Một số Giải pháp cho đầu tư phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử 1000 năm Thăng Long-Hà Nội đã chứng kiến bao thăng trầm của
sự tồn tại và phát triển các làng nghề truyền thống.Các nghề và làng nghề đã góp
phần tạo dựng bản sắc văn hóa cho thủ đô, đóng vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế xã hộI, đặc biệt cùng với việc bảo tồn làng nghề truyền thống phát triển
và mở rộng làng nghề có ý nghĩa quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu nông thôn
ngoại thành theo hướng CNH-HĐH.
Trong thời gian qua, việc khuyến khích và mở rộng làng nghề đã được các
cấp lãnh đạo Trung ương và Thành phố quan tâm sâu sắc. Pháp lệnh Thủ đô và
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VIII cũng đã chỉ rõ định hướng
lớn về phát triển nghề và làng nghề trong quá trình phát triển nông thôn ngoại
thành theo hướng CNH-HĐH, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế hiện nay
Phát huy truyền thống phát triển nghề và làng nghề Thành phố Hà Nội,
quán triệt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Thành ủy Hà Nội,
HĐND và UBND Thành phố đã quan tâm và chỉ đạo các ban ngành địa phương
phát triển và mở rộng làng nghề. Đầu tư phát triển làng nghề sẽ góp phần tạo diện
mạo mới cho khu vực nông thôn ngoại thành, giữ gìn và phát triển tinh hoa văn
hóa phố nghề làng nghề, tạo bước tiếp cận của khu vực làng nghề với quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ thực tiễn thực trạng tình hình đầu tư phá+t triển làng nghề truyền thống
Hà Nội những năm gần đây và quy hoạch phát triển làng nghề Hà Nội đến năm
2010, em quyết định chọn đề tài “ Một số giải pháp cho đầu tư phát triển làng
nghề truyền thống ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu hội nhập” làm đề tài chuyên đề
thực tập tốt nghiệp
Qua đây em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Hồng Minh đã trực tiếp
hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề này, cảm ơn các cán bộ CNV phòng kế
hoạch tổng hợp - Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội, cùng các thầy cô trong bộ môn
đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Tuy nhiên do thời gian và năng lực hạn chế nên chuyên đề còn nhiều thiếu
sót, rất mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: “ Làng nghề truyền
thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách
ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm
phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời
khác, thường là nhiều thế hệ.Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ
công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo,với một tầng
lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất,
có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó.Sản phẩm làm ra
có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường”
1.1.2.Phân loại nghề và làng nghề truyền thống
Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, phân bố
khắp nơi trong cả nước, được tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng. Có
nhiều cách phân loại nghề, tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:
* Phân loại theo trình độ kĩ thuật:
- Loại nghề có kĩ thuật đơn giản như: đan lát ở Kim Lũ, Xuân Thu huyện Sóc
Sơn,….chế biến lương thực thực phẩm ở Yên Viên huyện Gia Lâm, Mễ Trì
huyện Từ Liêm…sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng, phục
vụ nhu cầu hàng ngày của dân cư nông thôn.
- Loại nghề có kĩ thuật phức tạp như các nghề: nghề chế tác Bạc Định Công,
đúc đồng Ngũ Xã, gốm sứ Bát Tràng, chạm khảm ở Liên Hà, Vân Hà…Các
nghề này không chỉ có kỹ thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở người
thợ sự sáng tạo và khéo léo.
* Phân loại theo tính chất kinh tế:
- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên: chế biến
nông sản, sản xuất công cụ như : cày, bừa, liềm, hái…
- Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp.
- .Dựa vào giá trị sử dụng của các sản phẩm có thể phân loại các ngành nghề
truyền thống theo các nhóm chính như sau:
+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: Gốm sứ, chạm
khảm gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc….

cầu của đời sống kinh tế và văn hóa của người lao động. Đây là điều kiện tốt để
các làng nghề truyền thống phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, thiết lập quan
hệ bạn hàng mới.
b. Đặc điểm về lao động
Đặc điểm nổi bật trong các làng nghề truyền thống là sử dụng lao động thủ
công là chính. Trước đây khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hết
các công đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận, kể cả
những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất. Trong các làng nghề truyền thống
vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản
xuất và sáng tạo ra sản phẩm. Chính các nghệ nhân là những người dạy nghề,
truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong gia đình hoặc dòng họ. Tuy nhiên,
từ sau hòa bình lập lại tình hình đã thay đổi. Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp
được đẩy mạnh vào những năm 60 của thế kỉ trước, nhiều cơ sở quốc doanh, tập
thể làm các nghề tiểu, thủ công nghiệp truyền thống được thành lập và phát triển.
Cũng từ giai đoạn này phương thức dạy nghề và truyền nghề đã có nhiều thay đổi
và ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều hình thức đào tạo từ hộ gia đình, tư
nhân, địa phương (huyện, xã) và nhà nước. Phương thức này cho đến nay vẫn
được xem là phương thức dạy nghề chủ yếu và có hiệu quả trong các làng nghề
truyền thống.
c. Đặc điểm thị trường
Thị trường là một yếu tố rất quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định tới sự tồn
tại và phát triển đối với mỗi làng nghề.
- Thị trường cung ứng nguyên, vật liệu: Thị trường nguyên vật liệu trước đây
chủ yếu là thị trường mua bán tại chỗ, nhất là đối với nguyên liệu phục vụ cho
nghề chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất sản phẩm tiêu dùng như đan
lát. Sau một thời gian nguồn nguyên, vật liệu này cũng cạn dần đi, do đó phải
được bổ sung bằng các nguồn ở nơi khác. Vì vậy khi sản xuất phát triển thì
cũng đồng thời xuất hiện những tổ chức và cá nhân chuyên khai thác hay làm
dịch vụ cung cấp nguyên, vật liệu cho các hộ và các cơ sở chuyên làm nghề.
Do vậy sau này đã hình thành một thị trường nguyên, vật liệu rộng lớn hơn,

nước chấp nhận và đã vươn tới nhiều vùng của đất nước.
Đối với thị trường nước ngoài thì từ lâu các sản phẩm truyền thống đã
thực sự hấp dẫn đối với nhiều khách hàng. Tuy nhiên sự đòi hỏi khắt khe của thị
truờng nước ngoài về chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã vẫn phải thể
hiện sắc thái riêng của có của văn hóa Việt Nam trong từng thời sản phẩm cũng
là một khó khăn cho sản xuất của các làng nghề.
- Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: Trong lịch sử phát triển
làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh truyền thống
phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình. Ngày nay bên cạnh hình thức này, một
số hình thức khác được ra đời và phát triển
- Hộ gia đình: là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong các làng nghề
truyền thống. Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế, vừa là
một đơn vị sinh hoạt.
- Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số hộ gia đình
với nhau để cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó. Hợp tác là phương
thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế, là cơ sở tạo ra sức sản
xuất xã hội của lao động. Sự hợp tác kinh tế này đã tạo ra sự tương hỗ lẫn nhau
trong việc thực hiện các khâu của quá trình sản xuất.
- Hợp tác xã: Hợp tác xã kiểu mới ra đời trên cơ sở hợp tác các chủ thể
kinh tế tự chủ. Luật Hợp tác xã ra đời đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý rất cơ bản
cho sự vận động và phát triển của hợp tác xã trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần. Hình thức tổ
chức này được phát triển từ một số tổ chức sản xuất hoặc một số hộ gia đình có
tiềm lực kinh tế khá, có trình độ tổ chức và có khả năng tiếp cận thị trường. Ở
một số làng nghề truyền thống, hình thức này tuy không chiếm tỷ trọng lớn về số
lượng lao động nhưng lại đóng vai trò là trung tâm liên kết mà các hộ gia đình là
các vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng, giải quyết đầu ra, đầu vào cho các
hộ gia đình…
Trên đây là một số hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cơ bản đã, đang
hình thành và phát triển ở các làng nghề truyền thống. Những hình thức này cùng

cho khu vực nông nghiệp và còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ
ngành nông nghiệp.
Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá
trình liên tục đòi hỏi một sự thường xuyên dịch vụ cung ứng vật liệu và tiêu thụ
sản phẩm. Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa
dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động.
Sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH. Sự
phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô địa bàn sản
xuất, thu hút nhiều lao động. Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt
60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp.
1.2.2. Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Theo điều tra , bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng nghề tạo
việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ, mỗi
hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời
vụ. Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương
mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác. Chẳng hạn, làng
nghề Gốm sứ Bát Tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động
của xã, còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5500-6000 lao động của các
vùng lân cận đến làm thuê.
Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã phát triển và hình
thành nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm
nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Mặt khác, việc phát triển các ngành
nghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục
được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lý lực lượng
lao động nông thôn. Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu đô la mỗi năm.
Trên phương diện xã hội xuất khẩu hàng thủ công truyền thống là nhân tố quan
trọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động
thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi. Nếu so sánh thu nhập của lao động ngành

cao trong việc sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực ở nông thôn như đất đai,
vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, thị truờng. Vì vậy một nền kinh tế
hàng hoá với sự đa dạng của các loại sản phẩm được hình thành và phát triển. Ở
những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm giao lưu
buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá. Những trung tâm này ngày càng được
mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn. Hơn nữa, sự tích
luỹ của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt. Nông thôn
đổi thay và từng bước được đô thị hoá qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ. Vì
vậy dễ nhận thấy rằng ở một số làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phố
chợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ. Xu huớng đô thị hoá nông thôn là xu
hướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển về kinh tế-xã hội ở nông thôn, là
yêu cầu khách quan trong phát triển làng nghề ở ngoại thành Hà Nội.
1.2.5. Bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc
Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển
văn hoá của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hoá ấy, đồng thời là
sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc.Các làng nghề phát triển sẽ bảo
tồn, duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị văn hoá của dân tộc.
Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản văn
hoá quý báu mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ
sau.Cho đến nay, nhiều sản phẩm làng nghề là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo,
độc đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật còn được lưu giữ, trưng bày tại nhiều
viện bảo tang nước ngoài.
1.3.Nhân tố ảnh hưởng đến ĐTPT làng nghề tại Hà Nội
1.3.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Hà Nội
Hà Nội nằm trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp 5 tỉnh: Thái
Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh phúc, Hà Tây, Hưng Yên. Đây là điều kiện thuận lợi
cho việc phối hợp, phát triển làng nghề của Hà Nội. Thành phố gồm 9 quận Nội
thành ( Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh
Xuân, Hoàng Mai,Long Biên) và 5 huyện ngoại thành ( Sóc Sơn, Đông Anh, Gia

sông Tô, trải qua thành Vạn Xuân ( thời Tiền lý), thành Tống Bình- Đại La (thời
Tuỳ, Đường). Đầu thế kỷ 11, Thăng Long đã trở thành một vung dân cư tập trung
và cơ sở ban đầu của thành thị Hà Nội. Bên ngoài cấm thành là khu dân cư gồm
những làng xóm nông nghiệp, những phố phường thủ công thương nghiệp và
những bến chợ tấp nập, đông vui.
Do nhu cầu của xã hội, do vị trí làm ăn buôn bán thuận tiện, thợ thủ công
và thương nhân các nơi đổ về Thăng Long, phường thủ công và phố xá xuất hiện
đông đúc. Thăng Long đến thời Hậu Lê rút lại cò 36 phường. Con số 36 phố
phường Hà Nội bắt đầu từ đây. Thực ra, phường lúc này vừa là một đơn vị hành
chính cơ sở (như xã) vừa là tập hợp những người cùng hành nghề. Có thể thấy rõ
sự hình thành và phát triển các làng nghề, phố nghề đã thể hiện trình độ phân
công lao động xã hội, thủ công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp. Xét đến cùng
thì về hình thái kinh tế làng nghề ở Việt Nam nói chung và Thăng Long nói riêng
vẫn là làng nông nghiệp-thủ công-thương nghiệp.
b. Làng nghề,phố nghề Hà Nội phong phú và đa dạng
Chỉ nói riêng về nghề thủ công, sự xuất hiện và diễn tiến của phường phố
thủ công kiêm thương nghiệp ở nội đô với các làng nghề ven đô và ngoại thành
có những quy luật khác nhau. Phường phố thường diễn tiến theo quy luật hội tụ
và kết tinh tài hoa tứ xứ. Những thợ thủ công tài hoa của các nơi giỏi một nghề
nào đó và mang nghề đó từ quê hương lên kinh thành làm ăn, đua tài, ở đây diễn
ra sự cạnh tranh rất gay gắt.
Còn làng nghề ven đô và ngoại thành thì thường diễn tiến tự sinh và là một
yếu tố nội sinh. Kết cấu dân cư chủ yếu là dân sở tại, nhưng nghề nghiệp có thể
phát triển hay chuyên sâu, lại phải do sự kích thích của nội đô. Người thợ tìm
thấy ở nội đô một nơi tiêu thụ lí tưởng. Xung quanh Thăng Long-Đông Kinh
mọc dần các làng nghề chuyên doanh đặc sản: Làng rau kẻ Láng, làng hoa Ngọc
Hà, Quất Nghi Tàm, đào Nhật Tân…
Chúng ta biết do có sự giao lưu chính trị, kinh tế và văn hoá nên đã xuất
hiện một số nghề mới học được của nước ngoài. Thí dụ thế kỷ 17, Vũ Uy đi sứ
Trung Hoa học được nghề thao về dạy cho dân làng Triều Khúc, cũng như Lê

Đơn vị tính:%
Chỉ tiêu 1992-2002 2003 2004 2005
GDP 11,6 10,03 10,3 11,1
CN-XD 13,8 9,23 13,44 18,06
Nông-lâm 4,5 1,16 2,56 2,23
Dịch vụ 11,0 11,07 9,84 7,38
(Nguồn:Quy hoạch pt KT-XH HN thời kì 2001-2010 và niên giám thống kê HN)
a. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của Thành phố trong những năm gần đây chuyển dịch theo
hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp, theo hướng giảm dần tỷ trọng nông
nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiêp.Năm 2000, thuơng mại-
dịch vụ chiếm tỷ trọng 58,3%, tiếp theo là công nghiệp với tỷ trọng 37,9%, lĩnh
vực nông nghiệp chiếm 3,8%.Năm 2001 CN chiếm 36,8%, NN chiếm 2,7%, DV
chiếm 60,5%.Năm 2003 CN chiếm 42,06%, NN chiếm 2,26%, DV chiếm
55,68%.
Bảng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Đơn vị tính:%
Năm
Lĩnh vực
1991 1995 2002 2003 2004 2005
Công
nghiệp
25,9 33,1 37,9 36,8 38,82 42,06
Nông
nghiệp
8,1 5,4 3,8 2,7 2,48 2,26
Dịch vụ 66 61,5 58,3 60,5 58,7 55,68
(Nguồn:Quy hoạch pt KT-XH HN thời kì 2001-2010 và niên giám thống kê HN)
Trong cơ cấu GDP của Thành phố năm 2002, kinh tế Nhà Nước Trung ương
đóng vai trò chủ đạo( chiếm 53%), kinh tế nhà nước địa phương chiếm 7,7%,

mất đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với những làng xã có nghề
truyền thống.
1.3.4.Nguồn nhân lực-yếu tố quan trọng phát triển nghề và làng nghề
a. Quy mô dân số, nguồn nhân lực
Hiện nay, dân số Hà Nội có khoảng 2,8726 triệu người,( trong đó thành thị có
1,659 triệu người chiếm 57,8%, nông thôn 1,213 triệu người chiếm
42,2%).Tốc độ phát triển dân số Hà Nội tăng nhanh, bình quân hàng năm thời
kỳ 1991-2000 tăng 2,9%. Tốc độ tăng cơ học ngày càng cao.Đây cũng là tiềm
năng lớn và có ảnh hưởng tới phát triển nghề và làng nghề ở Thủ đô trong
những năm tới.
b.Trình độ văn hóa,chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động Hà Nội
-Trình độ văn hóa
Tỷ lệ biết chữ của dân số Hà Nội là 99,6%, số người chưa biết chữ trong
độ tuổi lao động có khoảng 4360 người tập trung chủ yếu ở khu vực nông
thôn ngoại thành
Hà Nội là địa phương đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đầu tiên trong cả
nước.Trình độ văn hóa của người lao động cao,có 85,96% số người tốt nghiệp
trung học cơ sở trở lên.Đây là một yếu tố thuận lợi cho việc đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề
Hà Nội nói riêng.
- Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động Hà Nội.
Số người được đào tạo có bằng từ sơ cấp trở lên chiếm trên 32%, trong khi đó
cả nước có 13,3%.Số lao động có chứng chỉ ngoại ngữ chiếm 9,66%.
Lao động có trình độ công nhân kỹ thuật có bằng chiếm 10,1% trong đó
thành thị chiếm 12,5% và nông thôn chiếm 6,4%
Lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng chiếm 11,1%( chủ yếu làm trong
các cơ quan quản lý nhà nước), trong đó ở thành thị là 17,1% và nông thôn là
2,1%.Qua số liệu cho thấy: Lao động có trình độ, chuyên môn kỹ thuật chủ
yếu tập trung ở thành thị, ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ nhỏ.
Trình độ lao động chuyên môn kỹ thuật của nguồn lao động Hà Nội là cao

xuất khẩu tại chỗ sản phẩm làng nghề thủ công,nhất là hàng thủ công mỹ nghệ
và chế biến lương thực, thực phẩm.
*Tiềm năng về thị trường thế giới
Trong thời kỳ tới, nhu cầu thị trường thế giới về các sản phẩm của các làng
nghề, nhất là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ , sẽ tiếp tục tăng nhanh bởi các
lý do, xu hướng sau:
-Một số lượng lớn người tiêu dùng, khách hàng ở các nước Châu Âu, Bắc Mỹ,
Nhật Bản và các nước công nghiệp mới Châu Á đang hướng đến những sản
phẩm mang tính dân tộc, tính nghệ thuật cổ truyền dân gian,sản phẩm sản xuất
thủ công.
-Dưới tác động của những tiến bộ kỹ thuật, trên thế giới và nhất là ở các nước
công nghiệp phát triển đang diễn ra một sự biến đổi có tính chất cách mạng về
thiết kế và thị hiếu mới của người tiêu dùng
-Mục tiêu các thị trường xuất khẩu hàng đầu của các làng nghề là châu Âu
( 24,3%), Hàn Quốc và Đài Loan( 19,8%), Nhật Bản ( 17,4%), Mỹ( 7,7%)…
Thị trường Mỹ hiện tại tuy mới chiếm tỷ trọng nhỏ( 2,4%) kim ngạch xuất
khẩu sản phẩm làng nghề thủ công Việt Nam, nhưng đây là thị trường có nhu
cầu rất lớn về hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đặc biệt là hàng gốm sứ
với nhu cầu được dự báo tăng 10-15%/năm.Thị trường EU có nhu cầu lớn về
các sản phẩm gỗ,gốm sứ mỹ nghệ, mây tre đan…
*Một số nhân tố có tác động đến thị trường sản phẩm các làng nghề
Tuy Hà Nội có nhiều tiềm năng và yếu tố thuận lợi để phát triển nhưng các
làng nghề cũng đang gặp phải những khó khăn sau:
Thứ nhất: sản phẩm của các làng nghề thường gặp khó khăn trong tiêu thụ và
giá bán thấp vì sản phẩm luôn chịu sức ép cạnh tranh gay gắt đối với sản
phẩm cùng loại của ngành công nghiệp thành thị và hàng ngoại nhập
Thứ hai: Thị trường trong nước có tiềm năng nhưng 80% dân số có mức thu
nhập thấp và sức mua thấp; hàng nhập ngoại tràn lan trong bối cảnh mở cửa
thị trường, tự do hoá thương mại; thị trường xuất khẩu lại bị bó hẹp bởi một
số doanh nghiệp lớn.Các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh ở các làng nghề

cả nước nói chung và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói riêng.
Cụ thể bao gồm một số nội dung chủ yếu sau đây:
- Nâng GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000.Nâng cao rõ rệt sức
cạnh tranh và hiệu quả của sản phẩm,doanh nghiệp và nền kinh tế.Tích luỹ
nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP.Nhịp độ tăng xuất khẩu đạt trên 2 lần
so với tốc độ tăng GDP; giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%.
- Nâng lên đáng kể chỉ số HDI; giảm tốc độ tăng dân số xuống còn 1,1%,
giải quyết việc làm ở thành thị và nông thôn;nâng tỷ lệ lao động qua đào
tạo nghề lên 40%;giảm tỷ lệ thất nghiệp đô thị xuống còn 5%.
- Phát triển khoa học công nghệ đủ khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại
tiếp cận trình độ thế giới và tự phát triển thêm một số lĩnh vực như công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự
động hoá.
- Kết cấu hạ tầng được phát triển đi trước một bước đáp ứng tốt yêu cầu phát
triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng với nhiều thành phần
kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo,
kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc.
- Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chiến lược và quy
hoạch, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương
pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức
sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục các mặt tiêu cực của
cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.
- Thủ đô Hà Nội- trung tâm đầu não về chính trị, trung tâm lớn về kinh tế văn
hoá và khoa học kỹ thuật-trái tim của cả nước là nơi rất nhạy cảm, chắc chắn
hơn đâu hết chịu những tác động to lớn, đồng thời có những đóng góp tích cực
vào tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
-Xu thế phát triển kinh tế-xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được thể
hiện trong quy hoạch vùng trọng điểm kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong đó Hà

đường đối thoại, tạo lợi thế cho từng quốc gia trong hợp tác và cạnh tranh trên
thị trường quốc tế.Khu vực hoá là bước đi cần thiết cho mỗi quốc gia tiến tới
tòan cầu hóa, đồng thời nó cũng giúp họ ứng phó với những bất lợi của xu thế
tòan cầu hóa và với sự chi phối của các siêu cường: Châu Á với hiệp hội các
nước đông Nam Á, châu Mỹ với khối mậu dịch tự do, châu Âu với khối liên
minh đang được hoàn thiện và ngày càng bền vững.
Xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa của các nước đang phát triển thường
gắn với “ hội nhập quốc tế”. Quốc tế hóa sẽ đem lại những cơ hội mới cho
việc mở rộng thị trường, truyền bá công nghệ và kỹ năng quản lý, những yếu
tố này sẽ hứa hẹn những năng suất lớn hơn và mức sống cao hơn.Tuy vậy,
song hành với những cơ hội của quốc tế hóa là những thách thức vô cùng khó
khăn.Đó là khả năng mất việc làm trước sự cạnh tranh của hàng nhập
khẩu;các ngân hàng và hệ thống tài chính, thậm chí cả toàn bộ nền kinh tế có
thể bị chèn ép và lâm vào hoàn cảnh suy thoái vì các luồng vốn nước ngoài
tràn vào khống chế chúng….Trong bối cảnh quốc tế hóa “ các nuớc đang phát
triển đang phải chịu rủi ro ghê gớm khi bị tự do hóa nền kinh tế của mình quá
nhanh hoặc phải tham gia” quốc tế hóa” một cách thiếu cân nhắc và thiếu suy
xét”
Sự hợp tác kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới đã đặt ra vấn đề phải giao
lưu văn hóa, hợp tác khoa học kỹ thuật trên cơ sở ổn định chính trị.Sự kết hợp
chặt chẽ ba nội dung và hỗ trợ lẫn nhau đã trở thành chất xúc tác tạo nên mối
quan hệ quốc tế đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Thế giới đang
tiến tới nền kinh tế mới- nền kinh tế dựa vào tri thức.Đây thực sự là thách thức
đối với nền khoa học và công nghệ ở nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Đánh giá thực trạng ĐTPT làng nghề truyền thống của Hà Nội
những năm gần đây
2.1. Quy mô
Hiện tại các nghề đã và đang phát triển với quy mô khác nhau, số lượng đa dạng
phong phú.Có thể liệt kê ra một số nghề đặc trưng sau đây:

2 Kiêu Kỵ Dát quỳ, vàng bạc TT B
May da TT(x) A
3 Yên Viên Chế biến lương
thực
TT(x) B
4 Công Đình, Đình
Xuyên
Diêm hộp TT(x) A
Bóc gỗ ván ép M(x) C
Tái chếdược liệu M(x) C
5 Kim Lan Gốm sứ TT(x) C
6 Đa Tốn Gốm sứ M(x) C
7 Bát Tràng Gốm sứ TT(x) A
2.Từ Liêm
8 Trung Văn Dây thừng nhựa TT(x) B
9 Xuân Đỉnh Bánh kẹo TT(x) B
10 Phú Thứ, Tây Mỗ Gò hàn tôn TT(x) A
11 Xuân Phương Rèn TT(x) B
Gò tôn, hàn điện M D
12 Cổ nhuế May TT(x) D
13 Mễ Trì Bún, bánh cốm TT(x) D
14 Băng Giang, Đông
Ngạc
Băng giang TT B
15 Ngọc Trục, Đại Mỗ Đan phên TT(x) B
16 Đại Cát, Liên Mạc Đậu phụ TT(x) B
3.Thanh Trì
17 Hữu Hòa Miến dong, bánh
đa
TT(x) B

B: làng nghề truyền thống đang gặp khó khăn trong phát triển
C: Các làng nghề mới là hệ quả tích cực từ các làng nghề truyền thống lân cận và khả năng phát
triển
D: làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm cao
*Các làng nghề truyền thống có khả năng phát triển mạnh:
Các làng nghề thuộc nhóm này là các làng nghề đã có lịch sử nghề hàng trăm
năm, đa số là các làng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ trải qua nhiều thăng trầm
thời cuộc nhưng vẫn duy trì và phát triển đuợc sản xuất tương đối thuận lợi.Trong
các sản phẩm nghề vẫn duy trì đc các nét đặc trưng truyền thống
+ Nhóm nghề gốm sứ:Làng nghề gốm Bát Tràng là làng nghề truyền thống với
hơn 600 năm hình thành và phát triển, đã trải qua nhiều thăng trầm và đến nay
vẫn phát triển mạnh mẽ.Sản phẩm của làng rất có uy tín không những tại Hà Nội
mà khắp cả nuớc, và bước đầu có uy tín trên một số nước khu vực và Châu
Á.Hiện nay 100% dân cư trong làng đều tham gia sản xuất gốm sứ với nhiều
thành phần kinh tế với nhiều thành phần kinh tế như: hộ sản xuất, doanh nghiệp
tưnhân, công ty TNHH.Những sản phẩm chính của làng Bát Tràng là sản phẩm
mang tính văn hoá cao, nhưng số lượng sản xuất lại chưa nhiều, không có những
sản phẩm tiêu dùng mang tính đại trà và hiện nay giá thành của các sản phẩm lại
tương đối cao
+ Nhóm nghề gỗ: đó là hai làng nghề nổi tiếng của huyện Đông Anh là Vân Hà
và Liên Hà với nghề truyền thống là sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ , nay có thêm nghề
mới là gỗ phun sơn.Sản phẩm của làng có uytín và có thị truờng trong nước, thậm
chí đã xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.Làng nghề có nhiều thợ có tay nghề
cao và tỷ lệ số thợ trong làng nghề ngày một nhiều với sản phẩm ngày một nhiều
với sản phẩm ngày càng phong phú, đa dạng và chất lượng cao.Tuy nhiên việc
xúc tiến thương mại, chủ động trong các giao mua bán sản phẩm của làng còn
yếu.
+ Nhóm sản xuất dược liệu: Làng dược liệu Ninh Hiệp( Gia Lâm) với loại hình
sản phẩm đặc thù là chế biến dược liệu, làng nghề Ninh Hiệp đã tồn tại và phát
triển mạnh qua nhiều thời kỳ.Hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm dược liệu rất

khả năng phát triển
+Làng nghề gốm sứ Đa Tốn,Kim Lan( Gia Lâm): hai làng liền kề với làng nghề
truyền thống Bát Tràng.Hiện naynghề sản xuất gốm sứ đang phát triển mạnh tại 2
làng và đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao
+Làng nghề Dục Tú( Đông Anh): là địa phương liền kề với nhiều làng nghề
truyền thống như làng nghề gỗ Liên Hà, Vân Hà, làng nghề sắt thép Đa Hội( Từ
Sơn Bắc Ninh), hiện nay hai nghề Gỗ và sắt thép đã hình thành và đang phát triển
tại làng nghề Dục Tú
+Phố nghề may khu vực Sài Đồng( Gia Lâm): Ra đời trong cơ chế thị trường,
ban đầu ở quy mô các hộ gia đình vốn là công nhân nhà máy may 10, sau phát
triển mạnh với quy mô lớn và trở thành khu vực có nghề may thủ công nghiệp.
*Một số làng nghề, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường:
+Làng nghề rèn Xuân Phương( Từ Liêm): do đặc điểm sản xuất xen lẫn khu dân
cư nên vấn đề môi trường tiếng ồn đang đặt ra cần được giải quyết sớm với làng
nghề này.Hiện nay tốc độ đô thị hóa nhanh, mặt bằng sản xuất của làng nghềbị

Trích đoạn Xu hướng vận động của làng nghề truyền thống HN Các ngành nghề thủ công mỹ nghệ phát triển vừa nâng cao đời sống nhân dân vừa đóng góp vào ngân sách địa phương, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ Một số bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển. Định hướng phát triển làng nghề và làng nghề Hà Nộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status