Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chè ở Yên Bái từ nay đến năm 2010 - Pdf 12

Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
MỞ ĐẦU
Chè là cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
xã hội nước ta. Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc
sống hàng ngày, một tập quán mang nét văn hoá của người Việt Nam. Chè
còn là sản phẩm xuất khẩu quan trọng trong ngành nông nghiệp nước ta. Hiện
nay, trên thế giới có 39 nước trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5
về diện tích và đứng thứ 8 về sản lượng.
Yên Bái là một tỉnh miền núi sản xuất nông lâm nghiệp là chính. Trong
sản xuất nông nghiệp thì cây chè là loại cây công nghiệp dài ngày mang lại
nhiều lợi ích cho người dân. Ngoài tác dụng là một thức uống lý tưởng và có
nhiều giá trị về dược liệu, cây chè còn mang ý nghĩa kinh tế to lớn đối với sự
phát triển kinh tế của Tỉnh Yên Bái. Cây chè đã trở thành cây trồng truyền
thống và chủ lực trong cơ cấu cây trồng của tỉnh. Hằng năm cây chè tạo ra giá
trị sản phẩm chiếm từ 12 - 15% trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt
Yên Bái được mệnh danh là thủ phủ của chè với diện tích 12.290 ha và
có trên ba vạn gốc chè cổ thụ Suối Giàng, là vùng chè lớn thứ 4 của cả nước.
Song năng suất chè của tỉnh cũng chỉ đạt trên 50 tạ/ha, giá trị sản xuất chè đạt
được không tương xứng với tiềm năng của một vùng chè như Yên Bái
Do lợi thế và vị trí quan trọng của cây chè trong nền kinh tế nói chung
và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng, cũng như những tồn tại, bất cập của
ngành chè Yên Bái ngày 4 tháng 4 năm 2006 Tỉnh uỷ Yên Bái đã ban hành
''Nghị quyết của Ban thuờng vụ Tỉnh uỷ về phát triển ,nâng cao chất luợng sản
xuất, chế biến, kinh doanh chè đến năm 2010". Nghị quyết xác định mục tiêu
phát triển cây chè ở Yên Bái những năm tới là:" Khai thác có hiệu quả diện tích
chè hiện có, đồng thời tích cực, chủ động thay thế diện tích chè năng suât thấp,
chất lượng thấp bằng giống chè chất lượng cao, phấn đấu đưa năng suất chè lên
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
1
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
gấp 2 lần hiện nay. Ổn định diện tích chè toàn tỉnh đến năm 2010 là 13.000 ha,

I. Đặc điểm của cây chè việt Nam
Cây chè là cây công nghiệp dài ngày được trồng lâu đời trên đất nước
ta và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã hội đất nước.
1. Về mặt lịch sử:
Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc truyền bá ra khắp thế giới.
Cây chè có lịch sử từ rất lâu đời: từ khi phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát
triển đến nay đã có gần 4000 năm. Do đặc tính sinh trưởng của bản thân cây
chè, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc nên cây chè đã du nhập vào Việt
Nam từ khoảng 3000 năm trước. Nhân dân vùng biên giới của Việt Nam đã
học được cách trồng và chế biến của người Trung Quốc để phát triển các v-
ườn chè trồng phân tán rải rác và hái lá để uống. Ngay từ trước thế kỷ thứ
XVII, ở Việt Nam đã hình thành hai vùng sản xuất chè: chè vườn miền trung
du và chè rừng miền núi.
-Vùng chè miền trung du chủ yếu sản xuất chè tươi, chè nụ và chè băm,
chế biến đơn giản.
- Vùng chè miền núi sản xuất loại chè chi, chè mạn, lên men nửa chừng
của đồng bào dân tộc Mông, Dao.
Kỹ thuật trồng chè thời kỳ này chủ yếu là quảng canh, có nơi coi đó là
một cây rừng chế biến đơn giản, mang tính tự cung, tự cấp trong gia đình
hoặc trong cộng đồng lãnh thổ phạm vi nhỏ.
Đến thế kỷ thứ XIX, một số người Pháp bắt đầu kiểm soát việc sản xuất
và buôn bán chè ở Hà Nội. Đến năm 1980 Paul Chaffajon xây dựng đồn điền
trồng chè đầu tiên của Việt Nam tại Tĩnh Cơng (Phú Thọ) nay thuộc huyện
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
3
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
Sông Thao tỉnh Phú Thọ với diện tích khoảng 60 ha. Đến năm 1918, người
Pháp thành lập Trung tâm nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ tại Phú Hộ.
Từ năm 1925, cây chè bắt đầu phát triển mạnh, cả nước hình thành ba vùng
chè chính:

thấp, độ ẩm cao, ánh sáng tán xạ cao, biên độ ngày đêm cao...rất thuận lợi cho
quá trình sinh trưởng, phát triển của cây chè.
3. Về mặt kinh tế:
Chè là cây công nghiệp dài ngày, có lợi thế so sánh ở nước ta đặc biệt
là ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc. Đảng và Nhà nước ta coi cây chè là
cây xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và là cây làm
giàu, góp phần lớn vào việc phát triển kinh tế nông thôn ở miền Nam. Hàng
năm ngành chè đã đem lại nguồn thu ngoại tệ không nhỏ cho đất nước, năm
2005 tổng giá trị xuất khẩu đạt 97 triệu USD, dự kiến tổng giá trị xuất khẩu
năm 2010 đạt 200 triệu USD.
Trồng chè còn thu hút được một lượng lao động đáng kể, góp phần giải
quyết việc làm và là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao ở Trung
du Miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy trung du, miền núi có
điều kiện hoà hợp với miền xuôi về kinh tế, văn hoá, xã hội.
II. Vị trí,vai trò của ngành sản xuất chè Việt Nam
1. Vị trí ,vai trò của ngành sản xuất chè Việt Nam
Việt Nam là nước có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát
triển cây chè. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, theo phân công trong
khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế) Việt Nam là nước sản xuất chè cho
các nước XHCN. Trong những năm qua, ngành chè đã góp phần sử dụng hiệu
quả đất đai ở vùng trung du, miền núi, đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ,
đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động, góp phần xoá đói giảm
nghèo, chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
5
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
một nền kinh tế sản xuất hàng hoá, góp phần phân công lao động giữa miền
ngược và miền xuôi. Chè cũng đem lại nguồn lợi tương đối lớn cho Ngân
sách Nhà nước. Chè có vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực:
1.1. Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp:

quân cần 2,2 lao động) ngoài ra chưa kể lao động cho chế biến và tiêu thụ.
1.2. Sản xuất chè với phát triển ngành công nghiệp chế biến
Phát triển cây chè Việt Nam luôn gắn liền với sự phát triển của ngành
công nghiệp chế biến nước ta. Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, sản xuất chè
công nghiệp bắt đầu bằng việc xây dựng nhà máy chè đầu tiên vào năm 1923.
Chế biến chè thời kỳ này bộ phận cối vò chè, máy sấy và máy phát điện.
Những năm 60, ở miền Bắc đã xây dựng hàng loạt nhà máy chè đen OTD lớn
(12-43 tấn/ ngày) với thiết bị công nghệ chè đen và chè xanh của Trung Quốc
và Liên Xô. Những năm 90 lại có chè túi nhúng của Ý, thiết bị chế biến chè
CTC của Ấn Độ, chè xanh dẹt bán tự động của Nhật Bản. Hiện nay ngành công
nghiệp chế biến của ta đã phát triển theo hướng không ngừng đổi mới thiết bị
và công nghệ chế biến chè, đặc biệt là chế biến chè đặc sản và nghiên cứu các
sản phẩm mới theo dự báo của thị trường tiêu thụ chè tương lai.
1.3. Sản xuất chè với ngành xuất khẩu
Cây chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường của hơn 40 nước trên
thế giới, gồm có Liên Xô cũ và Đông Âu, Trung Cận Đông, Bắc Phi, Tây Âu
và Nhật Bản, do đó đã đem lại một nguồn kim ngạch nhập khẩu đáng kể cho
đất nước. Năm 2005 chúng ta xuất khẩu được 88.000 tấn đem lại cho đất n-
ước 97 triệu USD.
1.4. Sản xuất chè với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Chè chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn sự phát triển của nó với việc
phát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc khai
hoang ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. ở đây cây chè gần gũi với từng
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
7
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
gia đình, góp phần định cư, ổn định cuộc sống và xoá đói giảm nghèo cho
đồng bào dân tộc ít người. Hơn nữa cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hàng
vạn lao động góp phần ổn định đời sống cho hơn 10 vạn hộ gia đình. Việc
quy hoạch các vùng sản xuất chè tập trung bao gồm sản xuất nông - công

Trong cơ cấu cây công nghiệp dài ngày của tỉnh, chỉ có cây chè là cây
duy nhất ổn định và trụ vững lâu dài trên đất miền núi cả vùng thấp và vùng
cao. Đến nay, tổng diện tích chè của toàn tỉnh đạt 12.290 ha, trong đó vùng
thấp chiếm 78%, vùng cao chiếm 22%. So với tổng diện tích canh tác để
trồng cây hàng năm và cây lâu năm thì diện tích chè chiếm tới 18,12% (năm
2000) và 20,41% (năm 2005). So với cả nước thì diện tích chè của Yên Bái
chiếm 10,5%, xếp thứ 4 (sau Lâm Đồng, Hà Giang, Thái Nguyên) và sản l-
ượng đạt trên 60.000 tấn xếp thứ 3 cả nước( sau Lâm Đồng và Thái Nguyên)
Tổng giá trị sản xuất từ cây chè hàng năm đạt từ 70-90 tỉ đồng (theo giá
cố định năm 1994, chiếm 9-10% trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Các cơ sở
chế biến chè đã nộp ngân sách được từ 9 đến 11 tỉ đồng/năm.
Bảng1: Bảng so sánh diện tích trồng chè trong tổng diện tích canh tác trồng
cây hàng năm và cây lâu năm của Yên Bái
Năm Diện tích canh tác
cây hàng năm và
lâu năm (ha)
Diện tích trồng chè
(ha)
% Diện tích trồng
chè trong tổng số
2000 57.268 10.378 18,12
2002 58.480 12.005 20,53
2003 59.884 12.252 20,46
2005 60.200 12.289 20,41
*Nguồn: Một số báo cáo thống kê chính thức của nghiệp vụ thống kê
Nông nghiệp - Cục thống kê tỉnh Yên Bái
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
9
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
Bảng2: Bảng so sánh giá trị sản xuất trồng chè trong giá trị sản xuất

nhất là Trung quốc, Ấn độ, Srilanca, Thổ nhĩ kỳ và Indonesia đã chiếm 75%
diện tích chè trên thế giới, nước nhỏ nhất trong làng chè là CaMơRun chỉ
trồng 1000 ha với mức tăng trưởng 3% năm. Do áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới
cũng như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục nước đưa năng
suất bình quân đạt đến 2 tấn/ha. Đứng đầu nhóm các nước có năng suất chè
cao đó là Kênya với năng suất 2,1 tấn chè khô/ha, tiếp đó là Ấn Độ 1,8 tấn/ha,
Srilanca 1,4 tấn/ha.
Diện tích chè trên thế giới biến động bởi vì chỉ có những nước có điều
kiện thiên nhiên ưu đãi mới có thể trồng và phát triển được cây chè. Về phân
bố diện tích thì 12 nước châu Á chiếm khoảng 88%, châu Phi là 8% (12 nước)
và Nam Mỹ chiếm 4% (4 nước). Như vậy chè chủ yếu được trồng ở châu Á
và đây là cái nôi phát triển của cây chè với mọi điều kiện đất đai, khí hậu phù
hợp với sinh trưởng của cây chè.
1.2. Diễn biến cung-cầu
Cung: Năm 2002 sản lượng chè thế giới ước đạt 2,132 triệu tấn, tăng
1,5% (tương đương 32 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm 2001, trong đó nhóm n-
ước sản xuất và xuất khẩu chè chủ yếu tăng khoảng 20 nghìn tấn và nhóm các
nước khác tăng khoảng 12 nghìn tấn. Thị trường cung chè vẫn tiếp tục tập
trung vào một số nước sản xuất lớn như Ấn Độ, Srilanca, Kênya, Trung Quốc,
Inđônêsia. Riêng 5 nước này đã chiếm trên 85% sản lượng chè thế giới.
Cầu: Năm 2002, mức tiêu thụ chè trên thế giới đạt 2,072 triệu tấn, tăng
2,4% (tương đương 49 nghìn tấn) so với năm 2001, trong đó nhóm 5 nước
tiêu thụ chủ yếu vẫn là Ấn Độ, Anh, Pakistan, CIS và Hoa Kỳ (chiếm khoảng
58,5% tổng mức tiêu thụ trên thế giới) tăng 5 nghìn tấn và nhóm các nước
khác giảm 1 nghìn tấn.
Giá chè trên thế giới: Từ năm 1997 trở lại đây có xu hướng cung vượt
quá cầu. Số lượng chè xuất khẩu cao hơn nhập khẩu. Các nước nhập khẩu lớn
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
11
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT

về chè. Ngoài ra, Ấn Độ còn thành lập các trung tâm đấu giá chè lớn trên toàn
quốc như: Calcuta, Guwahati, Siliguri,...
Kênya: Kênya là nước sản xuất chè còn non trẻ mới trỗi dậy trong thế
kỷ XX. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ 1903 đến 1990, đã phát triển
nhanh chóng, đạt chất lượng tốt với giá bán cao. Sở dĩ có được thành công
này ngoài yếu tố điều kiện tự nhiên thuận lợi, ngành chè Kênya đã áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiến tiến trên thế giới vào sản xuất chè đó là
quy trình sản xuất chè đen CTC. Ngoài ra Chính phủ Kênya còn đưa ra các
chính sách khuyến khích phát triển ở cả ba thành phần kinh tế, nhất là công
tác nghiên cứu và phổ biến khoa học kỹ thuật. Các viện nghiên cứu chè đã
được thành lập, có các bộ môn nghiên cứu thực vật học, hoá học môi trường
sinh thái, công nghệ chế biến...
Nga: Nga là một nước sản xuất chè lớn và cũng là một trong những nư-
ớc tiêu thụ chè lớn nhất thế giới hiện nay. Ngành chè ở Nga rất chú trọng phát
triển khoa học kỹ thuật đặc biệt ở khâu trồng chè. Người ta trồng chè theo
từng hàng, khoảng cách giữa các hàng là 1,5-1,75 cm, khoảng cách giữa các
cây là 0,35 cm, lượng hạt giống dùng cho 1 ha là 150 kg. Khi phân chia lô
chè người ta đặc biệt chú ý tới độ thẳng của từng hàng chè và san phẳng mặt
đất giữa các hàng chè để khi cơ giới hoá thì quá trình như đốn chè, thu hoạch
búp và các quá trình canh tác khác không bị sai lệch khi làm việc
Nhật Bản: Nhật Bản vốn là nước sản xuất và xuất khẩu chè xanh lâu
đời trên thế giới. Nhật Bản là nước trồng chè có nền kinh tế phát triển, do đó
giá nhân công cao thêm vào đó là khả năng công nghệ cao nên họ chủ yếu
tiến hành cơ giới hoá trên đồi chè. Nhà nước coi trọng đầu tư vào nông nghiệp
ở khâu giống tốt và các biện pháp quản lý chăm bón vườn chè bằng hoá chất.
Nhà nước ban hành chế độ khen thưởng và đăng ký giống chè nên đã thông
qua đợc trên 60 giống chè mới. Vườn chè có năng suất 18 tấn búp/ha phải
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
13
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT

Tây Nam giáp tỉnh Sơn La, với tổng chiều dài địa giới giáp các tỉnh nói trên là
710 Km.
Diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 6.882,922 Km
2
, xếp thứ 3 trong
số 11 tỉnh vùng Đông Bắc bộ ( sau Lạng Sơn và Hà Giang ) và xếp thứ 15
trong số 64 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Toàn tỉnh có 1 thành phố (Yên Bái ), một thị xã ( Nghĩa Lộ ), và 7
huyện ( Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu và Mù
Cang Chải ),với 180 xã phường thị trấn (gồm 11 phường, 10 thị trấn, 159 xã).
Trong tổng số 159 xã có tới 70 xã (chiếm 44,03%) là những xã vùng cao,
vùng sâu khó khăn. Thành phố Yên Bái được hình thành từ năm 1900, là
thành phố tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá của tỉnh, đồng thời
thành phố còn nằm trên giao điểm của các tuyến giao thông chính thuỷ, bộ
giữa Đông Bắc và Tây Bắc, giữa cửa khẩu Lao Cai và Hà Nội.
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
15
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
Địa hình tỉnh Yên Bái cấu tạo khá đa dạng và phức tạp. Đó là phần tiếp
giáp giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, là địa bàn chuyển tiếp từ địa hình
vùng trung du Phú Thọ lên vùng cao Lào Cai. Địa hình Yên Bái cao dần từ
Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc, nơi thấp nhất là xã Minh Quân, ( Huyện
Trấn Yên ) có độ cao 26,1m và cao nhất là đỉnh Pu luông ( Huyện Trạm Tấu )
cao 2.985 m so với mặt biển
Tính đa dạng và phức tạp về cấu tạo địa hình miền núi Yên Bái được
tạo bởi đồng bằng phù xa ven sông Hồng, đồng bằng phù xa cổ lượn sóng, đồi
thấp đỉnh tròn, đồi bát úp dốc thoải, bồn địa, thung lũng, núi cao, rãnh sâu,
cao nguyên đá vôi dốc đứng. Yên Bái có tới trên 70,0 % diện tích đất là địa
hình núi cao và cao nguyên,xen giữa các dãy núi cao, đồi thấp là địa hình
thung lũng do sông suối bồi đắp, bồn địa tương đối bằng phẳng.

Têtê, Gà lôi ….
3 . Khí hậu thuỷ văn
Do vị trí địa lý tự nhiên, phân bố đất đai trên địa bàn tỉnh có những nét
đặc thù ở một tỉnh miền núi, địa hình chia cắt phức tạp, là vùng đầu nguồn
của nhiều hệ thống sông suối nên ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến khí
hậu, thuỷ văn trên địa bàn tỉnh với những nét đặc trưng là:
Yên Bái là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm, mưa nhiều - nhiệt
độ trung bình mùa lạnh 15
o
C đến 20
o
C, mùa nóng 25
o
C đến 29
o
C. Độ ẩm
không khí 80 đến 87%. Lượng mưa hàng năm từ 1.400 đến 2.200 mm. Gió
thịnh hành là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc. Do địa hình bị chia
cắt bởi những dãy núi cao nên có nhiều kiểu khí hậu.
Về thuỷ văn: Nhìn chung hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh Yên Bái
phân bố khá dày đặc bao gồm hai con sông lớn ( sông Hồng và sông Chảy )
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
17
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
Với khoảng trên dưới 200 ngòi và suối lớn nhỏ cùng một hệ thống hồ, đầm đa
dạng.
Nguồn nước sông Hồng và sông Chảy chuyển qua địa phận Yên Bái
hàng năm, đối với sông Hồng là 19 tỷ m
3
nước chứa nhiều phù xa mầu mỡ trên

Đường không: Yên Bái có sân bay quân sự lớn cách Thành phố tỉnh lỵ
Yên Bái là 5km. Trong tương lai sẽ được khai thác là sân bay dân dụng và sẽ
là đường bay nối Yên Bái với các tỉnh bạn và quốc tế.
Như vậy, hệ thống giao thông ở Yên Bái có đủ cả 4 loại hình (đường bộ,
sắt, thuỷ, hàng không) được phân bổ trên địa bàn tỉnh tương đối hợp lý, tạo
điều kiện và kết hợp nhau trong vận tải phục vụ cho nhu cầu phát triển sản
xuất, giao lưu đi lại của các cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh cũng như ngoài
tỉnh. Nhưng do điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu và chất lượng các loại đư-
ờng, nhất là đường bộ quá xấu, các bến cảng trên sông Hồng và hồ Thác Bà ch-
ưa được chú ý đầu tư để khai thác nên chưa phát huy hết tiềm năng của địa ph-
ương. Nói chung cơ sở của hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn.
Ngoài cơ sở và hệ thống giao thông thuỷ bộ trên, đến cuối năm 2005
tỉnh Yên Bái còn có một số cơ sở hạ tầng như:
4.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng khác
- Xã có điện lưới quốc gia: 162 xã đạt 90,0% xã, phường, thị trấn.
- Xã có điện thoại: 170 xã đạt 94,4% so với tổng số xã, phường, thị
trấn.
- Xã có trạm y tế: 180 xã, phường có trạm y tế đạt 100,0% so với xã
phường toàn tỉnh
- Xã có trường trung học cơ sở: 178 xã, đạt 99,0% so với tổng số xã,
phường, thị trấn.
- Có 97% địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh và 95,0% được phủ
sóng truyền hình.
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
19
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
5. Dân số và lao động
Dân số trung bình năm 2005 của tỉnh Yên Bái là 731.784 người, mật độ
dân số trung bình toàn tỉnh là: 106 nưgời/
2

2005 731.135 409.436 56,0
*Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
20
Chuyên Đề Thực Tập Khoa: KTNN & PTNT
Nói chung, nguồn lao động của tỉnh Yên Bái có ưu thế: Số lượng lao
động trẻ chiếm tỷ lệ cao, đây là nguồn lực dồi dào cho việc phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh. Song cũng còn nhiều hạn chế như việc lực lượng lao động
chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, trình độ kỹ thuật thấp ( chủ yếu là lao
động thủ công, mới có 2,3% số lao động đã qua đào tạo ). Hàng năm tỉnh đã
bố trí việc làm mới cho 17000 lao động nhưng vẫn còn nhiều người trong độ
tuổi lao động có nhu cầu việc làm mà không có chỗ làm việc.
Mặc dù hàng năm tỉnh đã đầu tư một nguồn kinh phí lớn để đào tạo và
mở các ngành nghề sản xuất để tạo công ăn việc làm cho lao động, nhưng tình
trạng thiếu việc làm vẫn còn là thách thức đối với tỉnh Yên Bái.
Yên Bái là một tỉnh có nhiều dân tộc, tính đến năm 2005 toàn tỉnh có
trên 30 dân tộc anh em sinh sống.
Bảng 4: Cơ cấu dân tộc của tỉnh Yên Bái
Dân tộc Số người % trong tổng số
Tổng số 731.874 100
- Kinh 363.302 49,64
- Tày 135.982 18,58
- Dao 75.456 10,31
- Mông 65.430 8,94
- Thái 48.816 6,67
- Các dân tộc khác 42.888 5,86
*Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê
Sự phân bố của các dân tộc sống ở tỉnh Yên Bái không đồng đều giữa
các huyện và trình độ phát triển cũng không đều nhau. Dân tộc Kinh, Tày
sống chủ yếu ở vùng thấp, trình độ phát triển kinh tế khá; dân tộc Dao, H'

"
2089,3
880,9
532,3
676,1
2687,7
1075,1
725,7
886,9
3117,9
1219,1
845,0
1053,8
2 - Tổng sản phẩm (GDP) giá
cố định
Trong đó :
- Nông lâm nghiệp - Thuỷ sản
- Công nghiệp - Xây dựng
- Dịch vụ
tỉ đồng
"
"
"
1600,6
660,1
495,4
445,1
1923,2
745,0
630,3

164,4
1183,0
256,0
1417,0
264,3
5 – Vốn đầu tư phát triển tỉ đồng 890,2 1340,3 1428,0
6 - Thu nhập GDP bình quân
đầu người
triệu 2,948 3,715 4,267
7 – Giải quyết việc làm mới
hàng năm
người 16.500 17.294 17.000
8 - Tỉ lệ huy động GDP vào
ngân sách hàng năm
% 7,66 9,55 9,3
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái các năm 2002-2005 - Cục
thống kê tỉnh Yên Bái
Sự phát triển và tăng trưởng khá cao của kinh tế tỉnh Yên Bái được thể
hiện ở một số mặt:
- Tăng trưởng kinh tế khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng.
Trong 5 năm (2001-2005), tổng số vốn đầu tư phát triển đạt 5500 tỉ đồng,
tăng bình quân 17,45%/ năm, so với 5 năm trước tăng 2,51 lần. Nền kinh tế
của tỉnh tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao và tương đối ổn định. Bình
quân GDP tăng 9,55%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng
nông lâm nghiệp giảm từ 45,75% (năm 2000) xuống 38,99%(năm 2005); Tỉ
trọng Công nghiệp - xây dựng tăng từ 22,24 % (năm 2000) lên 27,76% (năm
2005) và tỉ trọng dịch vụ tăng từ 32,01% (năm 2000) lên 33,25% (năm 2005).
GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 4,267 triệu đồng.
7. Sự tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến sản xuất chè ở
Yên Bái:

+ Diện tích chè vùng cao là: 3.151 ha. Trong đó diện tích trồng mật độ
cao thâm canh: 203 ha,diện tích trồng mật độ 3.000 cây/ha: 2.948 ha.
+ Diện tích chè vùng thấp là:9.139 ha.Trong đó diện tích chè xanh:
1.421 ha, diện tích sản xuất chè đen: 7.978 ha.
Bảng 6: Các vùng trồng chè ở Yên Bái
Số thứ tự Huyện, thành phố Diện tích(ha) % trong tổng số
1 Huyện Văn Chấn 4.073 33,14
2 Huyện Trấn Yên 2.537 19,67
3 Huyện Yên Bình 2.037 16,57
4 Huyện Mù Cang Chải 1.688 13,73
5 Huyện Trạm Tấu 606 4,93
6 Huyện Văn Yên 553 4,5
7 TP Yên Bái 521 4,23
8 Huyện Lục Yên 275 2,23
*Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê
Qua bảng trên ta thấy cây chè phân bố không đều trên địa bàn toàn tỉnh,
sự chênh lệch giữa vùng thấp với vùng cao, giữa các huyện, thành phố trong
tỉnh là rất lớn.
Diện tích chè vùng cao là 3.151 ha chiếm 25,64% diện tích chè toàn
tỉnh. Phần còn lại chủ yếu là giống chè vùng thấp với 9.139 ha tương ứng
74,36% tổng diện tích chè . Sự chênh lệch về diện tích giữa vùng thấp với
vùng cao do đặc thù về tự nhiên, kinh tế ,xã hội của Yên Bái quy định.Trong
Phan Anh Tuấn Lớp: KTNN 45
25

Trích đoạn Quan điểm và mục tiờu phỏt triển sản xuất chố ở Việt Nam từ nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status