Phân tích thực trạng và giải pháp phát triển ngành thép - Pdf 64

Nguyễn Hồng Quỳnh
Lời mở đầu
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp để đến năm
2020 trở thành một nước cơ bản là công nghiệp. Ngành thép là một ngành
công nghiệp nặng then chốt trong nền kinh tế quốc dân, là đầu vào cho rất
nhiều các ngành công nghiệp khác.Thép được đánh giá là vật tư chiến lược
không thể thiếu của nhiều ngành công nghiệp và xây dựng có vai trò hết
sức quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH
1
đất nước. Ngành thép liên
quan tới rất nhiều ngành kinh tế khác như khai khoáng (than, dầu, khí đốt,
quặng sắt, ngành điện…). Ngành thép cũng liên quan đến các ngành sử
dụng thép làm nguyên liệu, vật tư để phục vụ cho hoạt động phát triển sản
xuất của mình như: xây dựng, đồ gia dụng, giao thông vận tải…
Ngoài việc là vật liệu trực tiếp cho các ngành, thép còn có vai trò
gián tiếp trong ngành phát triển nông nghiệp thông qua tác động vào ngành
công nghiệp chế tạo máy móc thiết bị vật tư cho nông nghiệp. Một vai trò
quan trọng không thể không kể đến là thép phục vụ cho công nghiệp quốc
phòng.Ngoài ra ngành thép góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục
vạn lao động.
Như vậy, thép là nguồn vật liệu chính để sản xuất các tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát
triển các ngành có liên quan. Trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang
trong công cuộc CNH-HĐH nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng và tốc độ
đô thị hóa gia tăng mạnh mẽ thì thép trở thành vật liệu ngày càng quan
trọng và phổ biến.
Ngành thép trong thời gian qua đã đạt được một số thành tich đáng
kể. Nhưng bên cạnh đó còn nhiều hạn chế chưa được khắc phục. Do đó em
chọn đề tài này để phân tích về thực trạng phát triển của ngành thép từ đó
phân tích một số giải pháp phát triển ngành thép tuy nhiên đề án vẫn còn
nhiều thiếu sót. Và em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trương Đức Lực

ty 91 được thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty thép Việt Nam
thuộc Bộ Công nghiệp và Tổng công ty kim khí thuộc Bộ thương mại.
Thời kỳ 1996-2003 ngành thép vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá
cao, tiếp tục được đầu tư mới và đầu tư chiều sâu, đã xây dựng và đưa vào
hoạt động nhiều dự án liên doanh. Sản lượng thép cả nước trong năm 2002
đã đạt 2,38 triệu tấn. Đây là thời kỳ có tốc độ tăng sản lượng mạnh nhất.
Giai đoạn 2003-2005, nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp
liên doanh với nước ngoài được thành lập, ngành thép Việt Nam thực sự
phát triển mạnh mẽ với tổng công suất lên tới trên 6 triệu T/n.
Đề án môn học chuyên ngành
2
Nguyễn Hồng Quỳnh
2. Cơ cấu ngành.
Theo sản phẩm: Về cơ bản, sản phẩm thép gồm 2 loại là thép dài và
thép dẹt. Hiện nay Việt Nam đang mất cân đối trong sản xuất 2 loại thép
trên.
Thép dài là các loại thép dùng trong ngành xây dựng như thép thanh,
thép cuộn. Hầu hết các nhà máy cán thép ở Việt Nam chỉ sản xuất các loại
thép dài, các sản phẩm thông thường như thép thanh tròn trơn, thép vằn
D10-D41 ,thép cuộn f6-f10 và một số loại thép hình cỡ vừa và nhỏ phục vụ
cho xây dựng và gia công. Các loại thép dài cỡ lớn (lớn hơn D41) phục vụ
cho xây dựng các công trình lớn hiện vẫn chưa tự sản xuất được mà phải
nhập khẩu từ nước ngoài. Công suất cán thép dài của Việt Nam hiện nay
lên trên 6 triệu tấn, nghĩa là gần gấp đôi nhu cầu.
Thép dẹt sử dụng trong công nghiệp như đóng tàu, sản xuất ô tô, sản
xuất các loại máy móc thiết bị. Từ năm 2006 trở về trước nước ta không có
doanh nghiệp nào sản xuất thép dẹt. Năm 2007 có 4 doanh nghiệp sản xuất
thép tấm đi vào hoạt động là Nhà máy thép tấm Phú Mỹ (thép cán nguội)
có công suất 0,25 triệu tấn, công ty Sunsco (thép cán nguội) với công suất
0,2 triệu tấn, công ty Tôn Hoa Sen công suất 0,18 triệu tấn và thép tấm cán

Thép dài
Thép dẹt
(Nguồn: Hiệp hội thép, Vinanet.com.vn, vnexpress.net, HBBS tổng hợp)
Theo tiêu thụ: Tại các nước công nghiệp phát triển cơ cấu tiêu thụ là
khoảng 55% là thép dẹt và 45% là thép dài. Tuy nhiên ở Việt Nam do nhu
cầu xây dựng cơ bản lớn nên tỷ lệ trên là khoảng 50% thép dẹt và 50% thép
dài. Theo chiến lược quy hoạch ngành thép 2007- 2015 có định hướng tới
2025 thì năm 2025 cơ cấu tiêu thụ thép dài và thép dẹt của Việt Nam sẽ
tương tự như các nước phát triển hiện nay.
Theo nhà cung cấp: Thị trường chia làm 3 nhóm nhà cung cấp sản
phẩm thép trên thị trường bao gồm: Các thành viên của Tổng công ty thép
(VNS); các doanh nghiệp liên doanh với VNS
3
; và các doanh nghiệp ngoài
VNS. Trong đó các doanh bên ngoài VNS có thị phần lớn nhất. Có nhiều
doanh nghiệp ngoài VNS hoạt động rất tốt như Pomina, Hoà Phát, Việt Ý
và Việt Úc. Theo số liệu tổng hợp tiêu thụ thép 8 tháng đầu năm, 4 doanh
nghiệp này chiếm tới 33% thị phần tiêu thụ thép xây dựng cả nước, gần
bằng thị phần của các thành viên trong tổng công ty thép (33,9%).
Hình 2: Thị Phần tiêu thụ của các nhà cung cấp

LD với VNS
Khối VNS
Ngoài VNS
Đề án môn học chuyên ngành
4
Nguyễn Hồng Quỳnh
(Nguồn: Bản tin ngành thép tháng 8/2009)

3. Tình hình sản xuất của ngành thép.

thép Nhà Bè, Thủ Đức, Tân Thuận, Đà Nẵng, thép Miền Trung.
Đề án môn học chuyên ngành
5
Nguyễn Hồng Quỳnh
(4) Nhóm rất lạc hậu gồm các dây chuyền cán mini có công suất nhỏ
(nhỏ hơn 20 ngàn tấn/năm) ở các hộ gia đình và làng nghề.
Kết quả điều tra của NEU-JICA
5
cho thấy công nghệ lạc hậu chiếm
đến 75% số trang thiết bị của ngành công nghiệp thép Việt Nam, tập trung
ở các nhà máy đã tồn tại lâu năm cả ở miền Bắc và miền Nam. Theo đánh
giá của một chuyên gia thuộc VSC
6
thì công nghệ lạc hậu chiếm khoảng
63% năng lực sản xuất thép ở Việt Nam. Công nghệ tiên tiến chỉ chiếm
khoảng 15% năng lực sản xuất, công nghệ trung bình chiếm khoảng 10%
năng lực sản xuất. Về nguồn gốc công nghệ, có hơn 33% các cơ sở sản xuất
sử dụng công nghệ từ Trung Quốc và 20% có nguồn gốc từ Nga và các
nước SNG
6
có mức độ lạc hậu khoảng 3 đến 4 thế hệ. Các công nghệ này
chủ yếu được phân bố ở miền Bắc. Công nghệ và thiết bị của các nước
thuộc E.U
7
được đưa vào các cơ sở sản xuất ở miền Nam trước năm 1975
cũng rất lạc hậu. Một số công nghệ và thiết bị tiên tiến và trung bình được
đưa vào thông qua con đường liên doanh chủ yếu chỉ tập trung ở khâu hạ
nguồn của ngành thép. Trong khi đó bức tranh ngành công nghiệp thép thế
giới cho thấy công nghệ sản xuất thép là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến
khả năng cạnh tranh của ngành thép. Lấy ví dụ trường hợp Nhật Bản là

Các phương pháp quản lý chưa khuyến khích được sự nhiệt tình và sáng
tạo của nhân viên vào hoạt động chung của công ty, đặc biệt là ở một số
công ty nhà nước.
Do tình trạng công nghệ và thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp
nên ngành công nghiệp thép Việt Nam hiện nay chỉ sản xuất được các loại
thép cacbon thông thường. Một số thép loại thép đặc biệt cũng đã được sản
xuất nhưng chưa thể đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng. Thép sản xuất
trong nước hiện nay chủ yếu cung ứng cho nhu cầu sử dụng thép trong
ngành xây dựng. Bên cạnh đó, công nghệ lạc hậu còn dẫn đến chi phí vật
chất để cán một tấn thép (không kể phôi thép) ở các công ty Việt Nam cao
hơn mức trung bình thế giới từ 4 đến 12 USD.
Do trình độ công nghệ không cao nên chưa sản xuất được các sản
phẩm có chất lượng cao như thép dẹt và thép chất lượng cao. Ở nước ta
hiện nay hầu hết các nhà máy sản xuất thép chỉ thực hiên công đoạn cuối
cùng là cán thép. Chỉ có một số ít các doanh nghiệp có lợi thế về địa lý như
Thái Nguyên mới tự khai thác quặng và sản xuất thép theo công nghệ lò
cao. Một số doanh nghiệp thành lập các năm gần đây như Hoà Phát,
Pomina, Việt Ý…
Nhập khẩu thép phế và sử dụng lò điện hồ quang để sản xuất phôi và
thép. Còn lại hầu hết các các doanh nghiệp thép hiện nay chỉ đơn thuần là
mua phôi về cán ra thép nên giá trị gia tăng không cao. Chất lưọng thép xây
Đề án môn học chuyên ngành
7
Nguyễn Hồng Quỳnh
dựng của Việt Nam tương tự như các nước trong khu vực, nhưng năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành không cao. Trong khi Trung
Quốc đã cấm các nhà máy có lò cao dưới 1000 m
3
thì lò cao nhất ở Việt
Nam mới chỉ 500 m

3
/lò (đã thanh lý 1 lò, phá dỡ 1 lò để cải tạo,
đang vận hành 1 lò).
Đề án môn học chuyên ngành
8
Nguyễn Hồng Quỳnh
- 12 lò điện hồ quang AC cỡ nhỏ từ 1,5 tấn/mẻ đến 30 tấn/mẻ, do
Việt Nam tự chế tạo và nhập khẩu từ Trung Quốc.
- 4 máy đúc liên tục phôi vuông, tổng cộng 10 dòng đúc, công suất
330.000 tấn/năm.
- 5 máy cán bán liên tục sản xuất thép tròn và hình nhỏ, thiết bị của
Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Italia, tổng công suất khoảng 260.000
tấn/năm; ngoài ra còn 5 máy cán mini tự trang bị, tổng công suất khoảng
250.000 tấn/năm.
VSC hiện nay đang có 5 liên doanh cán thép xây dựng, trong đó có 2
máy cán liên tục và 3 máy cán bán liên tục. Tổng công suất cán thép của 5
liên doanh là 901.000 tấn/năm. Phần lớn các liên doanh cán thép được xây
dựng ở các khu vực giao thông thuận lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu
hoặc gần nguồn khí đốt và thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên nếu xét về lâu dài,
khi có các nguyên liệu trong nước được khai thác thì những nhà máy này sẽ
gặp những bất lợi nhất định về địa điểm.
Hầu hết các cơ sở cán thép trong hệ thống các công ty TNHH
9
, công
ty cổ phần và công ty 100% vốn nước ngoài được đầu tư xây dựng sau năm
2000. Hiện tại hệ thống này có 7 cơ sở sản xuất cán thép, tổng công suất
ước khoảng 1680 ngàn tấn/năm.
Trừ nhà máy cán thép Sông Đà có công suất 250.000 tấn/năm, các cơ
sở sản xuất thép còn lại của hệ thống các cơ sở sản xuất thép quốc doanh
khác và quốc phòng đều có quy mô nhỏ. Công suất của các cơ sở sản xuất

thông vận tải. Các cơ sở sản xuất của Tổng công ty thép Việt Nam trải dài
từ Bắc vào Nam trên cơ sở của các cơ sở cũ. Các nhà máy cán thép liên
doanh thì được phân bổ hợp lý trên cơ sở nguồn nguyên liệu và yếu tố đầu
vào cho khâu cán và tiêu thụ thành phẩm. Chẳng hạn ba liên doanh cán
thép lớn nhất của Việt Nam đều đặt địa điểm sản xuất tại Bà Rịa – Vũng
Tàu và Hải Phòng đều gần nguồn nguyên liệu nhập khẩu và gần nguồn khí
đốt nhưng nếu xét về lâu dài khi có nguồn nguyên liệu trong nước thì địa
điểm này bộc lộ hạn chế. Đối với khu vực công nghiệp thép địa phương và
ngoài quốc doanh thì phân bổ hết sức tuỳ tiện. Việc phân bổ hết sức tuỳ
tiện các cơ sở sản xuất ngành thép đã vi phạm nguyên tắc kỹ thuật tổng thể
của sản xuất thép. Để nâng cao hiệu quả của ngành sản xuất thép, các cơ sở
sản xuất thuộc các khâu khác nhau cần bố trí trên cùng một địa điểm, các
khâu sản xuất phải kế tục liên tiếp để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Sẽ là
không hiệu quả và thiếu tính cạnh tranh nếu sản xuất thép tấm ở các cơ sở
phía Bắc, làm nguội cà cứng lại, vận chuyển hàng nghìn km tới các cơ sở
cán nóng ở phía Nam.
Đề án môn học chuyên ngành
10
Nguyễn Hồng Quỳnh
Sau cuộc rà soát quy hoạch ngành thép, mới đây Bộ Công Thương
đã xác định 32 dự án nằm ngoài quy hoạch và kiến nghị Chính phủ tạm
dừng cấp giấy phép. Như vậy, từ năm 2007 đến nay, số lượng dự án ngoài
danh mục quy hoạch lớn hơn cả số lượng dự án trong quy hoạch. Từ năm
2005 trở lại đây, giá thép trong nước và quốc tế ngày càng tăng làm cho các
dự án sản xuất thép thỏi trở nên hấp dẫn hơn, nên các doanh nghiệp bắt đầu
đầu tư rất nhiều, kể cả trong nước và nước ngoài… Đó là những lý do
khiến chiến lược quy hoạch ngành thép bị vỡ.
3.4 Đầu tư sản xuất phôi và cán thép.
Cơ cấu sản xuất mất cân đối giữa các công đoạn thượng nguồn và hạ
nguồn. Quá trình sản xuất thép trải qua sáu công đoạn cơ bản từ thượng

Ở Việt Nam phần lớn sử dụng thép phế để sản xuất phôi và hoàn
toàn là phôi vuông để làm thép xây dựng. Phôi vuông sản xuất trong nước
chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu cán thép, 50% còn lại là từ nguồn
nhập khẩu. Mặc dù tự sản xuất khoảng 20% thép dẹt, nhưng chưa có doanh
nghiệp nào ở Việt Nam sản xuất được phôi dẹt mà phải nhập khẩu từ bên
ngoài. Nguồn nhập khẩu thép phôi thép các loại và thép phế của Việt Nam
hiện giờ là từ Trung Quốc (là chủ yếu) và một số nước khác trên thế giới
như Mỹ, Nhật, Nga… Như vậy có thể thấy ngành thép Việt Nam chịu ảnh
hưởng rất nhiều từ biến động về phôi và thép trên thế giới. Giá thép trong
nước có xu hướng biến động cùng chiều với giá phôi trên thế giới.
Phôi thép là bộ phận chủ yếu trên thị trường nguyên liệu thépViệt
Nam, các sản phẩm của các công đoạn trước như gang và quặng thiêu kết
chiếm tỷ trọng không đáng kể do ngành sản xuất thép Việt Nam chủ yếu
tập trung ở công đoạn cán thép. Trong khi đó do nhu cầu sử dụng thép ở
Việt Nam trong những năm qua chỉ ở mức độ thấp, nên khối lượng thép
phế thải có thể thu mua trong nước cũng tương đối khan hiếm. Giá thành
phôi thép sản xuất trong nước cao và ưu thế vượt trội về mặt tỷ trọng của
nguồn phôi nhập khẩu trong việc đáp ứng nhu cầu sản xuất thép đã làm cho
giá phôi thép ở thị trường trong nước phụ thuộc rất lớn vào sự biến động
giá phôi thép trên thị trường thế giới. Tốc độ điều chỉnh giá phôi thép trên
thị trường nội địa thường chậm hơn so với những biến động của giá phôi
trên thị trường thế giới và khác nhau trong hai trường hợp. Tốc độ điều
chỉnh giá phôi thép ở thị trường trong nước là khá nhanh khi giá phôi trên
thị trường thế giới có xu hướng tăng, nhưng tốc độ điều chỉnh giá phôi trên
thị trường nội địa lại diễn ra khá chậm khi giá phôi thép trên thị trường thế
giới có xu hướng giảm do thời gian đặt hàng thường kéo dài nhiều tháng.
Kết quả là khi giá phôi thép trên thị trường thế giới trải qua những thời kỳ
đột biến thì chi phí sản xuất thép ở Việt Nam cao hơn nhiều so với giá thép
Đề án môn học chuyên ngành
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status