâm lý, sức khoẻ người tiêu dùng trong khi đó khâu bảo
quản, dự trữ chế biến hàng nông sản của nước ta vừa thiếu lại vừa yếu nên
hàng nông sản của Việt Nam khi bán trên thị trường thì giá thường thấp hơn
các nước trong khu vực và thế giới.
Với điều kiện khí hậu nước ta rất phù hợp với nhiều loại cây trồng do
đó chủng loại hàng nông sản của nước ta rất đa dạng, phong phú, một số loại
cây trồng cho năng suất rất cao tạo ra chất lượng hàng hoá cũng phong phú
và đa dạng. Nước ta là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số là làm nông
nghiệp do vậy cây nông sản được trồng ở khắp mọi nơi trên đất nước nhưng
do khác nhau về tự nhiên, địa lý mỗi vùng thích hợp cho một hoặc một vài
loại cây trồng khác nhau, mỗi vùng sử dụng một phương thức sản xuất khác
nhau và trồng những giống cây khác nhau. Do vậy tạo nên những loại hàng
hoá khác nhau và chất lượng hàng hoá khác nhau.
Tóm lại, nông sản Việt Nam rất đa dạng, phong phú về chủng loại,
chất lượng cao được rất nhiều nước trên thế giới và khu vực ưa chuộng.
Nhưng do nền kinh tế của nước ta chưa phát triển nên khâu bảo quản, dự trữ
rất yếu kém và ngành chế biến chưa được đầu tư đúng mức. Do đó hầu hết
hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường khu vực và thế giới chủ
yếu là hàng thô và thường bị ép giá nên giá trị xuất khẩu không cao.
Trang 17
Chuyên đề tốt nghiệp

Giá trị xuất khẩu
2008 (triệu USD)
Giá trị xuất khẩu
2009 (triệu USD)
Giá trị xuất
khẩu 2009 so
với 2008 (%)
Tổng giá trị xuất khẩu 62.685 56.584 90,3
Dầu thô 10.357 6.210 60
Dệt may 9.120 9.004 98,7
Giày dép 4.768 4.015 84,2
Thủy sản 4.510 4.207 93,3
Gạo 2.894 2.662 92
Gỗ và sản phẩm gỗ 2.829 2.550 90,1
Cao su 1.603 1.199 74,8
Cà phê 2.111 1.710 81
Điện tử, máy tính và
linh kiện
2.638 2.774 105,1
Máy móc thiết bị và
dụng cụ phụ tùng
1.860 2.028 109,1
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê (2009)
Trang 19
Chuyên đề tốt nghiệp
Một điều hiển nhiên là ngoài việc tăng số lượng xuất khẩu thì việc tăng
giá trị xuất khẩu còn phụ thuộc một phần vào giá thế giới và những thị trường
xuất khẩu lớn. Do đó khi những thị trường này có biến động thì kim ngạch xuất
khẩu bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu không chỉ
đơn thuần là do các khó khăn khách quan mà đồng thời cũng cho thấy sức

chủ yếu), cao su với 1,6 tỷ USD (chiếm 18,7%) và gạo là 2,9 tỷ USD (chiếm
33,8% tổng kim ngạch). Có thể nói đây là các mặt hàng thế mạnh của Việt
Nam và sản phẩm Việt Nam đã được thị trường thế giới chấp nhận rộng rãi
và là các sản phẩm có khả năng cao nhất tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
do cả thế mạnh trong điều kiện sản xuất và kinh nghiệm sản xuất - kinh
doanh - xuất khẩu của doanh nghiệp và chính sách của Nhà nước.
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu nông sản, trong 8 tháng đầu năm ước
đạt 8,25 tỷ USD, giảm 9,4% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm tỷ trọng
22% kim ngạch xuất khẩu. Lượng xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng nông
sản đều tăng mạnh như nhân điều lượng đạt 115.000 tấn, tăng 6% so với
cùng kỳ năm 2008, cà phê lượng đạt 848.000 tấn, tăng 17%; chè các loại
lượng đạt 83.000 tấn, tăng 16,8%; hạt tiêu lượng đạt 96.000 tấn, tăng 46,8%;
gạo lượng đạt 4,7 triệu tấn, tăng 43%, tuy nhiên do giá xuất khẩu bình quân
của các mặt hàng nông sản đều giảm đã làm cho xuất khẩu nhóm hàng này
giảm 9,4% so với cùng kỳ năm 2008, cụ thể giá điều giảm 19%, giá cà phê
giảm 29%, giá hạt tiêu giảm 34%, giá gạo giảm 29%, giá cao su giảm 46%.
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu nhóm này giảm 808 triệu USD, trong đó
giảm do giá khoảng 2,25 tỷ USD nhưng tăng do lượng khoảng 1,44 tỷ USD.
Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 2.2: Xuất khẩu nông sản chủ yếu của Việt Nam
n v tính: L ng (1.000 t n), giá tr (tri u USD)Đơ ị ượ ấ ị ệ
Năm 2007 Năm 2008
Lượng Giá trị Lượng Giá trị
Nông sản chủ yếu 6,274 8,580
1 Cà phê 1,229 1,911 1,060 2,111
2 Cao su 715 1,393 658 1,604
3 Gạo 4,558 1,490 4,742 2,894
4 Chè 114 131 104 147
5 Hạt điều 153 654 165 911

kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam; tiếp theo là Malaysia (7,83%);
Singapo (1,74%) và Nhật Bản (1,26%). Năm 2005 Việt Nam xuất khẩu gạo
tới 40 thị trường, năm 2006, 2007 và 2008 con số này đã là 41 thị trường.
Đặc biệt trong năm nay, tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam sang châu
Phi và Trung Đông tăng mạnh.
 Mặt hàng cà phê: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam tăng
mạnh từ 735 triệu USD năm 2005 lên 1.911,5 triệu USD năm 2007 và đạt
2.111 triệu USD năm 2008. Trong tháng 12 năm 2009, lượng cà phê xuất
Trang 23
Chuyên đề tốt nghiệp
khẩu đạt 182 nghìn tấn, đem lại tổng kim ngạch cho cả năm 2009 là 1.710
triệu USD, giảm 19% so với cùng kỳ năm 2008. Các nước nhập khẩu chính
của cà phê Việt Nam là Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ, Đức, Hoa Kỳ….. Đối thủ
cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam là Braxin, Colombia và Indonesia. Xét về
giá trị, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam từ năm 2001 đến nay tăng
trung bình khoảng 30%/năm, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, theo thống
kê của hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (VICOFA), kim ngạch xuất khẩu
tăng tới 53%. Việt Nam trong nhiều năm liền là một trong các nước xuất
khẩu cà phê hàng đầu thế giới. Việt Nam đã xuất khẩu cà phê sang 74 nước
trên thế giới, thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng đã hình thành một số
thị trường lớn, ổn định.
 Mặt hàng cao su: Năm 2007, Việt Nam là nước xuất khẩu cao su tự
nhiên lớn thứ tư trên thế giới sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia. Kim
ngạch xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam tăng từ 804,1 triệu USD năm
2005 lên 1.392,8 triệu USD năm 2007 và đạt 1.604 triệu USD trong năm
2008. Tính đến hết tháng 12 năm 2009, lượng giá trị cao su xuất khẩu là
1199 nghìn tấn, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm 2008. Theo dự đoán của
các nhà kinh tế học, giá cả trên thị trường cao su nói riêng và nhóm thị
trường nguyên liệu thô nói chung sẽ hồi phục trước khi kinh tế toàn cầu hồi
phục, do hoạt động của các quỹ đầu cơ trên thị trường tương lai (future

trường nhập khẩu lớn của Việt Nam.
 Mặt hàng chè: Kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam đã tăng từ 97
triệu USD năm 2005 lên 130 triệu USD năm 2007 và đạt 147 triệu USD năm
Trang 25

Trích đoạn Xây dựng cơ sở pháp lý và chính sách phát triển thương mại nông sản Tăng cường hệ thống thu thập, xử lý thông tin thương mạ Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả hợp tác quốc tế trong phát triển Các giải pháp khác MỤC LỤC Trang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status