BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VŨ THỊ XUÂN THƠ
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Quy
Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với sự phát triển nền
kinh tế quốc dân
10
1.2
Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính và những cam kết của Việt nam
12
1.2.1
Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính
12
1.2.1.1
Những quy định của GATS đối với thị trường dịch vụ tài
chính
12
1.2.1.2
Những quy định trong Hiệp định khung về Hợp tác dịch vụ
của ASEAN đối với thị trường dịch vụ tài chính
16
1.2.1.3
Những quy định trong Hiệp định thương mại Việt nam -
Hoa Kỳ đối với thị trường dịch vụ tài chính
16
1.2.2
Những cam kết của Việt nam trong các Hiệp định về lĩnh vực
dịch vụ tài chính
17
1.2.2.1
Cam kết về dịch vụ tài chính của Việt Nam trong Hiệp định
khung về Hợp tác dịch vụ của ASEAN
Nhng bt cp ca th trng dch v bo him so vi yờu
cu hi nhp quc t
43
2.3
Thc trng th trng dch v ngõn hng
48
2.3.1
Nhng thnh tu t c
50
2.3.2
Mt s vn cũn tn ti
58
2.3.3
Nguyờn nhõn ca nhng tn ti
62
2.3.4
Nhng bt cp ca th trng dch v ngõn hng so vi yờu
cu hi nhp quc t
64
Chng 3
CC GII PHP NHM PHT TRIN TH TRNG DCH
V TI CHNH VIT NAM P NG YờU CU HI NHP
KINH T QUC T
70
3.1
Kinh nghim ca mt s nc trong vic phỏt trin th
trng dch v ti chớnh
3.3.1
nh hng phỏt trin dch v ngõn hng
87
3.3.1.1
Cỏc quan im v vic phỏt trin dch v ngõn hng
87
3.3.1.2
Cỏc nh hng ch yu
90
3.3.2
Cỏc gii phỏp phỏt trin th trng dch v ngõn hng
90
3.3.2.1
Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà n-ớc
90
3.3.2.2
Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng th-ơng mại
92
Kết luận
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ của
các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp.
Nhân dịp hoàn thành bản Luận văn, tôi xin đặc biệt bầy tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Quy - người đã chỉ bảo tận tâm, nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện Luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn các các cô chú, anh chị ở Bộ tài chính, Bộ thương mại,
Ngân hàng Thương mại
NHTMQD
Ngân hàng Thương mại Quốc doanh
NHTMCP
Ngân hàng Thương mại Cổ phần
VCB
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
INCOMBANK
Ngân hàng Công thương
VBARD
Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn
BIDV
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
TCTD
Tổ chức tín dụng
GDP
Tổng sản phẩm Quốc nội
TCTC
Tổ chức tài chính
BHNT
Bảo hiểm nhân thọ
BH PHI NT
Bảo hiểm phi nhân thọ
ACB
Ngân hàng thương mại cổ phần á châu
EXIM
Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu
UOB
Ngân hàng United Overseas Bank Singapore
EAB
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993 - 2003
31
2.2
Tỷ trọng doanh thu PBH/GDP giai đoạn 1993 - 2003
32
2.3
So sánh doanh thu PBH nhân thọ và phi NT
35
2.4
So sánh doanh thu PBH/GDP một số nước năm 2001
38
2.5
Tỷ trọng dư nợ tín dụng tính đến 31/12/2003
50
2.6
Thị phần thẻ ATM của ngân hàng Ngoại thương Việt nam
năm 2003 so với các ngân hàng khác
55
2.7
Thị phần thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng Ngoại thương
Việt nam năm 2003 so với các ngân hàng khác
56
2.8
Doanh số bảo lãnh vốn vay trong nước và nước ngoài của 4
kinh tế chọn viết Khóa luận tốt nghiệp.
- 2 -
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về
cơ sở lý luận và thực tiễn của thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động, những hạn chế của thị trường
dịch vụ tài chính Việt Nam trong những năm gần đây, luận văn phân tích các
nguyên nhân làm cho thị trường dịch vụ tài chính còn chậm phát triển nhằm đề
xuất các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về dịch vụ tài chính và vai trò của nó đối với sự phát
triển nền kinh tế quốc tế.
- Đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ tài chính trong những năm gần đây:
những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt
nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thị trường dịch vụ tài chính ở
Việt Nam trong những năm gần đây và những nội dung yêu cầu nhằm phát triển
thị trường dịch vụ tài chính đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn
cũng sẽ nghiên cứu thị trường dịch vụ tài chính của một số nước trên thế giới.
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
Khái niệm dịch vụ tài chính là một khái niệm rộng, theo cách hiểu của
GATS, dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến
.1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ VAI
TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ QUỐC
DÂN.
.1.1
Khái niệm dịch vụ tài chính
Muốn hiểu được khái niệm dịch vụ tài chính, trước hết chúng ta cần
phải làm rõ khái niệm dịch vụ.
Về khái niệm dịch vụ, theo quan niệm phổ biến được dùng ở Việt nam
thì đó là hoạt động kinh tế tuy không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất
cho xã hội nhưng tạo ra giá trị thặng dư do khai thác sức lao động, tri
thức, chất xám của con người đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc
thỏa mãn nhu cầu của con người và là một thành tố quan trọng đóng góp
vào GDP. Dịch vụ là sản phẩm lao động có hàm lượng tri thức cao của
con người, kết tinh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực như kinh tế,
tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kế toán, tư vấn
…
Cùng với sự vận động, phát triển nhanh chóng của nền kinh tế với sự
trợ giúp của khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập khu vực và
quốc tế, lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng có những bước phát triển vượt
bậc, do vậy đòi hỏi phải tiếp cận khái niệm dịch vụ bằng cách khác, thống
nhất với các quốc gia và các tổ chức quốc tế mà chúng ta đang xúc tiến
hội nhập, tập trung vào cách tiếp cận của WTO và Hiệp định thương mại
Việt nam - Hoa Kỳ. Nhưng trên thực tế thì WTO không đưa ra một khái
niệm cụ thể về dịch vụ, thay vào đó các khoản mục dịch vụ được phân
tách theo nội dung và cách thức thực hiện chúng thông qua việc dẫn chiếu
dịch vụ được cung cấp bởi
một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện
của thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác.
Khái niệm dịch vụ tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn tài chính được chuyển từ người
cung cấp tài chính đến người cầu tài chính bằng con đường trực tiếp, hoặc
con đường gián tiếp qua các trung gian tài chính hoặc trung gian môi giới.
Các trung gian này thực thi các dịch vụ tài chính. Theo cách hiểu này, các
hoạt động giao dịch tài chính được thực hiện qua các trung gian (bao gồm
- 6 -
cả trung gian tài chính và trung gian môi giới) được gọi là dịch vụ có tính
chất tài chính. Và nơi diễn ra những hoạt động có tính chất tài chính đó
được gọi là thị trường dịch vụ tài chính.
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): Một dịch vụ tài chính là
bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ
tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và
dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài
chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). 21
1.1.2.
Đặc điểm của dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính có những đặc điểm chung là:
-
Tính vô hình
: là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ tài chính
với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc
dân. Chính đặc điểm này làm cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch
vụ tài chính trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng
chúng. Từ đặc tính vô hình của sản phẩm nên trong kinh doanh phải dựa
kiểm toán, tư vấn tài chính; dịch vụ chứng khoán và một số dịch vụ hỗ trợ
khác); phân ngành dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên theo tiêu chí về tổ chức quản lý, phạm vi của dịch vụ tài
chính còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn và chỉ bao gồm các các dịch vụ
thuộc phân ngành dịch vụ tài chính, đó là dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ ngân
hàng; dịch vụ kế toán, kiểm toán; dịch vụ tư vấn tài chính (chủ yếu là tư
vấn thuế); dịch vụ chứng khoán.
Những ngành dịch vụ này hiện nay do nhiều ngành khác nhau quản lí.
Ví dụ tại Việt Nam, ngành dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ kế toán - kiểm
toán do Bộ tài chính quản lí, dịch vụ ngân hàng do ngân hàng nhà nước
quản lý. Trong quá trình nhà nước sử dụng công cụ tài chính tiền tệ để
điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, các ngành dịch vụ này có mối quan hệ chặt
chẽ và tác động bổ trợ lẫn nhau, vì vậy nếu chỉ nhìn nhận dịch vụ tài
chính theo nghĩa hẹp như nêu trên là không đầy đủ. Tuy nhiên việc đánh
giá dịch vụ tài chính theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các phân ngành dịch
vụ tài chính đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành. Mặt khác, hiện nay
vẫn còn có những ý kiến khác nhau về việc sắp xếp dịch vụ chứng khoán
thuộc phân ngành dịch vụ nào (tài chính hay ngân hàng) hay là một phân
- 8 -
ngành dịch vụ riêng. Do đó, Luận văn chỉ dành tập trung đề cập đến hai
loại hình dịch vụ chủ yếu:
đó là dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng.
Theo WTO - phụ lục G quy định các loại hình dịch vụ bảo hiểm và
bảo hiểm ngân hàng như sau:
Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm
:
Bảo hiểm trực tiếp nhân thọ;
thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý.
Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả việc bảo
hiểm phát hành và với hoạt động đại lý (dù theo cách công hoặc tư
nhân) và cung cấp dịch vụ liên quan tới những vấn đề trên.
Môi giới tiền tệ.
Quản lý tài sản có, như là tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư gián
tiếp, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quĩ hưu trí, hùn
vốn, góp vốn và dịch vụ tín thác.
Dịch vụ thanh toán hoặc thanh toán bù trừ về tài sản tài chính, kể cả
chứng khoán, các công cụ dẫn xuất và các công cụ có thể chuyển
nhượng khác;
Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, và xử lý dữ liệu tài chính
và phần mềm liên quan do các người cung cấp dịch vụ tài chính thực
hiện;
Các dịch vụ về tư vấn, trung gian và bổ trợ về tài chính về mọi mặt
hoạt động đã nêu trên, kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên
cứu và tư vấn về đầu tư và đầu tư gián tiếp, tư vấn mua sắm và về cơ
cấu lại hoặc chiến lược dịch vụ.
Tuy nhiên, theo phụ lục của Hiệp định GATS về dịch vụ tài chính, một
dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một
người cung cấp dịch vụ tài chính của một Thành viên cung cấp. Dịch vụ
tài chính không bao gồm “dịch vụ được cung cấp khi thi hành quyền hạn
của cơ quan chính phủ”. “Dịch vụ được cung cấp khi thi hành quyền hạn
của cơ quan chính phủ” trong dịch vụ tài chính được hiểu như sau:
do một Ngân hàng trung ương hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các
chức năng này.
.1.4
Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với sự phát triển
nền kinh tế quốc dân
Dịch vụ nói chung và các dịch vụ hạ tầng nói riêng là tiền đề không
thể thiếu cho phát triển kinh tế, trong đó dịch vụ tài chính có vai trò đặc
biệt quan trọng vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến các vấn đề đặt ra đối với tất
cả các nhà đầu tư trong suốt quá trình hoạt động, từ khâu chuẩn bị đầu tư
cho đến quá trình tổ chức hoạt động và kết thúc dự án đầu tư (vấn đề vốn,
ổn địch sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý ). Vì vậy, phát triển và nâng
cao khả năng cạnh tranh của dịch vụ tài chính có ý nghĩa cực kỳ quan
- 11 -
trọng đối với phát triển và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh
tế vì cũng như các dịch vụ hạ tầng khác, ở đây dịch vụ tài chính được xem
như đầu vào của tất cả các ngành sản xuất. Có thể khẳng định, hiệu quả và
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chỉ có thể nâng lên khi các ngành sản
xuất trong nền kinh tế có thể tiếp cận được các đầu vào có chất lượng cao
và chi phí thấp.
Dịch vụ tài chính có những vai trò sau:
Quản lý rủi ro
Bằng việc định giá các rủi ro trong việc cung cấp dịch vụ tài chính,
các tổ chức tài chính đã tạo ra cơ chế tập hợp, giảm thiểu và chuyển giao
rủi ro. Chẳng hạn với việc tạo ra các công cụ tài chính hấp dẫn như gửi
tiền không kỳ hạn, các hợp đồng lựa chọn (options), hợp đồng tương lai
(future), các tổ chức trung gian tài chính có thể giúp cho các tổ chức, cá
tiết kiệm sẽ tin tưởng và tăng cường đầu tư, qua đó sẽ thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế dài hạn.
Huy động vốn để tài trợ cho nền kinh tế
Sự phát triển của dịch vụ tài chính sẽ mang lại hiệu ứng quan trọng
nhất là huy động các nguồn lực trong xã hội cho việc tài trợ các dự án,
cung cấp vốn cho thị trường tài chính. Việc huy động vốn trên phạm vi
rộng lớn của các tổ chức trung gian tài chính được thực hiện thông qua sự
huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại, việc thu phí qua phát
hành các hợp đồng bảo hiểm và thông qua việc huy động vốn của thị
trường chứng khoán.
Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mậu dịch
Các dịch vụ tài chính hiện đại hơn như séc, thẻ tín dụng và các cơ chế
thanh toán đã tạo ra sự đơn giản hoá cho các hoạt động trao đổi mậu dịch,
làm cho trao đổi mậu dịch trở nên dễ dàng hơn và nhờ đó sẽ kích thích sự
phát triển của cả nền kinh tế.
.2
NHỮNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH NÓI CHUNG VÀ NHỮNG CAM KẾT CỦA
VIỆT NAM
- 13 -
.2.1
Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ
tài chính
người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác, sự đối xử không
kém phần thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và
người cung cấp dịch vụ của chính mình”. Do đó, các thành viên phải đưa
ra danh mục các lĩnh vực có thể áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
cùng với những điều kiện hay hạn chế, nếu có. Nguyên tắc đãi ngộ quốc
gia chỉ áp dụng cho những lĩnh vực dịch vụ có trong danh mục cam kết.
Các thành viên cũng có thể liệt kê các giới hạn hoặc những trường hợp
chưa thể thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được theo từng phương
thức cung cấp dịch vụ.
Nguyên tắc tối huệ quốc
Nguyên tắc này đòi hỏi một nước thành viên phải ngay lập tức và vô
điều kiện dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành
viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà thành
viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ
nước nào khác.
Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách liên quan đến
dịch vụ tài chính
Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu tất cả các quy định, văn bản pháp lí
liên quan, các điều ước quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ tài chính phải được
công bố, ấn hành công khai; các biện pháp được nước thành viên sử dụng
có liên quan đến dịch vụ tài chính phải được thông báo cho Hội đồng
thương mại dịch vụ của WTO và thông báo ngay khi ban hành những văn
bản mới.
Nguyên tắc tiếp cận thị trƣờng
Nguyên tắc tiếp cận thị trường đòi hỏi các nước thành viên cam kết
dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự
đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ theo những điều kiện, điều
khoản và hạn chế đã được thoả thuận và quy định tại Danh mục cam kết
cụ thể, tức là các nước thành viên tuỳ theo khả năng của mình, thông qua
- 15 -
thành viên nhưng có điều kiện, hạn chế về mở cửa thị trường và đãi ngộ
quốc gia. Chưa cam kết là việc một nước thành viên chưa đưa ra cam kết
nào trong một lĩnh vực dịch vụ theo một phương thức cung cấp dịch vụ
nào đó, nghĩa là nước đó được tự do trong việc đưa ra hay duy trì các biện
pháp hạn chế việc mở cửa thị trường và đối xử quốc gia
•
Nhóm thứ hai
là các quy định mang tính chất tự nguyện được tập
hợp trong Bản thoả thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính. Bản thoả
thuận chỉ mang tính chất tự nguyện, tức là chỉ khi một thành viên cam kết
áp dụng bản thoả thuận thì những quy định của bản thoả thuận mới mang
tính chất bắt buộc đối với riêng thành viên đó.
1.2.1.2 Những quy định trong Hiệp định khung về dịch vụ
của ASEAN đối với thị trường dịch vụ tài chính.
Theo quyết định của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 tại
Băng Cốc ngày 15/12/1995, các nước ASEAN đã ký Hiệp định khung về
Hợp tác Dịch vụ ASEAN (AFAS - Asian framework agreement on
Services) với các mục tiêu sau: tăng cường hợp tác về dịch vụ giữa các
thành viên để nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh, đa dạng hoá năng lực
sản xuất, cung cấp và phân phối dịch vụ giữa những người cung cấp dịch
vụ trong khối và ngoài khối ASEAN; xoá bỏ phần lớn các hạn chế đối với
thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên; tự do hoá thương mại dịch
vụ bằng việc mở rộng phạm vi và mức độ tự do hoá mà các nước thành
viên đã cam kết tại GATS với mục tiêu thành lập một khu vực tự do
thương mại dịch vụ ASEAN vào năm 2020.
Cũng giống như GATS, AFAS yêu cầu mỗi nước thành viên đưa ra
một bản lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo hướng phù hợp
nhất với điều kiện quốc gia về việc áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia và
điều kiện tiếp cận thị trường đối với từng loại dịch vụ. Tính pháp lí cuả
Tiến trình đàm phán dịch vụ ASEAN, đặc biệt là dịch vụ tài chính
đã diễn ra khá chậm chạp do phần lớn các nước thành viên đều muốn duy
trì mức bảo hộ cao đối với thị trường dịch vụ này mặc dù theo cơ chế đàm
- 18 -
phán thì các nước đã là thành viên WTO thì phải cam kết cao hơn mức
cam kết tại GATS, còn các nước chưa phải là thành viên thì các cam kết
không được thấp hơn mức đã cho các nước ngoài ASEAN hưởng. Đối với
Việt Nam, mức độ cam kết được xây dựng trên cơ sở cơ chế hiện hành, cụ
thể lấy Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam làm cam kết chung và đưa ra
một số cam kết cụ thể đối với từng ngành dịch vụ riêng biệt.
• Các cam kết chung (Horizontal
) được áp dụng cho tất cả các ngành
dịch vụ, kể cả dịch vụ tài chính, có các nội dung chủ yếu sau:
- Hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải
được cơ quan có thẩm quyền cho phép dưới hình thức văn phòng đại diện,
liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Văn phòng đại diện
không được phép tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Các liên
doanh thành lập dưới dạng công ty TNHH và có tư cách pháp nhân theo
Luật Công ty của Việt Nam, tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài không thấp
hơn 30% vốn pháp định của công ty. Thời gian hoạt động của doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài không được vượt quá 50 năm (trong một số
trường hợp đặc biệt thì không được vượt quá 70 năm). Về mặt đãi ngộ
quốc gia, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam có quyền sở
hữu các tài sản cố định (trừ đất đai) theo thời hạn trong giấy phép kinh
doanh, được phép thuê đất song không được quyền thế chấp đất.
- Hiện diện thể nhân: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
dựa trên yêu cầu phát triển kinh doanh được phép thuê người nước ngoài,
tuy nhiên chỉ cho các vị trí đòi hỏi trình độ quản lý và kỹ thuật mà Việt
Nam chưa đáp ứng được, đồng thời cũng phải đào tạo lao động Việt Nam
nghệ bảo hiểm mới; phần vốn góp của bên nước ngoài trong các liên
doanh bảo hiểm không quá 50% vốn điều lệ.
- Hạn chế về đãi ngộ quốc gia:
+ Hạn chế về vốn: vốn pháp định tối thiểu của một công ty liên doanh
bảo hiểm và công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh
vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ tương ứng là 2 triệu USD và 5
triệu USD, trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm là 100.000 USD và 300.000