một số biện pháp phát triển công nghiệp nông thôn từ nay đến năm 2010 - Pdf 10

lời nói đầu
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đờng tất yếu phải tiến hành đối với
bất cứ nớc nào, nhất là những nớc có xuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp
kém phát triển muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại.
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, công
nghiệp nông thôn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, có quan hệ mật thiết với
sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, khái niệm công nghiệp nông thôn mức chỉ
nêu ra từ những năm 70 thập kỷ này nhng thực tế công nghiệp nông thôn đã đợc
hình thành nh một thực thể kinh tế độc lập với các trình độ phát triển khác nhau,
gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn từ rất lâu.
Hiện nay ở nhiều nớc, nhất là các nớc đang phát triển, phát triển công
nghiệp nông thôn đợc coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lợc lâu dài. Đối với
Việt Nam một quốc gia lạc hậu, 80% dân số sống ở khu vực nông thôn với một
cơ cấu kinh tế độc canh thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm
rất bức bách. Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tính
đúng đắn đờng lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nớc ta, trong đó đặc biệt coi
trọng phát triển công nghiệp nông thôn, từ đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Từ thực tiễn và trên cơ sở tham khảo ý kiến của giáo viên hớng dẫn, các cán
bộ công tác tại Vụ Công nghiệp Bộ Kế hoạch Đầu t, em đã xác định đề tài
nghiên cứu sau: Một số biện pháp phát triển công nghiệp nông thôn từ nay đến
năm 2010.
Với đề tài này, em mong góp phần vào những cố gắng chung đáp ứng nhu
cầu nghiên cứu tình hình phát triển công nghiệp nông thôn trong công cuộc công
nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nớc.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 phần:
Chơng I - Cơ sở lý luận về công nghiệp nông thôn
Chơng II - Thực trạng công nghiệp nông thôn Việt Nam
Chơng III - Phơng hớng, mục tiêu và giải pháp phát triển công nghiệp
nông thôn Việt Nam đến năm 2010.
Là một sinh viên năm cuối, tuy đợc trang bị những kiến thức cơ bản song

hấp dẫn đối với dân đô thị trong và ngoài nớc.
- Về trình độ văn hoá, khoa học công nghệ hay mặt cơ sở hạ tầng, nông
thôn còn thấp, thua xa so với thành thị.
Trong quá trình công nghiệp hoá ở các nớc đang phát triển, vấn đề công
nghiệp hoá nông thôn xuất hiện làm nảy sinh khái niệm và tiêu chí cụ thể của
nông thôn trong khi đó, cha có tiêu chí cụ thể về nông thôn thì trớc mắt tạm chấp
nhận tiêu chí về đô thị từ đó suy ra tiêu chí của nông thôn. ở Việt Nam, chính
phủ ra quyết định số 132 HĐBT quy định nớc ta có 5 loại đô thị:
Biểu 1 - Tiêu chí loại đô thị
Tiêu chí
Đô thị
Số dân
Tỷ lệ lao động
ngoài NN
Mật độ dân c
2
Đô thị loại 1 > 1 triệu > 90% > 15.000 ngời/km
2
Đô thị loại 2 350.000 - 1 triệu > 80% > 12.000 ngời/km
2
Đô thị loại 3 100.000 - 350.000 > 70% > 10.000 ngời/km
2
Đô thị loại 4 30.000 - 100.000 > 70% > 8.000 ngời/km
2
Đô thị loại 5 4.000 - 30.000 > 60% > 600 ngời/km
2
Nh vậy, nớc ta phân loại đô thị theo 3 tiêu chí chủ yếu là số lợng ngời dan
một địa điểm dân c, mật độ dân c và tỷ lệ lao động ngoài ng. Qua đó có thể thấy
để là một đô thị thì phải đáp ứng đợc ba tiêu thức tối thiểu của đô thị loại 5 hay
ngợc lại, để là khu vực nông thôn thì tiêu chí phải kém hơn tiêu chí đô thị loại 5

kinh tế đã đợc xác địh.
3
Cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn ở mối quan hệ giữa các ngành mang tính
cố định mà luôn luôn biến động, không có một khuôn mẫu mà tuỳ thuộc vào
điều kiện cụ thể theo không gian và thời gian. Vì vậy, cơ cấu kinh tế không cố
định lâu dài mà nó phải có những thay đổi cần thiết, thích hợp với sự thay đổi
của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội.
Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục tiêu mà chỉ là
phơng tiện nhằm tăng trởng và phát triển kinh tế. Vậy nên chuyển dịch cơ cấu
kinh tế không phải là sự mong muốn chủ quan mà nó là một quá trình phát triển
tất yếu. Tuy nhiên một cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả thì vai trò quản lý cũng
rất quan trọng, đặc biệt việc xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý cho giai đoạn
hiện tại cũng nh thời gian tới nhằm đạt đợc mục tiêu tăng trởng và phát triển đã
đề ra.
3-/ Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông thôn.
Nông thôn là một trong hai khu vực kinh tế đặc trng của nền kinh tế quốc
dân, khu vực kinh tế đô thị và khu vực kinh tế nông thôn. Kinh tế nông thôn bao
gồm các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp liên quan đến sản xuất nông
nghiệp nh công nghiệp chế biến, các ngành tiểu thủ công nghiệp, các ngành dịch
vụ ở nông thôn. Khu vực kinh tế nông thôn sản xuất vật chất cung cấp cho xã hội
những sản phẩm lơng thực thực phẩm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu, nuôi
sống con ngời. Những nhu cầu này không gì có thể thay đổi mặc dù rồi đây khoa
học kỹ thuật, kinh tế xã hội có phát triển đến mấy, tỷ trọng của cải vật chất đóng
góp cho xã hội của khu vực kinh tế nông thôn có thể giảm dần nhng khối lợng
sản phẩm tuyệt đối không ngừng tăng lên. Khu vực kinh tế nông thôn đã, đang
và sẽ cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm nguyên liệu cho công nghiệp, chi viện
lực lợng sản xuất cho khu vực thành thị.
Khu vực kinh tế nông thôn đợc phát triển luôn gắn với tổng thể các quan hệ
kinh tế nhất định cơ cấu kinh tế nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ, không tách
rời nhau trong những tỷ lệ về mặt lợng cũng nh mặt chất. Cơ cấu kinh tế nông

- Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ: là thể hiện sự phân công lao động xã hội
theo lãnh thổ trên phạm vi nông thôn nhằm xác lập cơ cấu kinh tế bằng việc bố
trí các ngành sản xuất nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của từng vùng.
Nhìn lại cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam đợc tổ chức gắn với các ngành
nghề và lãnh thổ có thể phân ra nh sau:
(1) Làng xã thuần nông nghiệp.
(2) Làng nông nghiệp, kiêm thêm nghề phụ
(3) Làng chuyên các ngành nghề truyền thống, thí dụ nh làng gốm sứ, làng
dệt, làng thêu ren, làng sơn mài, làng nghề chạm khắc bạc và gỗ, làng tranh, làng
luyện đúc kim loại
(4) Làng nghề mới hình thành (ven đô thị, ven các trục đờng giao thông) thí
dụ nh các làng vận tải, làng xây dựng, làng may mặc, làng làm đồ da dụng cao
cấp, làng vật liệu xây dựng, làng chế biến và cung cấp thực phẩm cho các thành
phẩm.
(5) Các cơ sở và doanh nghiệp phi nông nghiệp (trang trại, xí nghiệp phi
nông nghiệp ở các thị trấn thi tử) thờng là quy mô nhỏ, thí dụ nh các trạm giống,
trạm sửa chữa cơ khí, ngân hàng huyện, chi nhánh điện, hạt giao thông, bu điện,
trờng học, y tế.
(6) Các xí nghiệp dịch vụ thơng mại của tỉnh.
(7) Các xí nghiệp dịch vụ thơng mại Trung ơng đặt tại địa bàn nông thôn
5
Trong cơ cấu kinh tế nông thôn hiện tại ở Việt Nam, một thực thể bao gồm
các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn với phạm vi trải rộng từ các dạng
hình tổ chức hoạt động kinh tế từ (2) đến (5) đựoc quy ớc là các dạng hoạt động
của công nghiệp nông thôn. Từ một nông thôn thuần nông nghiệp, Việt Nam cần
nỗ lực chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đa nông nghiệp thoát khỏi thuần
nông chuyển sang các dạng hình phi nông nghiệp nói chung. Cơ cấu này gắn liền
với nhu cầu kinh tế và đời sống nông thôn.
II-/ Công nghiệp nông thôn và vai trò của công nghiệp nông
thôn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện công

nông thôn.
6
Phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung của công
nghiệp hoá, là bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội ở khu vực nông thôn. Nó tác động tích cực và hiệu quả tới toàn bộ sự
phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh sản xuất hàng
hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Công nghiệp hoá nông thôn là khái niệm để chỉ quá trình biến đổi của công
nghiệp nông thôn từ chỗ là các hoạt động kinh tế phụ trong cơ cấu kinh tế thuần
nông truyền thống trở thành ngành sản xuất chính trong cơ cấu kinh tế mới ở
nông thôn theo hớng giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp, gia tăng tỷ trọng của
phi nông nghiệp, bao gồm công nghiệp, xây dựng, thơng nghiệp, dịch vụ trên địa
bàn.
Công nghiệp hoá nông thôn phải bắt đầu từ biến đổi của chính bản thân sản
xuất nông nghiệp thông qua việc tạo ra những tiền đề về năng suất lao động d thừa
đủ để hình thành, duy trì và phát triển những hoạt động công nghiệp chuyên ngành.
Công nghiệp hoá nông thôn chỉ ra quá trình thay đổi và những nỗ lực đa
ngành ở tầm vĩ mô từ các cơ quan Nhà nớc các cấp nhằm biến đổi toàn bộ cơ cấu
kinh tế ở các vùng nông thôn mà trớc hết là của sản xuất nông nghiệp. Công
nghiệp nông thôn biểu thị sự vận động nội tại của chính bản thân nông thôn bắt
đầu từ sản xuất nông nghiệp đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của thị trờng. Từ
quan điểm phục vụ phát triển nông thôn, hai khái niệm công nghiệp nông thôn
và công nghiệp hoá nông thôn có những điểm khác nhau nhng đều hớng tới thực
thi một vấn đề: xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập thông qua con đờng phi thuần
nông, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tang hàm lợng côngnghiệp dịch vụ.
2-/ Vị trí công nghiệp nông thôn trong mối quan hệ với nông nghiệp
nông thôn.
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp -
nông nghiệp - dịch vụ ở địa bàn nông thôn do những đặc điểm vốn có của nó.
Theo quá trình tiến hành CNH - HĐH đất nớc, công nghiệp nông thôn ngày càng

hiện đại hoá nông thôn.
- Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng gắn với đô thị hoá nông thôn.
Sự chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trờng là điều kiện, tiền
đề cho chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn. Quá trình chuyển đổi ở nông thôn
đợc thực hiện một cách có hệ thống bằng các cuộc cải cách pháp lý, thể chế và
cải cách tài chính Nhà nớc.
Mục tiêu phát triển của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn là sử
dụng toàn bộ các tiềm năng về đất và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và phi
nông nghiệp ở nông thôn, hớng vào tạo việc làm và nâng cao hiệu quả đầu t. Các
mục tiêu cụ thể là:
- Tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và văn hoá cho
nhân dân nông thôn nói chung và cho nông dân nói riêng.
- Từng bớc chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành khác.
- Tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ nông thôn nhằm đạt tỷ lệ các ngành
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong kinh tế nông thôn Việt Nam tới năm
2010 tơng ứng khoản 50:25:25%.
- Tạo một nền kinh tế nông thôn ổn định, phát triển góp phần tích luỹ cho
công nghiệp hoá đất nớc nói chung.
8
Nh vậy chơng trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn sẽ làm thay đổi
căn bản bộ mặt của xã hội nông thôn Việt Nam và mối quan hệ của nó với khu
vực thành thị. Trong tổng thể chơng trình tạo ra một kế hoạch cho cơ cấu kinh tế,
dân số, công nghiệp và xã hội chính trị cân đối và phi tập trung cao với sự chú
trọng đặc biệt tới các nhóm dân c bất lợi, các vùng nghèo hơn và các dân tộc
thiểu số.
Có thể nhận xét rằng chơng trình tổng hợp CDCCKT nông thôn là một phần
không thể tách rời của chiến lợc tạo việc làm, tăng nguồn lao động và tạo thu
nhập khu vực nông thôn. Đó là con đờng riêng của Việt Nam để chuyển đổi nền
kinh tế và xã hội.
3.2. Khái quát quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cha đi vào chiều sâu và cha đạt hiệu quả
cao, biểu hiện là chuyển dịch cơ cấu kinh tế cha gắn liền với chuyển dịch cơ cấu
lao động. Vì vậy, tình trạng cha sử dụng hết lao động không những không đợc
cải thiện mà còn có chiều hớng xấu đi. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu t
thì hiện nay lực lợng lao động ở nớc ta tăng lên đáng kể, năm 1995 tăng lên
17,6% so với năm 1991 (41,3 triệu ngời so với 35,2 triệu ngời). Số lao động ở độ
tuổi lao động có khả năng lao động tăng 14,6% (39,3 triệu so với 34,3 triệu ngời
năm 1991). Trong đó lao động khu vực thành thị là 23,4% năm 1991 tăng lên
23,9% năm 1995, lao động khu vực nông thôn 76,6% năm 1991 và giảm xuống
76,08% năm 1995 (29,9 triệu ngời).
Số ngời lao động tham gia nền kinh tế năm 1995 là 35,2 triệu ngời năm
1991 là 30,3 triệu ngời. Tỷ lệ lao động tham gia nền kinh tế năm 1995 là 89,6%,
năm 1991 là 88,4%. Xét theo cơ cấu thì năm 1995 tỷ lệ lao động làm việc trong
ngành công nghiệp và xây dựng là 14% so với 13,9% (1991), lao động trong
ngành nông lâm ng nghiệp là 72% (1995) so với 72,3% (1991). Theo số liệu điều
tra về cơ cấu ngành nghề của hộ nông thôn cả nớc năm 1994 thì tỷ lệ hộ nông
nghiệp còn cao hơn là 80,6%, còn hộ phi nông nghiệp chiếm 19,4% trong tổng
số hộ nông thôn.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết TW5, cơ cấu kinh tế nông thôn nớc ta đã có
sự chuyển biến đáng kể theo hớng đa ngành, đa canh và phát triển kinh doanh
tổng hợp.
Tỷ trọng nông nghiệp chiếm trong GDP từ 29,3% trong năm 1995 xuống
25,7% trong năm 1997 nhng giá trị tuyệt đối lại tăng lên 4,5 - 4,9%/năm trong
nội bộ ngành nông nghiệp cũng có sự thay đổi, ngành không còn chiếm độc canh
cây lúa mà chuyển sang đa canh nh trồng màu, cây ăn quả, cây công nghiệp
ngắn dài ngày theo từng vùng. Bên cạnh đó, lâm nghiệp ng nghiệp cũng có sự
phát triển, tỷ trọng thuỷ sản từ 7,5% năm 1991 lên 9,9% năm 1997.
Điểm nổi bật trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự
tăng trởng và phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Thực hiện đờng lối
kinh tế mở, các ngành nghề thủ công và các loại dịch vụ ở nông thôn phát triển

sang các hoạt động phi nông nghiệp. Năm 1994, cả nớc có khoảng 12 triệu hộ
sinh sống ở nông thôn, trong đó gồm 2 triệu hộ làm phi nông nghiệp. Hiện nay,
tốc độ phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn còn ở mức thấp
biểu hiện ở tỷ lệ hộ gia đình lâm nghiệp và hộ phi nông nghiệp ở một số vùng
trong cả nớc cho thấy:
biểu 5 - Tỷ lệ hộ nông nghiệp và hộ phi nông nghiệp.
Tỷ số
Cả nớc
MN TD
Bắc Bộ
DB Sông
Hồng
Khu IV

DH Miền
Trung
TN DNB DBSCL
100 100 100 100 100 100 100 100
Hộ nông nghiệp 80,6 91,4 92,2 83,0 75,6 77,9 51,0 72,1
Hộ phi nông nghiệp 19,4 8,6 7,8 17,0 24,4 22,1 49,0 27,9
Nguồn: Tổng cục thống kê
Số hộ làm nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tuyệt đối. Tuy nhiên tỷ trọng
đóng góp vào GDP lại rất nhỏ bé, chỉ 5% GDP năm 1997 trong khi công nghiệp -
xây dựng là 13,07, dịch vụ 8,9%. Những năm gần đây do thiên tai tỷ trọng GDP
của nông nghiệp có xu hớng giảm. Đây là kết quả không tơng xứng với tiềm
năng đất đai và lao động vốn có ở nông thôn.
11
Nếu xét về cơ cấu thu nhập thì thu nhập từ nông nghiệp chiếm tới 55,6%,
dịch vụ chiếm 17,3%, đặc biệt tỷ trọng công nghiệp nông thôn chỉ chiếm tỷ lệ
nhỏ 5,06%, không những thu nhập từ công nghiệp nông thôn chiếm tỷ lệ nhỏ mà

Đại bộ phận tài nguyên, thiên nhiên, nhân lực, các ngành nghề truyền thống
của Việt Nam đều phân bố ở những vùng nông thôn. Trong bối cảnh đó việc đa
các nguồn tài nguyên này vào quá trình công nghiệp hoá toàn quốc tất yếu phải
thông qua các hoạt động của công nghiệp nông thôn. Khi tiến hành thực hiện
công nghiệp hoá đất nớc, công nghiệp nông thôn đã đóng góp những mặt chủ
yếu sau:
12
(1) Phân bố lại lao động, giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập và sức
mua cho thị trờng nông thôn. Khi việc làm ở nông thôn không đợc tạo ra thì vấn
đề di dân ra đô thị trở nên nặng nề. Thực tế ở Việt Nam cho thấy nạn thất nghiệp
và thiếu việc làm ở nông thôn đã vợt ra khỏi phạm vi nông thôn và ảnh hởng rất
rõ đến vùng đô thị, gây ra nhiều vấn đề mà bản thân đô thị không thể tự giải
quyết đợc nếu không bắt đầu bằng phát triển sản xuất, giải quyết việc làm tại
nông thôn.
Tạo công ăn việc làm cho lao động tại chỗ trong khu vực nông thôn trong d
thừa lớn hiện nay và sẽ còn tăng thêm trong tơng lai (do quỹ đất nông nghiệp
quá hạn hẹp, tốc độ tăng dân số còn cao). Phát triển mạnh công nghiệp nông
thôn và dịch vụ công nghiệp có khả năng chuyển lao động d thừa từ nông nghiệp
sang, góp phần phân công lại lao động hợp lý trong nông thôn. Đây là xu hớng
hợp quy luật, có điều kiện hiện thực đối với nông thôn nớc ta (công nghiệp thành
thị sẽ ngày càng đợc mở rộng nhng vẫn phải thu hút lao động thất nghiệp tại chỗ
là chính. Đây cũng là con đờng có hiệu quả nhất từng bớc đô thị hoá nông thôn,
hạn chế sự di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, góp phần ổn định kinh tế xã hội
cả nớc.
Cùng với khả năng tạo việc làm, phát triển công nghiệp nông thôn là biện
pháp chủ yếu để nâng cao thu nhập, tăng mức sống mọi mặt của đông đảo dân c
nông thôn. Thực tế cho thấy tình trạng thuần nông đối với phần lớn hộ gia đình
nông dân cho dù trồng trọt và chăn nuôi có đạt giá trị sản phẩm 20 triệu đồng/ha
cũng chỉ xoá đợc nghèo đói.
ở các làng nghề hoặc xã có nghề thủ công, các hộ làm công nghiệp nhỏ th-

công dân bất kể ngời đó sinh ra ở nông thôn hay thành thị.
(6) Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống thông qua
quá trình công nghiệp hoá nông thôn sẽ là cơ hội để củng cố, tăng cờng và phát
huy những giá trị văn hoá truyền thống dân tộc thể hiện ở các mặt hàng đợc chế
biến bởi bàn tay khéo léo, khối óc tinh tế của ngời thợ thủ công Việt Nam, giới
thiệu những nét đẹp, độc đáo của văn hoá Việt Nam với bè bạn thế giới.
Nét phổ biến là công nghiệp nông thôn phát triển nhanh có hiệu quả trên
các vùng đất ít ngời đầy, đặt biệt là khu vực vốn có các làng nghề truyền thống,
ngành có lịch sử từ 300 đến 1000 năm tạo ra sản phẩm tinh xảo, mang bản sắc
dân tộc, có giá trị văn hoá nghệ thuật cao đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất, xuất
khẩu nh khảm chạm gỗ, chạm bạc, gấm mỹ nghệ, sơn mài, khảm trai. Phát triển
công nghiệp nông thôn sẽ phát huy và duy trì đợc những làng nghề truyền thống
cũng nh gia trị văn hoá nghệ thuật của dân tộc qua các đờng nét trạm trổ điêu
luyện của các nghệ nhân.
Tóm lại, công nghiệp nông thôn có vai trò ngày càng to lớn, hiện đang thu
hút khoảng 60% tổng số lao động và 40% giá trị tổng sản lợng của tiểu thủ công
nghiệp trong cả nớc. Công nghiệp nông thôn thúc đẩy sự hình thành hoàn thiện
và mở rộng thị trờng, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật, mở rộng quy mô của
quá trình sản xuất và tái sản xuất kinh tế nông thôn. Công nghiệp nông thôn gắn
chặt với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nó cung cấp điện, máy móc mở
rộng hệ thống tới tiêu, mở rộng diện tích đất canh tác, thúc đẩy áp dụng các loại
máy động lực phục vụ công tác chế biến nông sản, cung cấp phân bón, máy móc
phục vụ công tác làm đất, chăm sóc cây trồng, bơm nớc chống úng, đồng thời
công nghiệp nông thôn cung cấp máy, công cụ phục vụ thu hoạch, phơi sấy, bảo
quản, sơ chế, chế biến, vận chuyển trớc khi tới tay ngời tiêu dùng.
III-/ Những thách thức đối với nông nghiệp Việt Nam trong quá
trình phát triển
14
(1) Mặc dù nông nghiệp đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, nhng hiện nay
khu vực nông thôn vẫn đang ở trong tình trạng xuất phát điểm thấp khi chuyển

công nghiệp hoá nông thôn có nhiều khác biệt, cha có chính sách hiệu quả hỗ trợ
cho các doanh nghiệp, các hộ tiểu thủ công nghiệp để đạt mục tiêu phát triển
công nghiệp nông thôn.
IV-/ Những điều kiện tiền đề cho công nghiệp hoá nông thôn.
(1) Phân công lao động trong nông thôn phải thực sự diễn ra theo hớng ngời
nào giỏi nghề nào thì làm nghề đó. Ngời không có khả năng và không kiếm sống
bằng nghề nông thì chuyển sang làm nghề khác. Việc đáp ứng yêu cầu này rõ
15
ràng có liên quan đến vấn đề sở hữu ruộng đất nông nghiệp ở nông thôn. Một
chế độ sở hữu ruộng đất không triệt để (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, nhợng
bán) hoặc quá cứng nhắc về quyền chiếm hữu sẽ cột chặt ngời nông dân vào
ruộng đất không tạo ra một bộ phận nông dân sẵn sàng rời bỏ nông nghiệp
chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp. Muốn vậy, cần có thể chế tồn tại thị tr-
ờng, trao đổi và chuyển nhợng ruộng đất và thị trờng lao động trong nông thôn.
(2) Năng suất lao động trong nông nghiệp phải đủ cao để nuôi sống số ngời
không có việc làm nông nghiệp, nhng cha tìm đợc việc làm phi nông nghiệp mà
vẫn không phải quay về làm nghề nông. Hiện nay trong nông thôn Việt Nam một
số ngành nghề thủ công nghiệp vẫn chỉ là ngành nghề phụ ở nông thôn, điều
kiện này giúp duy trì một đội ngũ những ngời lao động nông nghiệp bị bứt ra
khỏi các hoạt động sản xuất nông nghiệp, làm tăng sức ép tạo ra các việc làm phi
nông nghiệp ở nông thôn.
(3) Phải có các trung tâm ngành nghề mới phi nông nghiệp, thơng mại, dịch
vụ đợc mở ra với thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp có nh vậy mới thu hút
lao động từ nông nghiệp sang các ngành nghề mới.
(4) Văn hoá tâm lý tập quán của nông dân địa phơng phải phù hợp và thuận
lợi cho việc di chuyển ngành nghề, chuyển đổi lao động văn hoá truyền thống có
tính ổn định tuy là tơng đối và không thể thay đổi nhanh chóng khi cha có tiền
đề tự nhiên, kinh tế, xã hội làm nền tảng và cơ sở. Các vùng đất ít ngời tài
nguyên thiên nhiên hạn hẹp có khókhăn về sản xuất nông nghiệp đã buộc ngời ta
phải tham gia hoạt động phi nông nghiệp. Vai trò văn hoá, tập quán hình thành

tăng đầu t cho nông thôn. Xí nghiệp hơng trấn trích lợi nhuận xây dựng công
việc nông thôn dới hình thức lấy công bù nông, lấy công dựng nông. Phát triển
công nghiệp hơng trấn sẽ tăng thêm thu nhập cho nông dân, từ đó làm tăng thực
lực đầu t của nông dân vào nông nghiệp. Xí nghiệp hơng trấn tiến hành xây dựng
hàng loạt các xí nghiệp chi viện cho nông nghiệp nh các xởng sửa chữa công cụ
vừa và nhỏ, xởng hoá chất dùng cho nông nghiệp trực tiếp phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp, tăng thêm việc cung ứng có hiệu quả của t liệu sản xuất cho
nông nghiệp.
Xí nghiệp hơng trấn đã chuyển dịch khối lợng lớn sức lao động dôi thừa của
nông nghiệp trong 10 năm, xí nghiệp hơng trấn đã chuyển dịch đợc gần 70 triệu
lao động d thừa, tính ra mức bình quân ruộng đất cho mỗi lao động hiện nay là
3,5ha thì bằng dôi ra đợc trên 200 triệu ha . Sự dịch chuyển lớn lao động nông
nghiệp dôi thừa sang làm công nghiệp dịch vụ đã nâng cao năng suất lao động
trong nông nghiệp, tạo điều kiện để kinh doanh nông nghiệp một cách quy mô
hơn, tạo điều kiện để hiện đại hoá nông nghiệp.
Xí nghiệp hơng trấn phát triển gắn liền với một cơ chế linh hoạt, cung ứng
nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm liên hệ trực tiếp với thị trờng, thích ứng với sự
biến đổi của nhu cầu thị trờng và tự vơn lên trong cuộc cạnh tranh thị trờng gay
gắt. Xí nghiệp hơng trấn có quyền tự chủ kinh doanh đầu t Chính phủ không can
thiệp, giám đốc điều hành, chú trọng sản phẩm mới và ứng dụng công nghệ mới
theo chế độ phân phối làm nhiều hởng nhiều, làm ít hởng ít.
2-/ ấn Độ.
Từ thế kỷ XX, các nhà lãnh đạo ấn Độ đã nhận thức đợc tầm quan trọng
của phát triển công nghiệp làng xóm nông thôn trong phát triển nông thôn. ấn
Độ đề ra nguyên tắc phát triển công nghiệp nông thôn trên cơ sở t nhân và hợp
tác ở các vùng nông thôn và đề cập các lợi thế của khu vực công nghiệp nhỏ
17
trong nền kinh tế ấn Độ nh đảm bảo việc làm tối đa quy mô lớn, tạo ra một ph-
ơng thức đảm bảo phân chia hợp lý hơn thu nhập quốc gia và huy động có hiệu
quả các nguồn lực, vốn và tay nghề cha đợc sử dụng hết.

1. Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn bao gồm nông lâm thuỷ sản
có tốc độ tăng nhanh và liên tục, bình quân 4,5%/năm cao hơn nhiều so với mức
tăng thời kỳ trớc đó. Thành tựu nổi bật nhất là sản xuất lơng thực tăng nhanh và
liên tục. Từ năm 1989 - 1999 bình quân mỗi năm tăng thêm 1 triệu tấn lơng thực
bảo đảm an ninh lơng thực quốc gia và góp phần xuất khẩu. Bên cạnh ngành sản
xuất lơng thực xuất hiện một số ngành sản xuất hàng hoá đáp ứng thị trờng trong
nớc và xuất khẩu, bớc đầu có chỗ đứng trên thị trờng quốc tế với kim ngạch xuất
khẩu khá nh cà phê, cao su, hạt điều , các loại cây ăn quả, mía đờng, bông vải
cũng khá phát triển. Chăm sóc bảo vệ trồng rừng phủ xanh đồi núi trọc có tiến
bộ bớc đầu chặn đứng đợc tình trạng sa sút về diện tích rừng. Kim ngạch xuất
khẩu nông lâm sản 10 năm qua từ 1989 đến 1999 đạt trên 15 tỷ đô la, bình quân
hàng năm tăng 20%, cụ thể xuất khẩu 22 triệu tấn gạo, 1,9 triệu tấn cà phê, hơn
1 triệu tấn cao su mủ khô. So với năm 1989 khối lợng xuất khẩu năm 1999: gạo
gấp 2, 67 lần, cà phê 7 lần, cao su mủ kho 3,4 lần. Tổng kim ngạch xuất khẩu
nông lâm sản năm 1998 ớc đạt 2.600 triệu đô la gấp 3,2 lần năm 1989.
Trong ngành nông lâm thuỷ sản, giá trị sản xuất của ngành tăng lên, 48968
tỷ đồng (1994) tăng lên 57422 tỷ đồng (1998) với tốc độ khoảng 1,17%. Tuy về
giá trị, ngành nông lâm thuỷ sản vẫn tăng nhng tốc độ tăng theo các năm giảm
dân, một phần do tình hình kinh tế chính trị bất ổn chung của thế giới và khu vực
ảnh hởng đến các ngành nông lâm thuỷ sản của nớc ta. Năm 1995 tăng 4,8%,
năm 1996 tăng 4,4% nhng năm 1998 đã giảm xuống nhanh chóng còn 2,7%.
Trong ba ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản nhìn chung giá trị của chúng
đều tăng, đặc biệt là tốc độ tăng nhanh của ngành thuỷ sản 12,3%/năm 1997,
12%/năm 1998. Cơ cấu ngành nông lâm thuỷ sản thì nông nghiệp vẫn giữ tỷ
trọng cao khoảng 84,8% qua các năm, ngành thuỷ sản ngày càng khẳng định thế
đứng của mình bằng cách tăng về tỷ trọng trong cơ cấu ngành 8,2% (1994); 8,9
(1995) lên 10,8% (1998). Tuy rằng nông nghiệp giữ vẫn giữ vị trí quan trọng nh-
ng tỷ trọng ngành có xu hớng đi xuống 85,3% (1994), 84,3% (1995) giảm xuống
83,4% (1998), đây là xu hớng phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của đất nớc theo hớng CNH - HĐH.

khoảng 2,5 triệu đồng/năm. Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, để đánh
giá đúng thực trạng kinh tế nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng cần
phải đánh giá kết quả sản xuất nông nghiệp qua một giai đoạn nhất định.
Bảng 9 - Kết quả sản xuất nông nghiệp 4 năm 1996 - 1999
so với thời kỳ 1991 - 1995
Đơn vị tính
Bình quân 1 năm thời kỳ
1991 - 1995 1996 - 1999
1. Sản xuất lúa
20
Diện tích 1000 ha 6.500 7.130
Năng suất Tạ/ha 34,5 38,5
Sản lợng 1000 tán 22.480 27.460
2. Sản lợng lơng thực quy thóc Triệu tấn 25 30,5
3. Lơng thực bình quân đầu ngời Kg 354 390
4. Gạo xuất khẩu Triệu tấn 1,75 3,43
5. Sản lợng thịt hơi xuất chuồng Triệu tấn 1,34 1,5
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Thời kỳ 96 - 99 so với 91 - 95 càng khẳng định thêm vị trí quan trọng của
cây lúa trong nông nghiệp về diện tích tăng 630 nghìn ha, mỗi ha tăng thêm 4 tạ
chứng tỏ chất lợng đất đợc chú trọng, sản lợng tăng 6.980 nghìn tấn, sản lợng lơng
thực quy thóc tăng 5,5 triệu tấn. Dù dân số tăng nhanh nhng do lơng thực đợc chú
ý đúng mức nên lơng thực bình quân đầu ngời tăng 36 kg/ngời, gạo cho xuất khẩu
tăng 1,68 triệu tấn vơn lên đứng hàng thứ 2 thế giới.
Tổng lơng thực quy thóc năm 1999 đạt 33,8 triệu tấn tăng gần 2 triện tấn
(tăng 6,3%) so với năm 1998, đạt 105,3% kế hoạch đề ra. Riêng sản lợng lúa đạt
31 triệu tấn, tăng 1,9 triệu tấn (65%).
Diện tích, năng suất sản lợng màu giao thóc tăng hơn 1998, thực hiện đạt
khoảng 2,8 triệu tấn. Sản xuất màu vụ đông đạt 452.000 ha, tăng 4% so với vụ
đông 1997.

đợc cải thiện một bớc. Đàn bò đạt 4,1 triệu con, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm
1998, đàn trâu vẫn duy trì 2,9 triệu con. Đàn lợn đạt 18,8 triệu con tăng 3,9%. Đàn
gia cầm đạt 173 triệu con, tăng 3,9%. Tổng sản lợng thịt đạt 1,75 triệu tấn tăng
7,7% so với 1998 trong đó thịt lợn đạt 1,32 triệu tấn, tăng 7,5%, sản lợng trứng đạt
3,3 tỷ quả, tăng 2,9%, sản lợng sữa đạt 40.000 tấn, tăng 22%.
3. Phát triển ngành nghề công nghiệp và dịch vụ nông thôn còn gặp nhiều
khó khăn, ngành nghề dịch vụ chuyển biến chậm, giá trị nông nghiệp cao 71,4%
trong khi công nghiệp chiếm 13,8%, dịch vụ 14,7% nhng giá trị làm ra của công
nghiệp, dịch vụ nông thôn còn rất nhỏ bé. Quan trọng hơn, nền nông nghiệp nớc
ta còn mang tính cổ truyền, kém hiệu qủa. Do cơ cấu nền nông nghiệp chậm thay
đổi nên công nghiệp chế biến sản phẩm khó có điều kiện phát triển. Dịch vụ
nông nghiệp có xu hớng giảm sẽ có tác động giảm đến sản xuất hàng hoá trong
cơ chế kinh tế mở rộng hiện nay. Mặt khác, hàng nông sản nớc ta không đa dạng
về chủng loại, chất lợng lại cha đạt tiêu chuẩn quốc tế nên khó chiếm lĩnh thị tr-
ờng, thậm chí có những loại nông sản thị trờng còn bị thu hẹp do chất lợng phẩm
chất quá thấp gây thiệt hại cho ngời sản xuất, ảnh hởng tới tăng trởng và phát
triển kinh tế nông nghiệp.
4. Kinh tế nông thôn có phát triển nhng đã lạm dụng khai thác tài nguyên
(đất đai, rừng, sông ngòi) và khai thác cờng độ lao động cơ bắp. Tác động khoa
học công nghệ tuy có cố gắng nhng cha tơng xứng với yêu cầu tăng tốc độ phát
triển, do vậy môi trờng sinh thái đã bộ giảm sút trông thấy. Một phần do nguyên
nhân hệ thống nghiên cứu khoa học tổ chức phân tán, phần lớn trang thiết bị
nghiên cứu lạc hậu, lực lợng cán bộ KHKT đông nhng không đủ mạnh, nhiều
lĩnh vực nghiên cứu thiếu chuyên gia đầu ngành và công tác thông tin khoa học
còn yếu kém.
22
5. Đất đai canh tác có hạn, dân số đông và đang tăng lên nhanh dẫn đến
diện tích đất bình quân đầu ngời ngày càng giảm, bình quân một hộ nông nghiệp
đạt 5.162 m
2

Sản xuất không
phát triển
Thị tr ờng sức
mua thấp
Đầu t thấp
Công nghiệp nông thôn nớc ta đã xuất hiện rất sớm các làng nghề truyền
thống lâu đời, song sự phát triển qua các thời kỳ quá chậm chạp và có thời kỳ bị
mai một. Về cơ bản, công nghiệp lẫn dịch vụ nông thôn chỉ đợc xem là những
ngành phụ để giải quyết thời gian nhàn rỗi và lao động d thừa ở nông thôn. Tuy
vậy những năm gần đây công nghiệp dịch vụ nông thôn đã bắt đầu phát triển,
đóng góp phần lớn thu nhập cũng nh lao động thực tế của gia đình, đặc biệt là
công nghiệp nông thôn.
Riêng công nghiệp nông thôn hàng năm có mức tăng trởng khoảng 10 -
12%, trong đó chế biến nông lâm thuỷ sản có tốc độ tăng 12 - 15%/năm, tiểu thủ
công nghiệp tăng 7,8%, công nghiệp vật liệu xây dựng chủ yếu là xi măng tăng
11,54%/năm. Trong các mức tăng trởng các năm thì công nghiệp nông thôn có tỷ
lệ tăng trởng ngày càng cao, bắt đầu từ 9% (1991), 13,1% (1993), 13,9% (1995)
10,8% (1997) nhng năm 1998 chỉ là 4,6% do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu á đã kéo tốc độ tăng trởng kinh tế nớc ta nói chung, công nghiệp nông
thôn nói riêng đi xuống.
Bảng 13 - Tốc độ tăng công nghiệp nông thôn.
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
CNNT 9% 14% 13,1% 14% 13,9% 15,6% 10,8% 4,6% 4,61%
Nguồn: Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn.
Trong cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp vẫn giữ tỷ trọng cao trong 3
ngành công nông dịch vụ nhng tỷ trọng này có xu hờng giảm tuy rằng sự chuyển
dịch này chậm, công nghiệp và dịch vụ ngoài tốc độ tăng nhanh hàng năm còn
có xu hớng dịch chuyển tỷ trọng công nghiệp dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng
cao nhng cũng rất chậm. Tuy nhiên hàng năm giá trị tạo ra của công nghiệp nông
thôn đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội cha cao, 11750 tỷ đồng (1996),

khôi phục do yêu cầu khách quan của nền kinh tế của thị trờng trong nớc và
quốc tế. Sự phục hồi này gắn liền với sự đổi mới, hiện đại hoá các sản phẩm và
công nghệ truyền thống hoặc do sức lan toả sang khu vực lân cận của một số
ngành nghề.
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ của công nghiệp nông thôn đã có phần đợc
nâng cao hơn, biểu hiện ở sự tăng cờng thiết bị cơ giới hoá, thay thế các nguyên
liệu truyền thống bằng nguyên liệu hiện đại và cải tiến, đa dạng hoá sản phẩm,
thích ứng hơn với đòi hỏi của thị trờng. ở nhiều địa phơng đã ứng dụng những
thiết bị có giá trị cao, thuộc những công nghệ tơng đối tiên tiến nh là luyện kim
cao tần ở ý Yên (Nam Hà), An Hải (Hải Phòng), nhiều thiết bị gia công cơ khí
(máy phay, máy dập).
- Quan hệ liên kết hợp tác của công nghiệp nông thôn đợc mở rộng, đặc biệt
với công nghiệp ở đô thị. Quan hệ tuy hình thành trên cơ sở tự phát và kế thừa
lịch sử nhng đã dần đợc củng cố và hoàn thiện trên thực tế, nhất là các ngành
may mặc sản xuất kim khí, chế biến thực phẩm quan hệ này đợc tổ chức trên
cơ sở quan hệ thị trờng tuy mới chỉ là việc đảm bảo đầu ra của sản xuất và các
đơn vị ở nông thôn thờng phải chịu phần thua thiệt hơn. Sự hợp tác có nghĩa là sự
hỗ trợ và phân công một cách lâu dài, ổn định giữa các đơn vị kinh doanh ở đô
thị với một số đơn vị ở nông thôn cha thực sự hình thành.
25

Trích đoạn Tuy nhiên sự phát triển của công nghiệp nớc ta, hiện còn gặp nhiều khó khăn Tiểu thủ công nghiệp Công nghiệp chế biến nông lâm sản Ngành xi măng Ngành hoá chất phân bón
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status