Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp Dệt may từ nay đến năm 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO - Pdf 13

Mục lục
Trang
Mục lục..............................................................................................................1
Trang................................................................................................................1
Bảng 3 : Năng lực sản xuất toàn ngành Dệt May năm 2000........................28
Bảng 15 : Các chỉ tiêu của ngành Dệt May năm 2005 và 2010...................................58
Bảng 16 : Biểu thuế đối với những mặt hàng có thuế suất t = 20%.............61
Bảng 17 : Biểu thuế đối với những mặt hàng có thuế suất t = 10%.............61
Bảng 19 : Biểu thuế đối với những mặt hàng Dệt May có thuế suất là t = 50%
......................................................................................................................62
Bảng 20 : Biểu thuế EU dành cho ngành Dệt May giai đoạn 2000 - 2005..63
1
lời mở đầu
Ngành công nghiệp Dệt May là một ngành có truyền thống lâu đời ở Việt
Nam và là một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế.
Thực tế các năm qua đã chứng minh điều này. Sản xuất của Ngành tăng
trởng nhanh ; kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao ; thị
trờng luôn đợc mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển góp phần cân
bằng cán cân xuất nhập khẩu theo hớng có tích luỹ ; thu hút ngày càng nhiều lao
động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính
trị xã hội đất nớc và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nớc.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực, để phát triển
ngành Dệt May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo Hiệp
định ATC/WTO, từ 1/1/2005 các nớc phát triển sẽ bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu
cho các nớc xuất khẩu hàng Dệt May là thành viên của Tổ chức Thơng mại Thế
giới (WTO), khi đó các cờng quốc xuất khẩu hàng Dệt May nh ấn Độ,
Indonesia, HongKong, Đài Loan, Hàn Quốc... và đặc biệt là Trung Quốc sẽ có
lợi thế xuất khẩu thế giới. Theo Hiệp định AFTA, từ 1/1/2006, thuế xuất nhập
khẩu hàng Dệt May từ các nớc ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm xuống từ 40
50% nh hiện nay xuống còn tối đa là 5%, khi đó thị trờng nội địa hàng Dệt May

Phần I
vai trò của ngành công nghiệp dệt - may việt nam đối
với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
I) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam
đối với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
1.
Xu thế chuyển dịch sản xuất hàng Dệt May trên thế giới
Ngành công nghiệp Dệt May gắn liền với nhu cầu không thể thiếu đợc
của mỗi con ngời. Vì vậy từ rất lâu trên thế giới, ngành công nghiệp này đợc
hình thành và đi lên cùng với sự phát triển ban đầu của chủ nghĩa t bản. Bên
cạnh đó, ngành công nghiệp Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động với yêu
cầu kỹ năng không cao, vốn đầu t không lớn và có điều kiện mở rộng quan hệ
quốc tế. Do đó, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá t bản, từ các
nớc phát triển nh Nhật, Mỹ, Anh, Pháp cho đến các n ớc công nghiệp mới
(Nics) nh Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singarpo, , ngành công nghiệp
Dệt May thờng phát triển mạnh và có hiệu quả cao trong quá trình công nghiệp
hoá của họ. Khi một nớc đã có công nghiệp phát triển, có trình độ công nghiệp
cao, giá lao động cao thì sức cạnh tranh trong sản xuất hàng Dệt May giảm, lúc
đó sẽ chuyển sang những ngành công nghiệp khác có hàm lợng kỹ thuật cao
hơn, sử dụng lao động ít mà mang lại lợi nhuận cao.
Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp Dệt May thế giới cũng là sự
chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Dệt May từ khu vực phát triển sang khu vực
khác kém phát triển hơn do tác động của lợi thế so sánh. Sự dịch chuyển này đợc
4
gọi là hiệu ứng chảy tràn hay làn sóng cơ cấu. Có thể nói ngành công
nghiệp Dệt May đã tạo nên một làn sóng, sóng lan tới đâu thì nớc đó phát triển
kinh tế vợt bậc.Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sản xuất Dệt May không
còn tồn tại ở các nớc phát triển mà thực tế ngành này đã tiến đến giai đoạn cao
hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Sự dịch chuyển thứ nhất vào những năm 1840 từ nớc Anh, cha đẻ của

2. Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đối với quá
trình CNH HĐH
2.1) Đặc điểm của ngành công nghiệp Dệt May :
Thứ nhất, ngành Dệt May là ngành thu hút nhiều lao động :
Do tính chất đặc thù của mình, ngành công nghiệp Dệt May đòi hỏi số l-
ợng lao động lớn, từ lao động thủ công giản đơn nh thợ may ráp nối không cần
phải đào tạo công phu đến lao động yêu cầu kỹ thuật cao nh vẽ kiểu, giác sơ đồ,
cắt bằng máy tính.
Trên phạm vi ngành công nghiệp Dệt May thế giới, các nớc phát triển th-
ờng nắm những khâu kỹ thuật cao, thu nhiều lợi nhuận nhất là khoán lại cho các
nớc đang phát triển những khâu kỹ thuật thấp mà phổ biến nhất là ráp nối hàng
may mặc với mẫu mã và nguyên phụ liệu đợc cung cấp sẵn. Tuy nhiên với các
nớc đang phát triển, trong điều kiện rất thiếu vốn để tiến hành đầu t thì may gia
công cũng góp phần thu ngoại tệ, tạo vốn cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, đồng thời giải quyết nhiều việc làm cho ngời lao động (đặc biệt là lao
động ở nông thôn).
6
Hiện nay, lao động trong ngành Dệt May chủ yếu tập trung ở châu á
(chiếm tới 57%) vì đây là khu vực có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công
thấp, phù hợp cho việc phát triển của ngành Dệt May
Đối với Việt Nam, một quốc gia có dân số đông và trẻ so với trong khu
vực và trên thế giới. Tính đến ngày 31/12/2000, dân số cả nớc là 77.685.000 ng-
ời, trong đó số ngời trong độ tuổi lao động khoảng 43,8 triệu ngời. Hàng năm có
khoảng từ 1,5 đến 1,7 triệu thanh niên bớc vào tuổi lao động, tạo thành đội ngũ
dự bị hùng hậu bổ sung liên tục vào lực lợng lao động vốn đã đông đảo. Với một
lực lợng lao động dồi dào nh vậy, nếu đợc đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả
ngành Dệt May Việt Nam rất có điều kiện để phát triển. Đồng thời đó cũng là
một thị trờng tiêu thụ hàng Dệt May tiềm năng. Tuy nhiên, là một ngành thu hút
nhiều lao động cũng có nghĩa là Ngành phải chịu gánh nặng xã hội và nhiều áp
lực từ phía Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Nếu một doanh

đánh vào hàng Dệt May còn cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác.
Bên cạnh đó, từng nớc nhập khẩu còn đề ra những điều kiện riêng đối với
hàng Dệt May nhập khẩu. Tất cả những rào cản đó ảnh hởng rất nhiều đến sản
xuất hàng Dệt May trên thế giới.
Với Hiệp định về hàng Dệt May, Việt Nam vừa có nhiều cơ hội nhng
đồng thời cũng phải chịu những quy định chặt chẽ, những yêu cầu cao hơn khi
xuất khẩu hàng Dệt May.
Do đó, muốn thành công trong việc xuất khẩu hàng Dệt May ra thị trờng
nớc ngoài, cần phải có sự hiểu biết rất rõ về những chính sách bảo hộ, u đãi của
8
từng quốc gia và của thế giới với ngành Dệt May. Có nh vậy thì kết quả thu đợc
mới đạt hiệu quả cao, tránh đợc những lãng phí và sai lầm không đáng có.
2.2) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam trong quá trình
CNH HĐH
Từ sau khi đất nớc tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế sang cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, với đờng lối phát triển kinh tê mở (đa dạng
hoá các thành phần kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều nớc trên
thế giới, không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc sản xuất hai bên cùng
có lợi, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng
phục vụ nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, quan tâm đến phát triển nông nghiệp
và nông thôn), ngành công nghiệp Dệt May đã thể hiện đợc là một trong những
ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nớc
ta.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã và
đang có những bớc phát triển mạnh mẽ, thu hút đợc nhiều lao động. Đến nay lực
lợng lao động trong Ngành có khoảng 1.600.000 ngời, chiếm 22,7% lao động
công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động,
tạo sự ổn định chính trị - kinh tế - xã hội. Theo dự đoán, đến năm 2005 và 2010,
lao động trong ngành Dệt May sẽ tăng lên tơng ứng là 3.000.000 và 4.000.000
ngời.

trong thời gian đầu cha có hạn ngạch, ngành Dệt May Việt Nam cần tranh thủ
xuất khẩu tối đa để tạo cơ sở ấn định hạn ngạch thuận lợi vì đây là thị trờng có
sức mua hàng Dệt May lớn lại dễ tính. Đối với thị trờng Châu á (các nớc
ASEAN), ngành Dệt May Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh để đối phó với
sản phẩm của các nớc trong khối này có điều kiện xâm nhập vào thị trờng Việt
10
Nam với thuế suất thấp sau năm 2000, vì Dệt May cũng là mặt hàng xuất khẩu
chủ yếu của các nớc này. Đối với thị trờng EU, ngành Dệt May Việt Nam cần
nâng cao chất lợng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh với các nớc xuất khẩu hàng
Dệt May khác và đáp ứng đợc đòi hỏi cao về sản phẩm của thị trờng này.
Trên con đờng phát triển trong thời gian tới, ngành Dệt May Việt Nam
đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, xuất phát từ cạnh tranh ngày một
gay gắt hơn trong xu thế hội nhập khu vực và trên thế giới. Trong khi đó, ngành
Dệt May Việt Nam hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và so với ngành
Dệt May của một số nớc trong khu vực (năng lực của ngành Dệt May Việt Nam
hiện chỉ bằng 1/10 so với Thái Lan, 1/15 so với Indonesia, 1/30 so với ấn Độ và
1/50 so với Trung Quốc). Việc thực hiện Hiệp định ATC/WTO ở giai đoạn cuối
cùng từ nay đến năm 2004 sẽ càng làm cho vị trí cạnh tranh của hàng Dệt May
Việt Nam trên các thị trờng Châu Âu và Bắc Mỹ thêm khó khăn do nớc ta cha
phải là thành viên của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Việc thực hiện
AFTA/CEFT từ nay đến cuối năm 2005 sẽ làm giảm dần và đến loại bỏ hoàn
toàn vào năm 2006 việc bảo hộ hàng Dệt May Việt Nam tại thị trờng nội địa tr-
ớc hàng nhập khẩu của các nớc Đông Nam á.
Yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng trong bối cảnh đó đặt ra
cho các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam nhiều bài toán hết sức khó khăn. Đó là
làm sao để vừa phát triển mở rộng đợc sản xuất, vừa nâng cấp và khai thác tối đa
năng lực sản xuất hiện có. Làm sao trong thời gian ngắn (từ 3 đến 5 năm), các
doanh nghiệp Dệt May Việt Nam phải đa ra đợc năng lực quản lý sản xuất và
tiếp thị lên ngang tầm với các nớc xuất khẩu trong khu vực để có thể cạnh tranh
đợc về năng suất lao động, giá thành và chất lợng sản phẩm, uy tín nhãn hiệu,

khẩu với thay thế nhập khẩu".
Hớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả, đó là
kinh nghiệm của nhiều nớc công nghiệp mới (NICs) và ở nớc ta cũng đã đợc xác
nhận. Đó là một trong những chiến lợc cơ bản của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá trong những điều kiện của thế giới hiện nay. ở nớc ta, phải tận
dụng các lợi thế so sánh về lao động và tài nguyên để đẩy mạnh nhịp độ phát
triển của các ngành và sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, xem đây là mục tiêu
hàng đầu. Xuất khẩu càng nhiều, kinh tế tăng trởng càng nhanh, có hiệu quả bền
vững, đồng thời càng có thêm khả năng thay thế nhập khẩu có hiệu quả, không
mẫu thuẫn với hớng về xuất khẩu.
Ngành công nghiệp Dệt May là một trong những ngành có khả năng làm đợc
điều đó. Thực tế trong những năm qua cho thấy, chiến lợc hớng ra xuất khẩu đã
thu đợc nhiều kết quả khích kệ, tốc độ tăng bình quân của kim ngạch xuất khẩu
của hàng Dệt May giai đoạn 1995 - 2000 là 17,4%/năm. Nhờ nguồn ngoại tệ thu
đợc, ngành có điều kiện tái đầu t để hiện đại hoá thiết bị công nghệ, đẩy mạnh
sản xuất.
Song song với xu thế đẩy mạnh xuất khẩu, cần kết hợp sản xuất các mặt hàng
thay thế nhập khẩu. Thị trờng trong nớc với dân số đông và sức mua ngày càng
lớn là đối tợng rất quan trọng mà công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nói
chung và công nghiệp Dệt May nói riêng phải đáp ứng cho đợc các nhu cầu cơ
bản, từ những sản phẩm Dệt May bình thờng, phù hợp với đa số ngời dân lao
động đến các sản phẩm cao cấp hơn phục vụ những nhóm ngời có thu nhập cao.
Để làm đợc điều này, vấn đề quyết định là phải nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm Dệt May ở thị trờng trong nớc, thị trờng các nớc trong khu vực và trên thế
giới trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả. Trớc mắt cần có sự
phối hợp giữa các nhà sản xuất, những ngời làm công tác nghiên cứu, lựa chọn
13
những mặt hàng thích hợp đang đợc nhập khẩu nhiều mà năng lực sản xuất và
trình độ kỹ thuật, công nghệ của các doanh nghiệp trong nớc có khả năng đáp
ứng. Sau đó, các doanh nghiệp trong nớc phối hợp với nhau tập trung vào sản

nghệ mới để giảm bớt khoảng cách tụt hậu.
4) Phát triển công nghiệp Dệt May gắn liền với sự phát triển của ngành
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, góp phần thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội từ nay đến năm 2010, Đảng ta đã
chỉ rõ : cần phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế
mà trớc hết là công nghiệp hoá nông thôn.
Nh vậy, đối với tất cả các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp Dệt
May (là ngành sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp nh bông, tơ
tằm,...), trong chiến lợc phát triển của mình cần phải xác định đợc hớng phát
triển là gắn liền với sự phát triển của ngành nông nghiệp.
Trong suốt quá trình phát triển của mình, ngành công nghiệp Dệt May Việt
Nam luôn ở trong tình trạng bị động về nguyên liệu. Hầu hết các loại nguyên
liệu đều phải nhập khẩu : kể cả xơ bông là loại nguyên liệu mà ta có khả năng
cung cấp một phần, tơ tằm tuy không phải nhập khẩu nhng nguồn tơ sản xuất bị
hạn chế cả về số lợng lẫn chất lợng nên giá xuất khẩu thấp.
Do vậy, muốn từng bớc tiến tới sự phát triển ổn định và bền vững, ngành Dệt
May phải tạo đợc cho mình một cơ sở nguyên liệu thích hợp và ổn định.
15
Phát triển công nghiệp Dệt May còn gắn liền với sự phát triển của một loạt
các ngành công nghiệp khác nh : Công nghiệp hoá chất, hoá dầu để tạo ra các
dạng nguyên liệu tổng hợp, nhân tạo, các loại hoá chất, thuốc nhuộm... ; Công
nghiệp cơ khí chế tạo để sản xuất ra các phụ tùng thay thế, tiến tới sản xuất ra
các loại máy móc từ đơn giản đến phức tạp cho Ngành ; ngoài ra còn kéo theo
sự phát triển của các ngành sản xuất phụ liệu, bao bì.
Để làm đợc những điều trên, điều quan trọng là phải xây dựng đợc hệ thống
các quy hoạch phát triển ngành và liên ngành, tạo ra sự liên kết ngang chặt chẽ
giữa các ngành công nghiệp Dệt May với nông nghiệp và các ngành công
nghiệp khác. Các quy hoạch này cần đợc phối hợp bảo đảm tính cân đối, ăn
khớp giữa chúng với nhau. Đặc biệt, nông nghiệp thì phải có quy hoạch từ khâu

I) Thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm của ngành Dệt - May
17
1. Tình hình sản xuất giai đoạn 1995-2001
Theo thống kê kết quả sản xuất của Ngành qua các năm nh sau:
Bảng 1: Kết quả sản xuất của ngành Dệt May Việt Nam giai đoạn
1995 2001
Chỉ tiêu
Đơn
vị
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Tăng
BQ(%)
Doanh thu
Tỷ
đồng
4567 4954 5462 5882 6579 8083 9566 13,2
Nộp ngân sách
Tỷ
đồng
162,4 163,5 134,3 140,6 209,0 259 298,6 10,6
KNXK
Triệu
USD
850 1150 1503 1450 1747 1900 1975,4 9,25
Sản phẩm chính
Sợi
1000
tấn
59,2 65 67,5 69 74 80 86 6,41

mở rộng thị trờng, ngành Dệt May đợc Chính phủ quan tâm phê duyệt chiến lợc
phát triển kèm theo các chính sách u đãi tạo điều kiện vơn lên hội nhập với khu
vực và thế giới. Tuy nhiên Ngành cũng gặp phải những khó khăn lớn và những
biến động phức tạp nh :
- Kinh tế thế giới tiếp tục trì trệ và suy giảm sau sự kiện ngày 11/9. Thị trờng
các nớc nhập khẩu hàng Dệt May lớn nh Nhật, Mỹ bị thu hẹp. Cạnh tranh gay
gắt dẫn đến giá xuất khẩu giảm mạnh. Một số thị trờng xuất khẩu bị thu hẹp.
Một số thị trờng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam (Mỹ, Đông Âu, SNG) cha
đủ điều kiện để khai thác có hiệu quả.
- Thiên tai năm 2000 và 2001 liên tiếp xảy ra để lại hậu quả nặng nề, các mặt
hàng nông sản rớt giá làm thị trờng trong nớc kém sôi động. Thêm vào đó, hàng
Dệt May nhập lậu trốn thuế với số lợng lớn gây ảnh hởng xấu đến sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp
- Các chính sách u đãi tại Quyết định số 55 của Chính phủ cha đợc các cơ quan
quản lý Nhà nớc hớng dẫn kịp thời.
19
- Vốn lu động thiếu, vốn vay đầu t lớn, chi phí đầu vào tăng đã làm tăng giá
thành, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Cũng theo bảng số liệu ta thấy : Sản lợng hàng may mặc có tốc độ tăng tr-
ởng bình quân cao hơn hẳn so với tốc độ tăng trởng của sản lợng sợi và sản lợng
vải (tốc độ tăng bình quân của hàng may mặc là 13,4%, trong khi đó tốc độ tăng
bình quân của sợi và vải chỉ có 6,41 và 7,32%). Điều này phản ánh đợc phần
nào có sự tăng trởng không cân đối giữa ngành Dệt và ngành May, Dệt không
theo kịp May, May tăng trởng nhanh lại không kéo theo đợc sự tăng trởng nhanh
cho Dệt. Tức là sự liên hệ giữa May và Dệt còn rất lỏng lẻo, hiệu quả của toàn
ngành còn thấp do ngành May phải nhập nguyên liệu cho sự tăng trởng nhanh
của mình.
2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của ngành Dệt - May
Tình hình tiêu thụ sản phẩm là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quyết định sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhng để tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ thì

loại, không xuất khẩu đợc ra bán. Do vậy, việc tiêu thụ sản phẩm may mặc nội
địa đã có sự sắp xếp một cách tự phát: ở khu vực thành thị, đặc biệt là ở các
thành phố lớn, các cơ sở sản xuất hàng may mặc t nhân ra đời rất nhanh với
nhiều quy mô khác nhau dần thay thế cho may quốc doanh. Sự chuyển đổi này
làm cho nhu cầu của ngời thành thị có vẻ là đợc đáp ứng đầy đủ, thuận tiện, hợp
túi tiền của mọi đối tợng. ở khu vực nông thôn, miền núi thì ngợc lại, thị trờng
gần nh bị bỏ trống bởi khả năng thanh toán của thị trờng quá thấp, không đủ sức
hấp dẫn các t thơng đầu t.
21
Xét một cách tổng thể, có thể thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm Dệt May
trong nớc diễn ra rất chậm chạp là do thị trờng hàng Dệt May trong nớc đã bị
coi thờng. Tính tới thời điểm hiện nay, hệ thống tổ chức bán buôn, bán lẻ hàng
Dệt May đều do t thơng thao túng, trong khi đó các nhà sản xuất và hệ thống th-
ơng nghiệp quốc doanh vẫn cha tìm ra đợc phơng thức hoạt động phù hợp.
2.2) Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở nớc ngoài
Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt May liên
tục tăng, với mức tăng trởng bình quân 17,4%. Hiện nay, mỗi năm Việt Nam
xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD hàng Dệt May, trong đó thị trờng EU chiếm 40% kim
ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam, sau đó đến Nhật chiếm 23%,
ASEAN với 18%, Mỹ chiếm 2% và các khu vực khác chiếm 17%.
Bảng 2: Thị trờng xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam (1995-2000)
Danh mục Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tăng
BQ
1. Tổng KNXK Tr.USD 850 1150 1503 1450 1747 1892 17,4
2. Thị trờng XK
chủ yếu
+) EU Tr.USD 350 420 450 620 700 726
+) Nhật Tr.USD 290 315 325 32 417 430
+) ASEAN Tr.USD 21 70 42 68 70

thâm nhập và tăng cờng xuất khẩu vào thị trờng này là phải không ngừng cải
tiến chất lợng hàng hoá, mẫu mã hấp dẫn thì mới có thể cạnh tranh đợc với các
nớc khác.
Hiện EU dành cho hàng Dệt May Việt Nam đợc hởng quy chế tối huệ
quốc (MFN) nhng phải chịu hạn ngạch. Đây là một thuận lợi lớn cho hàng Dệt
23
May Việt Nam khi vào thị trờng vì chỉ bị đánh thuế thấp, nâng cao đợc khả năng
cạnh tranh về giá.
b) Thị trờng Nhật Bản:
Nhật Bản là một cờng quốc về công nghiệp Dệt May. Song do giá nhân
công tại Nhật ngày càng cao và lại thiếu nhân công, đồng Yên lại tăng giá nên
Nhật Bản đã chuyển đổi chiến lợc là giảm sản xuất hàng Dệt May trong nớc và
tăng nhập khẩu hàng Dệt May từ nớc ngoài mà chủ yếu là từ các nớc đang phát
triển.
Với dân số 120 triệu ngời và khí hậu 4 mùa rõ rệt nên nhu cầu hàng Dệt
May của Nhật Bản là rất lớn (20,3 kg/ngời/năm) và thay đổi liên tục. Kim ngạch
nhập khẩu hàng Dệt May của Nhật Bản rất lớn, phần lớn là nhập từ Trung Quốc
(hơn 50%). Mặc dù vậy, Nhật Bản vẫn đợc xem là thị trờng nhập khẩu hàng Dệt
May lớn nhất của Việt Nam. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Nhật Bản là 417 triệu USD (chiếm 3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu
của Nhật và 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn Ngành). Ưu thế của thị tr-
ờng Nhật là không có hạn ngạch, thuế nhập khẩu lại thấp, địa lý lại gần nên
hàng Dệt May nớc ta có khả năng cạnh tranh với các nớc xuất khẩu khác. Đây là
thị trờng đầy hứa hẹn đối với các mặt hàng Dệt May Việt Nam trong cả trớc mắt
và lâu dài mà chúng ta cần đầu t để duy trì và phát triển lên một mức cao hơn.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại là thị trờng rất "khó tính", đòi hỏi cao về chất lợng hàng
hoá, thời gian giao hàng cũng nh dịch vụ sau khi bán hàng. Hơn nữa lại bị cạnh
tranh quyết liệt của hàng Dệt May Trung Quốc. Do đó, việc mở rộng thị trờng
này phụ thuộc rất lớn vào uy tín của sản phẩm. Điều này đòi hỏi các doanh
nghiệp Dệt May Việt Nam phải nâng cao chất lợng sản phẩm và giữ uy tín đối

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status