Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp Dệt May từ nay đến năm 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO - Pdf 11

Mục lục
Trang
Mục lục..............................................................................................................1
Trang................................................................................................................1
Bảng 3 : Năng lực sản xuất toàn ngành Dệt May năm 2000..................27
Bảng 15 : Các chỉ tiêu của ngành Dệt May năm 2005 và 2010...................................57
Bảng 16 : Biểu thuế đối với những mặt hàng có thuế suất t = 20%......60
Bảng 17 : Biểu thuế đối với những mặt hàng có thuế suất t = 10%......60
Bảng 19 : Biểu thuế đối với những mặt hàng Dệt May có thuế suất là t =
50%..............................................................................................................61
Bảng 20 : Biểu thuế EU dành cho ngành Dệt May giai đoạn 2000 - 2005
......................................................................................................................62
1
lời mở đầu
Ngành công nghiệp Dệt May là một ngành có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và là
một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Thực tế các năm qua đã chứng minh điều này. Sản xuất của Ngành tăng trởng nhanh
; kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao ; thị trờng luôn đợc mở rộng,
tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu theo h-
ớng có tích luỹ ; thu hút ngày càng nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần
quan trọng vào việc ổn định chính trị xã hội đất nớc và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân
sách Nhà nớc.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực, để phát triển ngành Dệt
May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo Hiệp định ATC/WTO, từ
1/1/2005 các nớc phát triển sẽ bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu cho các nớc xuất khẩu hàng Dệt
May là thành viên của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO), khi đó các cờng quốc xuất
khẩu hàng Dệt May nh ấn Độ, Indonesia, HongKong, Đài Loan, Hàn Quốc... và đặc biệt là
Trung Quốc sẽ có lợi thế xuất khẩu thế giới. Theo Hiệp định AFTA, từ 1/1/2006, thuế xuất
nhập khẩu hàng Dệt May từ các nớc ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm xuống từ 40 50%
nh hiện nay xuống còn tối đa là 5%, khi đó thị trờng nội địa hàng Dệt May Việt Nam
không còn đợc bảo hộ trớc hàng nhập từ các nớc trong khu vực. Nh vậy, hàng Dệt May Việt

quốc tế. Do đó, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá t bản, từ các
nớc phát triển nh Nhật, Mỹ, Anh, Pháp cho đến các n ớc công nghiệp mới
(Nics) nh Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singarpo, , ngành công nghiệp
Dệt May thờng phát triển mạnh và có hiệu quả cao trong quá trình công nghiệp
hoá của họ. Khi một nớc đã có công nghiệp phát triển, có trình độ công nghiệp
cao, giá lao động cao thì sức cạnh tranh trong sản xuất hàng Dệt May giảm, lúc
đó sẽ chuyển sang những ngành công nghiệp khác có hàm lợng kỹ thuật cao
hơn, sử dụng lao động ít mà mang lại lợi nhuận cao.
Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp Dệt May thế giới cũng là sự
chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Dệt May từ khu vực phát triển sang khu vực
khác kém phát triển hơn do tác động của lợi thế so sánh. Sự dịch chuyển này đợc
gọi là hiệu ứng chảy tràn hay làn sóng cơ cấu. Có thể nói ngành công
nghiệp Dệt May đã tạo nên một làn sóng, sóng lan tới đâu thì nớc đó phát triển
kinh tế vợt bậc.Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sản xuất Dệt May không
còn tồn tại ở các nớc phát triển mà thực tế ngành này đã tiến đến giai đoạn cao
hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Sự dịch chuyển thứ nhất vào những năm 1840 từ nớc Anh, cha đẻ của
ngành công nghiệp Dệt sang các nớc ở châu Âu, khi ngành công nghiệp Dệt
May đã trở thành động lực chính cho sự phát triển thị trờng sang các khu vực
mới khai phá ở Bắc và Nam Mỹ.
Sự chuyển dịch lần thứ hai là từ châu Âu sang Nhật Bản vào những năm
1950, trong thời kỳ hậu chiến thứ hai.
Từ những năm 1950, khi chi phí sản xuất ở Nhật tăng cao và thiếu nguồn
lao động thì công nghiệp Dệt May lại đợc chuyển dịch sang các nớc mới công
nghiệp hoá (NICs) nh Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc. Quá trình chuyển dịch
4
đợc thúc đẩy mạnh bởi nguồn đầu t trực tiếp nớc ngoài nhằm khai thác lợi thế về
nguyên liệu tại chỗ là giá nhân công thấp. Cho đến nay công nghiệp Dệt May
không còn giữ vai trò thống trị trong nền kinh tế nhng vẫn còn đóng góp rất lớn
về nguồn thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu của các nớc này.

nớc đang phát triển, trong điều kiện rất thiếu vốn để tiến hành đầu t thì may gia
công cũng góp phần thu ngoại tệ, tạo vốn cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, đồng thời giải quyết nhiều việc làm cho ngời lao động (đặc biệt là lao
động ở nông thôn).
Hiện nay, lao động trong ngành Dệt May chủ yếu tập trung ở châu á
(chiếm tới 57%) vì đây là khu vực có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công
thấp, phù hợp cho việc phát triển của ngành Dệt May
Đối với Việt Nam, một quốc gia có dân số đông và trẻ so với trong khu
vực và trên thế giới. Tính đến ngày 31/12/2000, dân số cả nớc là 77.685.000 ng-
ời, trong đó số ngời trong độ tuổi lao động khoảng 43,8 triệu ngời. Hàng năm có
khoảng từ 1,5 đến 1,7 triệu thanh niên bớc vào tuổi lao động, tạo thành đội ngũ
dự bị hùng hậu bổ sung liên tục vào lực lợng lao động vốn đã đông đảo. Với một
lực lợng lao động dồi dào nh vậy, nếu đợc đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả
ngành Dệt May Việt Nam rất có điều kiện để phát triển. Đồng thời đó cũng là
một thị trờng tiêu thụ hàng Dệt May tiềm năng. Tuy nhiên, là một ngành thu hút
nhiều lao động cũng có nghĩa là Ngành phải chịu gánh nặng xã hội và nhiều áp
lực từ phía Chính phủ về việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Nếu một doanh
nghiệp phá sản kéo theo hàng trăm ngời thất nghiệp và những hậu quả sau đó
cần giải quyết.
6
Thứ hai, sản phẩm của ngành Dệt May mang tính chất thời trang :
Sản phẩm của ngành Dệt May là sản phẩm tiêu dùng, phục vụ cho nhu
cầu của tất cả mọi ngời. Ngời tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập
quán, tôn giáo, khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác... nên sẽ có nhu cầu rất
khác nhau về trang phục. Do đó đòi hỏi sản phẩm ngành Dệt May phải phong
phú và đa dạng.
Sản phẩm Dệt May là sản phẩm tiêu dùng nhng mang tính thời trang cao,
thờng xuyên phải thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng
nhu cầu tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tợng cho ngời tiêu dùng. Do
vậy vòng đời sản phẩm Dệt May thờng ngắn.

CNH HĐH
Từ sau khi đất nớc tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế sang cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, với đờng lối phát triển kinh tê mở (đa dạng
hoá các thành phần kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều nớc trên
thế giới, không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc sản xuất hai bên cùng
có lợi, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng
phục vụ nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, quan tâm đến phát triển nông nghiệp
và nông thôn), ngành công nghiệp Dệt May đã thể hiện đợc là một trong những
ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nớc
ta.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã và
đang có những bớc phát triển mạnh mẽ, thu hút đợc nhiều lao động. Đến nay lực
lợng lao động trong Ngành có khoảng 1.600.000 ngời, chiếm 22,7% lao động
8
công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động,
tạo sự ổn định chính trị - kinh tế - xã hội. Theo dự đoán, đến năm 2005 và 2010,
lao động trong ngành Dệt May sẽ tăng lên tơng ứng là 3.000.000 và 4.000.000
ngời.
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Dệt May đã bắt đầu tạo ra
các mối liên kết kinh tế, có ý nghĩa trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất n-
ớc theo hớng công nghiệp hoá. Ngành công nghiệp Dệt May tăng trởng nhanh
tạo ra nhu cầu lớn về nguyên liệu nh bông, tơ tằm, do đó đã khuyến khích nông
dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất độc canh cây lơng thực sang trồng
bông, trồng dâu nuôi tằm, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, nâng cao thu nhập
cho ngời nông dân. Đồng thời, với việc mở rộng sản xuất, nhu cầu về máy móc
thiết bị và phụ tùng thay thế của Ngành cũng tăng lên, do đó có tác động khuyến
khích ngành cơ khí mở rộng sản xuất cung cấp phụ tùng thay cho ngành Dệt
May (do trình độ công nghệ còn hạn chế, ngành cơ khí Việt Nam cha đủ sức
cung cấp dây chuyền đồng bộ hiện đại cho ngành Dệt May). Tất cả đều đóng
góp cho sự tăng trởng kinh tế chung của đất nớc, cải thiện đời sống nhân dân.

Dệt May Việt Nam hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và so với ngành
Dệt May của một số nớc trong khu vực (năng lực của ngành Dệt May Việt Nam
hiện chỉ bằng 1/10 so với Thái Lan, 1/15 so với Indonesia, 1/30 so với ấn Độ và
1/50 so với Trung Quốc). Việc thực hiện Hiệp định ATC/WTO ở giai đoạn cuối
cùng từ nay đến năm 2004 sẽ càng làm cho vị trí cạnh tranh của hàng Dệt May
Việt Nam trên các thị trờng Châu Âu và Bắc Mỹ thêm khó khăn do nớc ta cha
phải là thành viên của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Việc thực hiện
AFTA/CEFT từ nay đến cuối năm 2005 sẽ làm giảm dần và đến loại bỏ hoàn
10
toàn vào năm 2006 việc bảo hộ hàng Dệt May Việt Nam tại thị trờng nội địa tr-
ớc hàng nhập khẩu của các nớc Đông Nam á.
Yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng trong bối cảnh đó đặt ra
cho các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam nhiều bài toán hết sức khó khăn. Đó là
làm sao để vừa phát triển mở rộng đợc sản xuất, vừa nâng cấp và khai thác tối đa
năng lực sản xuất hiện có. Làm sao trong thời gian ngắn (từ 3 đến 5 năm), các
doanh nghiệp Dệt May Việt Nam phải đa ra đợc năng lực quản lý sản xuất và
tiếp thị lên ngang tầm với các nớc xuất khẩu trong khu vực để có thể cạnh tranh
đợc về năng suất lao động, giá thành và chất lợng sản phẩm, uy tín nhãn hiệu,
thiết kế sản phẩm, giao hàng nhanh đúng tiến độ và khả năng sản xuất đợc các
lô hàng nhỏ. Vì vậy, ngay từ bây giờ ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam cần
phải có những giải pháp cụ thể để đa Ngành có đủ năng lực cạnh tranh với các
nớc khác trên thế giới vào thời điểm 2006 và những năm sau đó.
Hiện nay, ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã trở thành thành viến
chính thức của Hiệp hội Dệt May Đông Nam á (aftex), tham gia vào Hiệp
hội bông Liperpool và quan hệ Thơng mại Việt Mỹ đã và đang diễn ra theo
hớng tích cực. Cùng với đờng lối đối ngoại mở rộng, chúng ta có thể tin tởng
rằng ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn
nữa và trở thành một ngành kinh tế chủ lực của đất nớc.
II. sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp Dệt
May Việt Nam

12
của hàng Dệt May giai đoạn 1995 - 2000 là 17,4%/năm. Nhờ nguồn ngoại tệ thu
đợc, ngành có điều kiện tái đầu t để hiện đại hoá thiết bị công nghệ, đẩy mạnh
sản xuất.
Song song với xu thế đẩy mạnh xuất khẩu, cần kết hợp sản xuất các mặt hàng
thay thế nhập khẩu. Thị trờng trong nớc với dân số đông và sức mua ngày càng
lớn là đối tợng rất quan trọng mà công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nói
chung và công nghiệp Dệt May nói riêng phải đáp ứng cho đợc các nhu cầu cơ
bản, từ những sản phẩm Dệt May bình thờng, phù hợp với đa số ngời dân lao
động đến các sản phẩm cao cấp hơn phục vụ những nhóm ngời có thu nhập cao.
Để làm đợc điều này, vấn đề quyết định là phải nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm Dệt May ở thị trờng trong nớc, thị trờng các nớc trong khu vực và trên thế
giới trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lợng và hiệu quả. Trớc mắt cần có sự
phối hợp giữa các nhà sản xuất, những ngời làm công tác nghiên cứu, lựa chọn
những mặt hàng thích hợp đang đợc nhập khẩu nhiều mà năng lực sản xuất và
trình độ kỹ thuật, công nghệ của các doanh nghiệp trong nớc có khả năng đáp
ứng. Sau đó, các doanh nghiệp trong nớc phối hợp với nhau tập trung vào sản
xuất các mặt hàng này.
Hiện tại, các sản phẩm Dệt May của Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt bởi các
sản phẩm nhập khẩu chủ yếu ở giá cả. Mặc dầu chất lợng có kém hơn, song do
thắng áp đảo về giá nên họ vẫn chiếm lĩnh đợc thị trờng rộng lớn ở nông thôn.
Đây là điểm yếu quan trọng buộc các nhà sản xuất phải bằng nhiều cách để tiết
kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm thì mới có thể cạnh tranh đợc.
3) Phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo hớng hiện đại và đa dạng
hoá về sản phẩm.
Công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành một yếu tố quyết định cho sự phồn
vinh của một quốc gia, hay sức cạnh tranh của một sản phẩm trên thị trờng quốc
tế. Chúng ta chỉ có thể rút ngắn khoảng cách với các nớc phát triển và tham gia
13
vào phân công lao động quốc tế thông qua việc tiếp cận và làm chủ công nghệ

Nam luôn ở trong tình trạng bị động về nguyên liệu. Hầu hết các loại nguyên
liệu đều phải nhập khẩu : kể cả xơ bông là loại nguyên liệu mà ta có khả năng
cung cấp một phần, tơ tằm tuy không phải nhập khẩu nhng nguồn tơ sản xuất bị
hạn chế cả về số lợng lẫn chất lợng nên giá xuất khẩu thấp.
Do vậy, muốn từng bớc tiến tới sự phát triển ổn định và bền vững, ngành Dệt
May phải tạo đợc cho mình một cơ sở nguyên liệu thích hợp và ổn định.
Phát triển công nghiệp Dệt May còn gắn liền với sự phát triển của một loạt
các ngành công nghiệp khác nh : Công nghiệp hoá chất, hoá dầu để tạo ra các
dạng nguyên liệu tổng hợp, nhân tạo, các loại hoá chất, thuốc nhuộm... ; Công
nghiệp cơ khí chế tạo để sản xuất ra các phụ tùng thay thế, tiến tới sản xuất ra
các loại máy móc từ đơn giản đến phức tạp cho Ngành ; ngoài ra còn kéo theo
sự phát triển của các ngành sản xuất phụ liệu, bao bì.
Để làm đợc những điều trên, điều quan trọng là phải xây dựng đợc hệ thống
các quy hoạch phát triển ngành và liên ngành, tạo ra sự liên kết ngang chặt chẽ
giữa các ngành công nghiệp Dệt May với nông nghiệp và các ngành công
nghiệp khác. Các quy hoạch này cần đợc phối hợp bảo đảm tính cân đối, ăn
khớp giữa chúng với nhau. Đặc biệt, nông nghiệp thì phải có quy hoạch từ khâu
sản xuất nguyên liệu, sơ chế đến tiêu thụ sản phẩm.
Làm đợc nh vậy thì ta sẽ đáp ứng đợc những yêu cầu phát triển của bản thân
ngành công nghiệp Dệt May, đồng thời kéo theo quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nhiều ngành khác.
15
5) Phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo hớng đa dạng hoá sở hữu
và tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN là chiến lợc phát triển kinh tế của
Đảng ta.
Thực tế cho thấy, ở bất cứ một ngành kinh tế kỹ thuật nào, nếu không có
nhiều thành phần kinh tế tham gia thì sẽ không tạo ra đợc môi trờng cạnh tranh,
mà cạnh tranh chính là động lực của sự phát triển.

Doanh thu
Tỷ
đồng
4567 4954 5462 5882 6579 8083 9566 13,2
Nộp ngân sách
Tỷ
đồng
162,4 163,5 134,3 140,6 209,0 259 298,6 10,6
KNXK
Triệu
USD
850 1150 1503 1450 1747 1900 1975,4 9,25
Sản phẩm chính
Sợi
1000
tấn
59,2 65 67,5 69 74 80 86 6,41
Vải
Triệu
met
263 285 298 315 317 376 402 7,32
Hàng may mặc
Triệu
SP
172 206,9 302 275 305 334 367 13,48
Nguồn: Niên giám thống kê 2001
17
Qua bảng số liệu ta thấy nhìn chung các chỉ tiêu toàn Ngành đều có mức
tăng trởng khá từ 6% đến 14%/năm, đặc biệt là trong mấy năm gần đây tốc độ
tăng kim ngạch xuất khẩu và số lợng sản phẩm may mặc có sự tăng lên đột biến.

doanh của các doanh nghiệp
- Các chính sách u đãi tại Quyết định số 55 của Chính phủ cha đợc các cơ quan
quản lý Nhà nớc hớng dẫn kịp thời.
- Vốn lu động thiếu, vốn vay đầu t lớn, chi phí đầu vào tăng đã làm tăng giá
thành, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Cũng theo bảng số liệu ta thấy : Sản lợng hàng may mặc có tốc độ tăng tr-
ởng bình quân cao hơn hẳn so với tốc độ tăng trởng của sản lợng sợi và sản lợng
vải (tốc độ tăng bình quân của hàng may mặc là 13,4%, trong khi đó tốc độ tăng
bình quân của sợi và vải chỉ có 6,41 và 7,32%). Điều này phản ánh đợc phần
nào có sự tăng trởng không cân đối giữa ngành Dệt và ngành May, Dệt không
theo kịp May, May tăng trởng nhanh lại không kéo theo đợc sự tăng trởng nhanh
cho Dệt. Tức là sự liên hệ giữa May và Dệt còn rất lỏng lẻo, hiệu quả của toàn
ngành còn thấp do ngành May phải nhập nguyên liệu cho sự tăng trởng nhanh
của mình.
2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của ngành Dệt - May
Tình hình tiêu thụ sản phẩm là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quyết định sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhng để tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ thì
cần phải nghiên cứu và dự báo đợc nhu cầu thị trờng, từ đó lựa chọn và tìm ra
các biện pháp thích hợp để điều khiển các dòng hàng hoá nhằm thoả mãn nhu
cầu của ngời tiêu dùng. Ngày nay, các nhà sản xuất phải tìm hiểu và nắm bắt
19
nhu cầu thị trờng, sản xuất ra những gì mà thị trờng đòi hỏi. Với ý nghĩa đó, thị
trờng có vai trò quyết định đối với sản xuất kinh doanh của ngành Dệt - May.
a) Tình hình tiêu thụ sản phẩm trong nớc
Việt Nam là một nớc đông dân, hiện nay khoảng gần 80 triệu ngời, dự
tính đến năm 2010 dân số nớc ta vào khoảng 100 triệu ngời. Đây là một thị tr-
ờng đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Dệt - May Việt Nam vì hiện nay mức
tiêu dùng hàng Dệt - May trên đầu ngời còn rất thấp: 0,8 kg/ngời, so với mức
trung bình trên thế giới là 7,2 kg/ngời. Hơn nữa, với hơn 80% dân số sống bằng
nghề nông, hàng năm khu vực kinh tế - nông nghiệp đã tiêu thụ một khố lợng

ơng nghiệp quốc doanh vẫn cha tìm ra đợc phơng thức hoạt động phù hợp.
b) Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở nớc ngoài
Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt May liên
tục tăng, với mức tăng trởng bình quân 17,4%. Hiện nay, mỗi năm Việt Nam
xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD hàng Dệt May, trong đó thị trờng EU chiếm 40% kim
ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam, sau đó đến Nhật chiếm 23%,
ASEAN với 18%, Mỹ chiếm 2% và các khu vực khác chiếm 17%.
Bảng 2: Thị trờng xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam (1995-2000)
Danh mục Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tăng
BQ
1. Tổng KNXK Tr.USD 850 1150 1503 1450 1747 1892 17,4
2. Thị trờng XK
chủ yếu
+) EU Tr.USD 350 420 450 620 700 726
+) Nhật Tr.USD 290 315 325 32 417 430
+) ASEAN Tr.USD 21 70 42 68 70
+) Mỹ Tr.USD 15 20 23 27 70 91
Nguồn: Tổng cục hải quan
21
a) Thị trờng Châu Âu (EU):
Châu Âu từng đợc mệnh danh là lục địa già nhng lại là một khu vực thị tr-
ờng rộng lớn, là nơi cung cấp các trang thiết bị, công nghệ hiện đại, là một trung
tâm tài chính - kinh tế lớn, với dân số trên 360 triệu ngời và có GDP hơn 9.000
tỷ USD, EU thực sự là một thị trờng có đầy tiềm năng, có mức tiêu dùng hàng
Dệt May khá cao so với thế giới (chỉ sau Mỹ và Nhật Bản) 17 kg/ngời/năm.
Giá cả, chất lợng hàng Dệt May Việt Nam xuất khẩu sang EU đợc đánh
giá là khá tốt. Do vậy, giá trị xuất khẩu tăng đáng kể trong những năm gần đây:
năm 1998 đạt 546 triệu USD, năm 1999 đạt 605 triệu USD và năm 2000 đạt 650
triệu USD. Hiện EU là thị trờng xuất khẩu chủ yếu của hàng Dệt May Việt

triển.
Với dân số 120 triệu ngời và khí hậu 4 mùa rõ rệt nên nhu cầu hàng Dệt
May của Nhật Bản là rất lớn (20,3 kg/ngời/năm) và thay đổi liên tục. Kim ngạch
nhập khẩu hàng Dệt May của Nhật Bản rất lớn, phần lớn là nhập từ Trung Quốc
(hơn 50%). Mặc dù vậy, Nhật Bản vẫn đợc xem là thị trờng nhập khẩu hàng Dệt
May lớn nhất của Việt Nam. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Nhật Bản là 417 triệu USD (chiếm 3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu
của Nhật và 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn Ngành). Ưu thế của thị tr-
ờng Nhật là không có hạn ngạch, thuế nhập khẩu lại thấp, địa lý lại gần nên
hàng Dệt May nớc ta có khả năng cạnh tranh với các nớc xuất khẩu khác. Đây là
thị trờng đầy hứa hẹn đối với các mặt hàng Dệt May Việt Nam trong cả trớc mắt
và lâu dài mà chúng ta cần đầu t để duy trì và phát triển lên một mức cao hơn.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại là thị trờng rất "khó tính", đòi hỏi cao về chất lợng hàng
hoá, thời gian giao hàng cũng nh dịch vụ sau khi bán hàng. Hơn nữa lại bị cạnh
tranh quyết liệt của hàng Dệt May Trung Quốc. Do đó, việc mở rộng thị trờng
23
này phụ thuộc rất lớn vào uy tín của sản phẩm. Điều này đòi hỏi các doanh
nghiệp Dệt May Việt Nam phải nâng cao chất lợng sản phẩm và giữ uy tín đối
với khách hàng.
c) Thị trờng Mỹ và Bắc Mỹ:
Với dân số khoảng 350 triệu ngời, trong đó Mỹ là 272 triệu ngời, ít hơn
các nớc EU nhng mức tiêu thụ hàng Dệt May lại gấp rỡi EU (27 kg/ngời/năm)
nên tổng nhu cầu sử dụng hàng Dệt May ở thị trờng này là rất lớn, lại mang tính
đa dạng và phong phú. Năm 2000, Mỹ nhập khẩu trên 70 tỷ USD, chiếm khoảng
20% tổng nhập khẩu hàng Dệt May của thế giới. Nhu cầu lớn lại đợc đáp ứng
chủ yếu bằng hàng nhập khẩu nên đây đợc xem là một thị trờng tiềm năng rất
lớn không những đối với Việt Nam mà cả các nớc sản xuất và xuất khẩu hàng
Dệt May trên thế giới.
Sau quyết định bỏ cấm vận với Việt Nam của Chính phủ Mỹ (tháng
2/1994) và trong những năm qua, mặc dù cha đợc hởng u đãi thuế quan phổ cập

Thực trạng về thị trờng Mỹ cho thấy trong thời gian tới, đầu ra là có triển
vọng rất lớn. Do vậy, ngành Dệt May Việt Nam ngay từ bây giờ phải nhanh
chóng đầu t đổi mới công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu cho may mặc xuất
khẩu để chuẩn bị cho thị trờng Mỹ sắp tới.
d) Thị trờng ASEAN:
Sau khi là thành viên chính thức của ASEAN vào năm 1995, quan hệ th-
ơng mại giữa Việt Nam và các nớc ASEAN khác tăng lên không ngừng. Hiện
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chiếm khoảng 1/3 tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nớc. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May của
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status