Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Chè là cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
xã hội nước ta. Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc
sống hàng ngày, một tập quán mang nét văn hoá của người Việt Nam. Chè
còn là sản phẩm xuất khẩu quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta. Hiện
nay, trên thế giới có 39 nước trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5
về diện tích và đứng thứ 8 về sản lượng.
Yên Bái là một tỉnh miền núi sản xuất nông lâm nghiệp là chính. Trong
sản xuất nông nghiệp thì cây chè là loại cây công nghiệp dài ngày mang lại
nhiều lợi ích cho người dân. Ngoài tác dụng là một thức uống lý tưởng và có
nhiều giá trị về dược liệu, cây chè còn mang ý nghĩa kinh tế to lớn đối với sự
phát triển kinh tế của Tỉnh Yên Bái. Cây chè đã trở thành cây trồng truyền
thống và chủ lực trong cơ cấu cây trồng của tỉnh. Hằng năm cây chè tạo ra giá
trị sản phẩm chiếm từ 12 - 15% trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt
Yên Bái được mệnh danh là thủ phủ của chè với diện tích 12.290 ha và
có trên ba vạn gốc chè cổ thụ Suối Giàng, là vùng chè lớn thứ 4 của cả nước.
Song năng suất chè của tỉnh cũng chỉ đạt trên 50 tạ/ha, giá trị sản xuất chè đạt
được không tương xứng với tiềm năng của một vùng chè như Yên Bái
Do lợi thế và vị trí quan trọng của cây chè trong nền kinh tế nói chung và
trong sản xuất nông nghiệp nói riêng, cũng như những tồn tại, bất cập của
ngành chè Yên Bái ngày 4 tháng 4 năm 2006 Tỉnh uỷ Yên Bái đã ban hành
''Nghị quyết của Ban thuờng vụ Tỉnh uỷ về phát triển ,nâng cao chất luợng sản
xuất, chế biến, kinh doanh chè đến năm 2010". Nghị quyết xác định mục tiêu
phát triển cây chè ở Yên Bái những năm tới là:" Khai thác có hiệu quả diện tích
chè hiện có, đồng thời tích cực, chủ động thay thế diện tích chè năng suât thấp,
chất lượng thấp bằng giống chè chất lượng cao, phấn đấu đưa năng suất chè lên
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gấp 2 lần hiện nay. Ổn định diện tích chè toàn tỉnh đến năm 2010 là 13.000 ha,
trong đó diện tích chè xanh chiếm khoảng 30-32%. Phấn đấu đến năm 2010 đạt
ta và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã hội đất nước.
1. Về mặt lịch sử:
Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc truyền bá ra khắp thế giới.
Cây chè có lịch sử từ rất lâu đời: từ khi phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát
triển đến nay đã có gần 4000 năm. Do đặc tính sinh trưởng của bản thân cây
chè, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc nên cây chè đã du nhập vào Việt
Nam từ khoảng 3000 năm trước. Nhân dân vùng biên giới của Việt Nam đã
học được cách trồng và chế biến của người Trung Quốc để phát triển các v-
ườn chè trồng phân tán rải rác và hái lá để uống. Ngay từ trước thế kỷ thứ
XVII, ở Việt Nam đã hình thành hai vùng sản xuất chè: chè vườn miền trung
du và chè rừng miền núi.
-Vùng chè miền trung du chủ yếu sản xuất chè tươi, chè nụ và chè băm,
chế biến đơn giản.
- Vùng chè miền núi sản xuất loại chè chi, chè mạn, lên men nửa chừng
của đồng bào dân tộc Mông, Dao.
Kỹ thuật trồng chè thời kỳ này chủ yếu là quảng canh, có nơi coi đó là
một cây rừng chế biến đơn giản, mang tính tự cung, tự cấp trong gia đình
hoặc trong cộng đồng lãnh thổ phạm vi nhỏ.
Đến thế kỷ thứ XIX, một số người Pháp bắt đầu kiểm soát việc sản xuất
và buôn bán chè ở Hà Nội. Đến năm 1980 Paul Chaffajon xây dựng đồn điền
trồng chè đầu tiên của Việt Nam tại Tĩnh Cơng (Phú Thọ) nay thuộc huyện
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sông Thao tỉnh Phú Thọ với diện tích khoảng 60 ha. Đến năm 1918, người
Pháp thành lập Trung tâm nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ tại Phú Hộ.
Từ năm 1925, cây chè bắt đầu phát triển mạnh, cả nước hình thành ba vùng
chè chính:
-Vùng chè Tây Nguyên: Có diện tích tính đến năm 1939 là 2.759 ha,
sản lượng bình quân mỗi năm đạt 900 tấn. Đã có những đồn điền quy mô 400-
500 ha. Bắt đầu hình thành một số nhà máy (thiết bị của Anh) có sản phẩm
là ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc. Đảng và Nhà nước ta coi cây chè là
cây xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và là cây làm
giàu, góp phần lớn vào việc phát triển kinh tế nông thôn ở miền Nam. Hàng
năm ngành chè đã đem lại nguồn thu ngoại tệ không nhỏ cho đất nước, năm
2005 tổng giá trị xuất khẩu đạt 97 triệu USD, dự kiến tổng giá trị xuất khẩu
năm 2010 đạt 200 triệu USD.
Trồng chè còn thu hút được một lượng lao động đáng kể, góp phần giải
quyết việc làm và là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao ở Trung
du Miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy trung du, miền núi có
điều kiện hoà hợp với miền xuôi về kinh tế, văn hoá, xã hội.
II. Vị trí,vai trò của ngành sản xuất chè Việt Nam
1. Vị trí ,vai trò của ngành sản xuất chè Việt Nam
Việt Nam là nước có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát
triển cây chè. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, theo phân công trong
khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế) Việt Nam là nước sản xuất chè cho
các nước XHCN. Trong những năm qua, ngành chè đã góp phần sử dụng hiệu
quả đất đai ở vùng trung du, miền núi, đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ,
đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động, góp phần xoá đói giảm
nghèo, chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
một nền kinh tế sản xuất hàng hoá, góp phần phân công lao động giữa miền
ngược và miền xuôi. Chè cũng đem lại nguồn lợi tương đối lớn cho Ngân
sách Nhà nước. Chè có vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực:
1.1. Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp:
Chè là cây trồng rất lâu đời ở Việt Nam, đến nay xác định được 33 tỉnh
có khả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở Trung du Miền
núi Bắc Bộ và Tây Nguyên. Bên cạnh ưu thế về khí hậu, đất đai của tự nhiên
nhiệt đới Việt Nam có lợi cho sinh trưởng cây chè (mùa hái chè dài, thời gian
kiến thiết ngắn) và các nguồn gen phong phú (chè rừng miền núi), cây chè
Những năm 60, ở miền Bắc đã xây dựng hàng loạt nhà máy chè đen OTD lớn
(12-43 tấn/ ngày) với thiết bị công nghệ chè đen và chè xanh của Trung Quốc
và Liên Xô. Những năm 90 lại có chè túi nhúng của Ý, thiết bị chế biến chè
CTC của Ấn Độ, chè xanh dẹt bán tự động của Nhật Bản. Hiện nay ngành công
nghiệp chế biến của ta đã phát triển theo hướng không ngừng đổi mới thiết bị
và công nghệ chế biến chè, đặc biệt là chế biến chè đặc sản và nghiên cứu các
sản phẩm mới theo dự báo của thị trường tiêu thụ chè tương lai.
1.3. Sản xuất chè với ngành xuất khẩu
Cây chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường của hơn 40 nước trên
thế giới, gồm có Liên Xô cũ và Đông Âu, Trung Cận Đông, Bắc Phi, Tây Âu
và Nhật Bản, do đó đã đem lại một nguồn kim ngạch nhập khẩu đáng kể cho
đất nước. Năm 2005 chúng ta xuất khẩu được 88.000 tấn đem lại cho đất n-
ước 97 triệu USD.
1.4. Sản xuất chè với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Chè chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn sự phát triển của nó với việc
phát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc khai
hoang ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. ở đây cây chè gần gũi với từng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gia đình, góp phần định cư, ổn định cuộc sống và xoá đói giảm nghèo cho
đồng bào dân tộc ít người. Hơn nữa cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hàng
vạn lao động góp phần ổn định đời sống cho hơn 10 vạn hộ gia đình. Việc
quy hoạch các vùng sản xuất chè tập trung bao gồm sản xuất nông - công
nghiệp -dịch vụ, hình thành các cụm dân cư đã góp phần cải thiện đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân.
Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài nhưng
nhanh cho sản phẩm thu hoạch, là cây trồng xoá đói giảm nghèo và phát triển
kinh tế ở vùng núi và trung du Việt Nam, góp phần thúc đẩy trung du miền
núi có điều kiện tiến kịp với các vùng khác trong cả nước. Cây chè là cây
trồng có thể áp dụng rộng rãi vào các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế
Tổng giá trị sản xuất từ cây chè hàng năm đạt từ 70-90 tỉ đồng (theo giá
cố định năm 1994, chiếm 9-10% trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Các cơ sở
chế biến chè đã nộp ngân sách được từ 9 đến 11 tỉ đồng/năm.
Bảng1: Bảng so sánh diện tích trồng chè trong tổng diện tích canh tác trồng
cây hàng năm và cây lâu năm của Yên Bái
Năm Diện tích canh tác
cây hàng năm và
lâu năm (ha)
Diện tích trồng chè
(ha)
% Diện tích trồng
chè trong tổng số
2000 57.268 10.378 18,12
2002 58.480 12.005 20,53
2003 59.884 12.252 20,46
2005 60.200 12.289 20,41
*Nguồn: Một số báo cáo thống kê chính thức của nghiệp vụ thống kê
Nông nghiệp - Cục thống kê tỉnh Yên Bái
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng2: Bảng so sánh giá trị sản xuất trồng chè trong giá trị sản xuất
nông nghiệp qua các năm
Năm Giá trị sản xuất
nông nghiệp (giá CĐ
1994) (triệu đồng)
Giá trị sản xuất
trồng chè (giá
CĐ) (triệu đồng)
% Giá trị sản xuất
của chè/tổng số
và Nam Mỹ chiếm 4% (4 nước). Như vậy chè chủ yếu được trồng ở châu Á
và đây là cái nôi phát triển của cây chè với mọi điều kiện đất đai, khí hậu phù
hợp với sinh trưởng của cây chè.
1.2. Diễn biến cung-cầu
Cung: Năm 2002 sản lượng chè thế giới ước đạt 2,132 triệu tấn, tăng
1,5% (tương đương 32 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm 2001, trong đó nhóm n-
ước sản xuất và xuất khẩu chè chủ yếu tăng khoảng 20 nghìn tấn và nhóm các
nước khác tăng khoảng 12 nghìn tấn. Thị trường cung chè vẫn tiếp tục tập
trung vào một số nước sản xuất lớn như Ấn Độ, Srilanca, Kênya, Trung Quốc,
Inđônêsia. Riêng 5 nước này đã chiếm trên 85% sản lượng chè thế giới.
Cầu: Năm 2002, mức tiêu thụ chè trên thế giới đạt 2,072 triệu tấn, tăng
2,4% (tương đương 49 nghìn tấn) so với năm 2001, trong đó nhóm 5 nước
tiêu thụ chủ yếu vẫn là Ấn Độ, Anh, Pakistan, CIS và Hoa Kỳ (chiếm khoảng
58,5% tổng mức tiêu thụ trên thế giới) tăng 5 nghìn tấn và nhóm các nước
khác giảm 1 nghìn tấn.
Giá chè trên thế giới: Từ năm 1997 trở lại đây có xu hướng cung vượt
quá cầu. Số lượng chè xuất khẩu cao hơn nhập khẩu. Các nước nhập khẩu lớn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đều giảm số lượng chè đen nhập khẩu. Do cung có xu hướng vượt cầu nên giá
bình quân tính theo đồng USD ở hầu hết các thị trường đấu giá đều giảm một
cách đáng kể từ năm 1998.
2. Kinh nghiệm của một số nước sản xuất chè trên thế giới
Trên thế giới chỉ có khoảng hơn 30 nước là có điều kiện tự nhiên thích
hợp để trồng chè trong khi đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chè
với mức độ khác nhau. Các nước trồng chè đã tận dụng ưu thế đó để phát
triển sản xuất, có những nước xem chè là cây trồng chính của đất nước như
Kênya, Ấn Độ...
Sau đây là kinh nghiệm sản xuất chè của một số nước trên thế giới.
Trung Quốc: Là nước phát hiện và sử dụng chè sớm nhất trên thế giới.
Nga: Nga là một nước sản xuất chè lớn và cũng là một trong những nư-
ớc tiêu thụ chè lớn nhất thế giới hiện nay. Ngành chè ở Nga rất chú trọng phát
triển khoa học kỹ thuật đặc biệt ở khâu trồng chè. Người ta trồng chè theo
từng hàng, khoảng cách giữa các hàng là 1,5-1,75 cm, khoảng cách giữa các
cây là 0,35 cm, lượng hạt giống dùng cho 1 ha là 150 kg. Khi phân chia lô
chè người ta đặc biệt chú ý tới độ thẳng của từng hàng chè và san phẳng mặt
đất giữa các hàng chè để khi cơ giới hoá thì quá trình như đốn chè, thu hoạch
búp và các quá trình canh tác khác không bị sai lệch khi làm việc
Nhật Bản: Nhật Bản vốn là nước sản xuất và xuất khẩu chè xanh lâu
đời trên thế giới. Nhật Bản là nước trồng chè có nền kinh tế phát triển, do đó
giá nhân công cao thêm vào đó là khả năng công nghệ cao nên họ chủ yếu
tiến hành cơ giới hoá trên đồi chè. Nhà nước coi trọng đầu tư vào nông nghiệp
ở khâu giống tốt và các biện pháp quản lý chăm bón vườn chè bằng hoá chất.
Nhà nước ban hành chế độ khen thưởng và đăng ký giống chè nên đã thông
qua đợc trên 60 giống chè mới. Vườn chè có năng suất 18 tấn búp/ha phải
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tuân theo quy trình bón nghiêm ngặt: N 540 kg, P
2
O
5
180 kg, K
2
O 270 kg, bón
nhiều lần. Sử dụng cơ khí nhỏ trong công tác chăm sóc.
Hầu hết các nước sản xuất chè chính trên thế giới như Ấn Độ đều là
những nước đang phát triển. Việc phát triển ngoài mục đích đem về cho đất n-
ước một nguồn ngoại tệ lớn mà nó còn giúp thực hiện các mục đích xã hội
khác. Những nước này mở rộng sản xuất dựa vào lực lượng lao động nông
thôn dồi dào, giá nhân công rẻ. Tuy vậy do coi trọng phát triển chè họ cũng
giữa Đông Bắc và Tây Bắc, giữa cửa khẩu Lao Cai và Hà Nội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Địa hình tỉnh Yên Bái cấu tạo khá đa dạng và phức tạp. Đó là phần tiếp
giáp giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, là địa bàn chuyển tiếp từ địa hình
vùng trung du Phú Thọ lên vùng cao Lào Cai. Địa hình Yên Bái cao dần từ
Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc, nơi thấp nhất là xã Minh Quân, ( Huyện
Trấn Yên ) có độ cao 26,1m và cao nhất là đỉnh Pu luông ( Huyện Trạm Tấu )
cao 2.985 m so với mặt biển
Tính đa dạng và phức tạp về cấu tạo địa hình miền núi Yên Bái được
tạo bởi đồng bằng phù xa ven sông Hồng, đồng bằng phù xa cổ lượn sóng, đồi
thấp đỉnh tròn, đồi bát úp dốc thoải, bồn địa, thung lũng, núi cao, rãnh sâu,
cao nguyên đá vôi dốc đứng. Yên Bái có tới trên 70,0 % diện tích đất là địa
hình núi cao và cao nguyên,xen giữa các dãy núi cao, đồi thấp là địa hình
thung lũng do sông suối bồi đắp, bồn địa tương đối bằng phẳng.
Yên Bái có vùng hồ nhân tạo Thác Bà được hình thành từ năm 1971
( do ngăn dòng sông Chảy để làm thuỷ điện Thác Bà ) với tổng diện tích mặt
nước 19.050 ha. Phần diện tích đồi núi đất và núi đá vôi thuộc lòng hồ nổi lên
đã tạo thành trên 1300 hòn đảo và bán đảo.
2 . Địa hình đất đai
Xét theo điều kiện địa hình. diện tích đất trên địa bàn tỉnh Yên Bái gồm
hai loại: Đất địa thành do các nham thạch phong hoá tại chỗ và đất thuỷ thành
và bán thuỷ thành do bồi tụ mà có. Diện tích đất địa thành có khoảng
621.013,9 ha, trong đó chủ yếu là đất Feralit với tổng diện tích 578.000 ha, đó
là phần diện tích phủ trên phần lớn bề mặt đồi núi và cao nguyên, đây là loại
đất tốt, và ở Yên bái nhìn chung đất Feralit thuộc loại tầng đất tốt, còn dày,
thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây lâm nghiệp, công
nghiệp, nông nghiệp, cây ăn quả và cây hoa mầu. Đất thuỷ thành và bán thuỷ
thành có tổng diện tích 67.278,3 Ha. Đây là loại đất do phù xa sông suối bồi
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không khí 80 đến 87%. Lượng mưa hàng năm từ 1.400 đến 2.200 mm. Gió
thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Do địa hình bị chia
cắt bởi những dãy núi cao nên có nhiều kiểu khí hậu.
Về thuỷ văn: Nhìn chung hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh Yên Bái
phân bố khá dày đặc bao gồm hai con sông lớn ( sông Hồng và sông Chảy )
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với khoảng trên dưới 200 ngòi và suối lớn nhỏ cùng một hệ thống hồ, đầm đa
dạng.
Nguồn nước sông Hồng và sông Chảy chuyển qua địa phận Yên Bái
hàng năm, đối với sông Hồng là 19 tỷ m
3
nước chứa nhiều phù xa mầu mỡ trên
đoạn dài 1155 km, bồi đắp phù xa và cung cấp nước tưới cho việc phát triển
nông nghiệp của tỉnh. Sông Chảy là 5,3 tỷ m
3
nước, có nhiều thác ghềnh tạo
nguồn thuỷ năng lớn (Thuỷ điện Thác Bà ), và phát triển nông nghiệp của tỉnh.
4. Hệ thống cơ sở hạ tầng
4.1 Hệ thống giao thông thuỷ bộ
Hệ thống giao thông thuỷ bộ tỉnh Yên Bái được hình thành và phát
triển qua nhiều thập niên và là một trong số ít tỉnh có mạng lưới giao thông
tổng hợp, đa dạng bao gồm 4 loại hình: đường Bộ, đường Sắt, đường Thuỷ
và đường Hàng không, tạo thành 1 hệ thống khá hoàn chỉnh, đáp ứng được
nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tổ quốc và phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào Yên Bái.
Hệ thống đường bộ: Toàn tỉnh có 7 tuyến đường giao thông bộ quốc lộ
và tỉnh lộ. Trong đó: có 4 tuyến đường quốc lộ là 70,30,32c và 37 với tổng
chiều dài 369,5km, chạy qua 46 xã và 6 huyện trong tỉnh; đường tỉnh có 11
tuyến. Đến nay 100% số xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã. Tổng chiều
phường toàn tỉnh
- Xã có trường trung học cơ sở: 178 xã, đạt 99,0% so với tổng số xã,
phường, thị trấn.
- Có 97% địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh và 95,0% được phủ
sóng truyền hình.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5. Dân số và lao động
Dân số trung bình năm 2005 của tỉnh Yên Bái là 731.784 người, mật độ
dân số trung bình toàn tỉnh là: 106 nưgời/
2
km
Mật độ dân số phân bố không đều giữa các huyện thị xã trong tỉnh đây
là khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế của điạ phương. Dân số tập
trung ở thành phố, thị xã, thị trấn, còn các huyện vùng cao dân cư thưa thớt.
Cụ thể:
Thành phố Yên Bái mật độ: 1.367 người/
2
km
Thị xã Nghĩa Lộ: 896người/
2
km
Huyện Trạm Tấu: 31 người/
2
km
Huyện Mù Cang Chải: 37 người/
2
km
Do tỉnh Yên Bái thực hiện tốt chính sách kế hoạch hoá gia đình cho nên
tỷ lệ tăng dân số Yên Bái hợp lý, tỷ lệ chết giảm dần.
- Kinh 363.302 49,64
- Tày 135.982 18,58
- Dao 75.456 10,31
- Mông 65.430 8,94
- Thái 48.816 6,67
- Các dân tộc khác 42.888 5,86
*Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê
Sự phân bố của các dân tộc sống ở tỉnh Yên Bái không đồng đều giữa
các huyện và trình độ phát triển cũng không đều nhau. Dân tộc Kinh, Tày
sống chủ yếu ở vùng thấp, trình độ phát triển kinh tế khá; dân tộc Dao, H'
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mông ở vùng cao, kinh tế còn nhiều khó khăn trình độ dân trí thấp. Song do
Yên Bái có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều lợi thế về phát triển đa dạng
hoá các sản phẩm đặc trưng cho mỗi dân tộc, làm cho kho tàng văn hoá dân
tộc của tỉnh phong phú. Bên cạnh đó đây cũng là khó khăn cho tỉnh trong việc
phát triển nâng cao mặt bằng kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng,
góp phần bảo vệ tổ quốc.
6. Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Yên Bái
Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, trong những năm qua, nền
kinh tế của tỉnh Yên Bái tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá, có bước
chuyển biến mạnh, nhiều năng lực sản xuất mới được tăng thêm.
Bảng 5: Một số chỉ tiêu kinh tế của tỉnh Yên Bái trong những năm gần đây
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Năm
2002
Năm
2004
"
"
1600,6
660,1
495,4
445,1
1923,2
745,0
630,3
547,9
2112,0
788,6
691,4
632,0
3 – Cơ cấu kinh tế
- Nông lâm nghiệp - Thuỷ sản
- Công nghiệp - Xây dựng
%
"
"
100,0
42,16
25,48
100,0
40,0
27
100,0
38,99
27,76
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của tỉnh tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao và tương đối ổn định. Bình
quân GDP tăng 9,55%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng
nông lâm nghiệp giảm từ 45,75% (năm 2000) xuống 38,99%(năm 2005); Tỉ
trọng Công nghiệp - xây dựng tăng từ 22,24 % (năm 2000) lên 27,76% (năm
2005) và tỉ trọng dịch vụ tăng từ 32,01% (năm 2000) lên 33,25% (năm 2005).
GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 4,267 triệu đồng.
7. Sự tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến sản xuất chè ở
Yên Bái:
Với nguồn lực tự nhiên và nguồn lực về dân cư lao động, tỉnh Yên Bái
có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế đa dạng với cơ cấu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nông lâm nghiệp - Công nghiêp - Dịch vụ nói chung và sản xuất chè nói
riêng.
Điều kiện thời tiết khí hậu rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát
triển của cây chè là yếu tố quyết định đến năng suất chất lượng và tính đặc
sản của cây chè Yên Bái. Địa hình đất đai phù hợp với sản xuát chè đã và sẽ
là yếu tố quyết định để mở rộng diện tích canh tác, tiến tới sản xuất hàng hoá
chè quy mô lớn.
Do đặc thù về kinh tế, xã hội, kỹ thuật của cây chè Yên Bái nên nó đã
được xác định là một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh. Đây sẽ là một
yếu tố rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành chè Yên Bái.
Tuy nhiện bên cạnh những thuận lợi, tình hình kinh tế Yên Bái nói
chung và sản xuất chè nói riêng còn nhiều khó khăn ở phía trước, đó là :
- Cơ sở hạ tầng thấp kém, công nghệ lạc hậu, trình độ dân trí thấp (Đặc
thù của tỉnh miền núi ).
- Là tỉnh nội địa ( không có cửa khẩu biên giới ) Kém hấp dẫn trong thu
hút đầu tư và môi trường thương mại.
- Là một tỉnh nghèo, nguồn đầu tư thấp ( tỉnh không nằm trong diện các
tỉnh đặc biệt khó khăn ). Nên giảm phần ưu đãi đầu tư của Nhà nước.