BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
*** NGUYỄN THỊ BÍCH DIỆP DỊCH VỤ CẢNG BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CẢNG BIỂN
Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ TIẾN HÀ NỘI 6-2005
2.2.2 Tình hình thị trường dịch vụ cảng biển hiện nay 39 2.3 Những vấn đề rút ra qua các hoạt động kinh doanh dịch vụ ở cảng
Việt Nam 57
2.3.1. Những ưu điểm 57
2.3.2. Những hạn chế 58
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ CẢNG
BIỂN Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KTQT 61
3.1 Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong hoạt động kinh doanh dịch
vụ cảng biển 61
3.1.1 Tính tất yếu của quá trình hội nhập 61
3.1.2 Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở
Việt Nam 63
3.2 Định hướng của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế-xã hội
nói chung và kinh doanh dịch vụ cảng biển nói riêng 63
3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ cảng biển ở Việt
Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT 65
3.3.1 Các giải pháp về phía Nhà nước 65
3.3.2 Các giải pháp về phía Hiệp hội 76
3.3.3 Các giải pháp về phía doanh nghiệp 78
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với ưu điểm nằm gần trục đường hàng hải quốc tế, vận tải đường biển đóng
vai trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá ngoại thương của Việt Nam.
Một trong những yêu cầu bắt buộc là phải dần dần xoá bỏ độc quyền, nâng cao chất
lượng hàng hoá dịch vụ, nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại
phù hợp với thông lệ quốc tế. Như vậy, nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển cũng
là một nhiệm vụ cần phải sớm thực hiện. Dịch vụ ở cảng được cải thiện sẽ thu hút
nhiều tàu vào làm hàng và như vậy cảng lại có điều kiện để cung cấp và mở rộng
các dịch vụ của mình.
Xuất phát từ ý nghĩa của dịch vụ cảng biển nên việc nghiên cứu các dịch vụ
và phát triển dịch vụ cảng biển ở Việt Nam vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa mang
tính thực tiễn cao. Chính vì vậy tôi chọn “Dịch vụ cảng biển và phát triển dịch vụ
cảng biển ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT” làm đề tài luận văn
thạc sỹ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có một vài đề tài nghiên cứu về
cảng biển và dịch vụ cảng biển, như đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp tăng năng
lực cạnh tranh của ngành Hàng hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”
của PGS.TS Đinh Ngọc Viện – Tổng Công ty Hàng hải Việt nam làm chủ nhiệm đề
tài. Có thể nói, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cụ thể và mang tính hệ
thống cả về mặt lý luận và thực tiễn các dịch vụ cảng biển và đưa ra được những
giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ đó trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Do vậy, mặc dù có những mối liên hệ mật thiết trong cách tiếp cận vấn đề với
những nghiên cứu đã có nhưng về mặt nội dung, đối tượng nghiên cứu không trùng
với bất kỳ một luận văn thạc sỹ nào đã được công bố.
3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá lý luận về cảng biển và các dịch vụ cảng biển, đưa ra ví dụ
điển hình về mô hình cảng biển có các dịch vụ phát triển của một số nước trên thế
giới. Trên cơ sở đó tìm ra giải pháp nhằm phát triển dịch vụ cảng biển ở Việt Nam
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn đưa ra được
- Lý luận về cảng biển và dịch vụ cảng biển.
- Thực trạng dịch vụ cảng biển ở Việt Nam.
(%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Tỷ lệ % tăng so
với năm 2000
Số lượng
Cơ cấu (%)
Tỷ lệ % tăng
so với năm
2000
Tỷ lệ %
tăng so với
năm 2002
DNNN
105
75.00
212
56.84
101.90
178
51.74
69.52
-16.04
Công ty
TNHH
26
18.57
118
31.64
353.85
6
1.61
-
2
0.58
-
-66.67
Cộng
140
100.00
373
100.00
166.43
344
100.00
145.71
-7.77
Nguồn: Cục Hàng hải Việt nam - năm 2004
(DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước; TNHH: Trách nhiệm hữu hạn; DNTN: Doanh nghiệp tư nhân)
41
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: Công nghệ và thiết bị cảng Hải Phòng
Bảng 1.2: Năng lực tiếp nhận tàu của cảng Hải Phòng
Bảng 1.3: Định mức xếp dỡ hàng hoá cảng Hải Phòng
Bảng 1.4: Dịch vụ vận tải biển theo phân loại của WTO
Bảng 1.5: Danh sách 10 cảng Container lớn nhất thế giới
CFS
Container Freight Station
Trạm đóng gói hàng lẻ
CHXHCN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CY
Container Yard
Bãi container
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
DWT
Deadweight Tonnage
Trọng tải toàn phần
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
GATS
General Agreement on
Trade Related Services
Hiệp định chung về Thương mại
Dịch vụ
GATT
General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về thuế quan và
World Econmic Forum
Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
2. Ký hiệu []: Tham khảo theo thứ tự tài liệu trong Danh mục tài liệu tham khảo 1
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CẢNG BIỂN VÀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN
1.1 Khái quát chung về cảng biển
Vận tải biển (hàng hải) là một bộ phận của ngành sản xuất vận tải. Mặc dù
có những đặc trưng khác biệt với các phương thức vận tải khác nhưng nó không thể
không gắn liền một cách thống nhất với các phương thức đó. Vận tải biển đóng vai
trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá ngoại thương. Năm 1997 khối lượng
hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tăng 4,1% so với năm 1996 và đạt 4.953
triệu tấn, trong khi đó khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng 3,6% đạt 21.413 tỷ
tấn/hải lý. Đóng góp vào sự tăng trưởng đó là vai trò không nhỏ của cảng biển.
1.1.1 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của cảng biển
1.1.1.1 Khái niệm cảng biển
Theo Điều 57 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam (năm 1990) thì cảng biển là cảng
được mở ra để tàu biển ra, vào hoạt động.
Theo định nghĩa của Quy chế Giơnevơ ngày 9/12/1923 thì “Những cảng
thường thường có tàu biển ra vào và dùng cho ngoại thương được gọi là cảng biển”.
Như vậy, chỉ những cảng nào có tàu biển ra vào thường thường và dùng cho buôn
bảo quản, lưu kho tái chế, đóng gói, phân phối hàng hoá xuất nhập khẩu. Cảng còn
là nơi tiến hành các thủ tục XNK, là nơi bắt đầu, tiếp tục hoặc kết thúc quá trình vận
tải…
*) Cảng biển Việt nam có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển của cảng biển trong phạm vi trách
nhiệm.
- Phối hợp hoạt động của các tổ chức, cơ quan thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước chuyên ngành tại cảng biển.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo an
toàn cảng và luồng ra vào cảng.
- Phối hợp với các cơ quan thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hoặc
xử lý sự cố ô nhiễm môi trường.
- Cấp giấy phép cho tàu ra vào cảng và thực hiện các yêu cầu về bắt giữ, tạm
giữ hàng hải.
- Yêu cầu các cá nhân, cơ quan hữu quan cung cấp các thông tin, tài liệu để
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của cảng…
1.1.2 Phân loại cảng biển
1.1.2.1 Theo công dụng, cảng biển có thể phân chia thành các loại sau:
- Cảng quân sự 3
- Cảng dân sự: Cảng giao thông, cảng thương nghiệp, cảng chuyên dụng
(cảng cá, cảng vui chơi, cảng khách du lịch, cảng hàng lỏng, cảng hàng rời, cảng
container…)
- Cảng trú ẩn
- Cảng cấp nhiên liệu
1.1.2.2 Theo ý nghĩa kinh tế giao thông, có các loại cảng sau:
- Cảng quốc tế
- Cảng trong nước
bơm hút hàng rời, hàng lỏng; băng chuyền; toa xe tự đổ; ô tô; đầu máy kéo;
Chassis; Container; Pallet…
Bảng 1.1: Công nghệ và thiết bị cảng Hải Phòng
Cần trục bờ chạy trên ray
Sức nâng từ 5 đến 40 tấn
Xếp dỡ nâng hàng
Sức nâng từ 3,5 đến 45 tấn
Xe cẩu di động
Sức nâng 50 tấn
Cần cẩu nổi
Sức nâng từ 10 và 80 tấn
Cần cẩu dàn xếp dỡ Container tại cầu
tàu
Sức nâng 40 tấn, năng suất 25 Container
/giờ
Cân điện tử
80 tấn
Tàu hỗ trợ lai dắt
Công suất từ 510 đến 3.200cv
Dây chuyền tự động đóng bao hàng rời
Công suất 4.000 tấn / ngày
Nguồn:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ bảo quản, lưu kho hàng hoá gồm: Hệ thống
kho (kho có mái che cho hàng bách hoá tổng hợp, kho lạnh cho các loại hàng yêu
cầu bảo quản ở nhiệt độ thấp, silô cho hàng hạt), bãi, kho ngoại quan, bể chứa dầu,
bãi Container (CY), trạm đóng gói hàng lẻ (CFS)…
- Trang thiết bị phục vụ việc điều hành, quản lý tàu bè và công tác hành
chính của cảng: các công trình nhà làm việc và sinh hoạt, mạng lưới hệ thống giao
thông nội bộ, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, phòng chống cháy nổ…
- Ngoài ra, trong cảng còn có xưởng sửa chữa thiết bị máy móc và bộ phận
), vòng quay hàng hoá của kho bãi cảng, sức chứa của CY, CFS … phản
ánh mức độ quy mô của cảng. 6
Bảng 1.2: Năng lực tiếp nhận tàu của cảng Hải Phòng
Tổng số 11 cầu với tổng chiều dài 1.705m
Khu vực cảng chính
Bốc xếp đồng thời được 11 tàu với năng lực thông qua 6 triệu
tấn / năm
Bến Container
Tổng số 4 cầu với tổng chiều dài 500m
Chùa Vẽ
Bốc xếp đồng thời được 4 tàu với năng lực thông qua 7.500
tấn/tuần
Có 3 phao
Bến nổi Bạch Đằng
Bốc xếp đồng thời được 3 tàu với năng lực thông qua 500.000
tấn / năm
Khu vực Hạ Long
- Hòn Gai
Có 7 vị trí neo
Bốc xếp đồng thời được 7 tàu với năng lực thông qua 1 triệu
tấn / năm.
Nguồn:
1.1.4 Hệ thống cảng biển Việt Nam
Việt Nam nằm dọc gần một phần ba chiều dài của biển Đông, nằm ở giữa
khu vực Đông Nam Á (ASEAN) quanh năm có ánh nắng mặt trời, nằm ở giữa các
), hàng năm có thể xếp dỡ 5 - 5,5 triệu tấn hàng
hoá. Tuy nhiên, cảng có luồng sa bồi rất lớn nên chỉ tiếp nhận được tàu 6.000-7.000
DWT. Hiện tại, theo kế hoạch của Bộ GTVT, cảng Hải Phòng đang triển khai dự án
nâng cấp giai đoạn 2 mở một luồng tàu mới qua đảo Hà Nam ra cửa Lạch Huyện
với độ sâu –5,5m đến –7,5m vào giữa năm 2005 và xây dựng thêm một số bến xếp
dỡ hàng Container, hàng chuyên dụng cho tàu 10.000 DWT, đưa năng lực thông
qua của cảng tăng hơn mức hiện tại. Bảng 1.3: Định mức xếp dỡ hàng hoá cảng Hải Phòng
(Theo Quyết định số 236/TGĐ ngày 10/12/2002 của Tổng Giám đốc Cảng) Loại tàu có
GRT < 5.000T
Loại tàu có GRT >5.000 và
<13.000T
Loại tàu có
GRT > 13.000T
TT
Nhóm hàng
Hàng
nhập
Hàng
xuất
Hàng nhập
Hàng xuất
Hàng nhập
1.
Hàng rời
2000
2000
3000
4000
3000
4000
5000
6000
3.
Sắt thép
2000-
1200
2500-
3000-
-
-
3000-
4000 2500
3000
3500 4000
4.
Hàng thùng
6.
Các loại xe
100
50
120-
-
100-
-
-
-
lăn bánh 500
500
(C/ngày/tàu
)
Tĩnh), Gianh (Quảng Bình), Thuận An (Thừa Thiên - Huế), Tiên Sa, Sông Hàn (Đà
Nẵng), Sa Kỳ (Quảng Ngãi), Nha Trang, Ba Ngòi, Hòn Khói, Đầm Mơn (Khánh
Hoà), Quy Nhơn, Thị Nại (Bình Định). Ở khu vực này sẽ xây dựng mới các cảng
Nghi Sơn (Thanh Hoá), Vũng Áng, Thạch Khê (Hà Tĩnh), Cửa Việt (Quảng Trị),
Liên Chiểu, Chân Mây (Đà Nẵng), Dung Quất (Quảng Ngãi), Vân Phong (Khánh
Hoà).
Cảng Tiên Sa - Đà Nẵng là cảng bốc xếp hàng hoá với 2 bến nhô được xây
dựng từ năm 1965, mỗi bến dài 186m, rộng từ 27,3 đến 29,3m và có độ sâu khu
nước –11m và một bến liền bờ dài 165m với độ sâu khu nước –12m. Dự án mở rộng 9
phần cảng và đê chắn sóng đã hoàn thành và đã được đưa vào khai thác nâng công
suất thiết kế lên trên 3 triệu tấn/năm.[5],[37]
1.1.4.3 Khu vực phía Nam (từ Đồng Nai đến cực Nam)
Khu vực này gồm các nhóm cảng sau:
- Nhóm cảng Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM): Khu vực này hiện có 20
cảng đang khai thác thuộc 15 đơn vị chủ quản, trong đó có 3 cảng lớn nhất là Sài
Gòn (Tổng Công ty Hàng Hải Việt nam), Tân Cảng (Công ty Tân Cảng Quân đội),
Bến Nghé (Tp. HCM) chiếm tới 90% khối lượng hàng hoá thông qua trên địa bàn
Tp. HCM. Ngoài ra, còn có các cảng như: cảng Xăng dầu Nhà Bè (Petechim,
B.P.Petro, EIF Gas), cảng Cát Lái, cảng Tân Thuận Đông, cảng Container quốc tế
(Lotus), VICT…
Cảng Sài Gòn do Pháp đầu tư xây dựng từ năm 1860 gồm 3 khu vực xếp dỡ:
Nhà Rồng, Khánh Hội, Tân Thuận. Hiện tại cảng có 15 cầu tàu với tổng chiều dài
2.670 mét, 15 bến phao, 27 kho với diện tích 75.000 m
2
và 222.569 m
2
bãi hàng.
1.2.1 Khái niệm dịch vụ cảng biển
Để hiểu rõ dịch vụ cảng biển, chúng ta sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu khái niệm
về dịch vụ nói chung.
1.2.1.1 Khái niệm dịch vụ
Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên
phạm vi toàn cầu. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp
của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn
nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Để thấy rõ hơn sự khó khăn trong
việc đưa ra khái niệm dịch vụ, chúng ta có thể thấy ngay cả trong Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade Related Services - GATS)
cũng chỉ đưa ra khái niệm dịch vụ bằng cách liệt kê dịch vụ thành 12 ngành chính
và 155 phân ngành khác nhau. Theo phân loại của GATS, các ngành dịch vụ chính
là: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ liên lạc, dịch vụ xây dựng và thi công, dịch vụ phân
phối, dịch vụ giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, các dịch vụ liên quan
đến sức khỏe và các dịch vụ xã hội, các dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch, các
dịch vụ giải trí và thể thao, các dịch vụ vận tải, các dịch vụ khác. [13]
Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam - Trung tâm biên soạn Từ
điển Bách khoa Việt Nam năm 1995, dịch vụ được định nghĩa như sau: Dịch vụ là
những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và
sinh hoạt. Tùy theo trường hợp, dịch vụ bao gồm: một công việc ít nhiều chuyên
môn hoá, việc sử dụng hẳn hay tạm thời một tài sản, việc sử dụng phối hợp một tài
sản lâu bền và sản phẩm của một công việc, cho vay vốn Sản xuất, kinh doanh và
dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ. Dịch vụ là một điều kiện để phát triển sản xuất, 11
kinh doanh. Sự phát triển dịch vụ hợp lý, có chất lượng cao là một biểu hiện của
nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh.
Do ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh vực
12
*) Theo WTO: Tại vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về Thương
mại Dịch vụ (General Agreement on Trade Related Services–GATS) đã được đưa
ra thương thảo lần đầu tiên. Hiệp định này đưa ra khái niệm về các lĩnh vực dịch vụ
bằng cách liệt kê các ngành, phân ngành, nhóm, phân nhóm. Danh sách phân loại
các ngành dịch vụ vận tải được WTO chính thức đưa ra vào ngày 10/7/1991 được
liệt kê trong Bảng 1.4.
Trong danh mục ở trang sau, ngoài vận tải hành khách và vận tải hàng hoá,
các dịch vụ còn lại đều được xem là dịch vụ cảng biển. Riêng đối với mục f, việc cụ
thể hoá các loại hình có trong dịch vụ này do các thành viên tự soạn thảo. Như vậy,
WTO không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ cảng biển mà chỉ xác định vị trí
dịch vụ cảng biển nằm trong nhóm dịch vụ vận tải biển, xem nó như một phần của
dịch vụ vận tải biển.
Bảng 1.4: Dịch vụ vận tải biển theo phân loại của WTO
Ngành
Số phân loại trung tâm (CPC)
……
II. Dịch vụ vận tải
A. Dịch vụ vận tải biển
a. Vận tải hành khách
7211
b. Vận tải hàng hoá
7212
c. Cho thuê tàu (có cả thuyền viên)
7213
sửa chữa và chuẩn bị Container sẵn sàng cho việc vận chuyển.
- Dịch vụ đại lý hàng hải: là dịch vụ làm đại lý đại diện cho quyền lợi thương
mại của một hay nhiều hãng tàu trong khu vực địa lý xác định nhằm các mục đích
sau:
+ Thay mặt hãng tàu thực hiện việc marketing và kinh doanh dịch vụ
vận tải và các dịch vụ liên quan từ việc báo giá đến việc lập hoá đơn, phát hành vận
đơn, nhận và kinh doanh lại các dịch vụ cần thiết, chuẩn bị chứng từ, cung cấp
thông tin thương mại.
+ Thay mặt hãng tàu thu hồi tàu và tiếp nhận hàng hoá khi có yêu cầu.
*) Theo Trung Quốc: Ngày 11/12/2001, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành
Nghị định 335 để điều chỉnh những quan hệ pháp lý liên quan tới các nghiệp vụ
kinh doanh vận tải biển quốc tế và các dịch vụ ở các cảng biển Trung Quốc, có hiệu
lực từ ngày 01/01/2002. Theo quy định tại Điều 2 của Nghị định này, dịch vụ cảng
biển bao gồm:
- Đại lý hàng hải quốc tế;
- Quản lý tàu;
- Xếp dỡ hàng hoá;
- Kinh doanh kho bãi phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu;
- Các dịch vụ giao nhận hàng lẻ;
- Các dịch vụ giao nhận ở bãi Container; 14
- Dịch vụ kinh doanh vận tải không tàu;
- Dịch vụ khác.
*) Khái niệm dịch vụ cảng biển của Việt Nam: Theo quy định tại Điều 1 của
Nghị định số 10/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/3/2001 về điều kiện
kinh doanh dịch vụ hàng hải thì dịch vụ hàng hải bao gồm 9 loại hình sau đây:
- Dịch vụ đại lý tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây theo sự
uỷ thác của chủ tàu:
+ Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hoá;
+ Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng cho thuê tàu, hợp đồng
mua bán tàu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê và cho thuê thuyền viên;
+ Làm trung gian trong việc ký kết các hợp đồng khác có liên quan
đến hoạt động hàng hải do người uỷ thác yêu cầu theo từng hợp đồng cụ thể.
- Dịch vụ cung ứng tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây có
liên quan đến tàu biển:
+ Cung cấp cho tàu biển lương thực, thực phẩm, nước ngọt, vật tư,
thiết bị, nhiên liệu, dầu nhờn, vật liệu chèn lót, ngăn cách hàng;
+ Cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu về đời sống, chăm sóc y tế,
vui chơi, giải trí của hành khách và thuyền viên, tổ chức đưa đón, xuất nhập cảnh,
chuyển đổi thuyền viên.
- Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá: là dịch vụ thực hiện kiểm đếm số lượng hàng
hoá thực tế khi giao nhận với tàu biển hoặc các phương tiện khác theo uỷ thác của
người giao hàng, người nhận hàng hoặc người vận chuyển.
- Dịch vụ lai dắt tàu biển: là dịch vụ thực hiện tác nghiệp lai, kéo, đẩy hoặc
hỗ trợ tàu biển và các phương tiện nổi khác trên biển hoặc tại vùng nước liên quan
đến cảng biển mà tàu biển được phép vào, ra hoạt động.
- Dịch vụ sửa chữa tàu biển tại cảng: là dịch vụ thực hiện các công việc sửa
chữa và bảo dưỡng tàu biển khi tàu đỗ tại cảng.
- Dịch vụ vệ sinh tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc thu gom và xử
lý rác thải, dầu thải, chất thải khác từ tàu biển khi tàu neo, đậu tại cảng.
- Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển: là dịch vụ thực hiện các công việc
bốc, dỡ hàng hoá tại cảng theo quy trình công nghệ bốc, dỡ từng loại hàng.
Bên cạnh những loại dịch vụ đã được nêu trên đây, hiện nay có một số dịch
vụ khác bước đầu đã xâm nhập vào Việt Nam, đó là:
- Dịch vụ trung chuyển Container quốc tế: Là dịch vụ trung chuyển
Container khi Container được dỡ từ tàu thủy đưa vào khu vực cảng trung chuyển
trong một thời gian nhất định và sau đó được bốc lên tàu thủy khác để vận chuyển
tới cảng khác.