Tài liệu Luận văn: Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp Dệt May từ nay đến năm 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO - Pdf 10


1Luận văn

Một số giải pháp chủ yếu phát
triển ngành công nghiệp Dệt May
từ nay đến năm 2010 để đáp ứng
yêu cầu hội nhập WTO2
Mục lục
Trang

Mục lục 1
Phần I. Vai trò của ngành công nghiệp dệt - may việt nam đối với quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
I ) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đối với quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá
1. Xu thế chuyển dịch sản xuất hàng Dệt May trên thế giới
2. Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đối với quá trình
CNH – HĐH
2.1) Đặc điểm của ngành công nghiệp Dệt May :
2.2) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam trong quá trình
CNH – HĐH
II. Sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam
Phần II. Thực trạng của ngành công nghiệp Dệt - may Việt Nam từ năm
1995 đến năm 2000
I ) Thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của ngành

1.1) Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.2) Nguồn vốn đầu tư trong nước:
IV. Đánh giá tổng quan về ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam 1.
Những kết quả đã được của Ngành
2. Những hạn chế và nguyên nhân của Ngành
2.1) Những hạn chế chủ yếu của Ngành:
2.2. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế.
Phần III
Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt
Nam đến năm 2010 để đáp ứng yêu cầu hội nhập WTO
A/ Quan điểm và mục tiêu tổng quát phát triển ngành công nghiệp Dệt
May Việt Nam đến năm 2010
1. Quan điểm phát triển:
2. Mục tiêu phát triển:
2.1) Mục tiêu tổng quát:
2.2 Các chỉ tiêu cụ thể:
B/ Một số vấn đề đặt ra cho ngành công nghiệp Dệt May Việt nam
trong quá trình hội nhập vào WTO
1. Sự ra đời và mục tiêu của WTO
2) Lộ trình cắt giảm thuế quan đối với một số mặt hàng Dệt May của Việt
Nam trong tiến trình hội nhập WTO
2.1 Hiệp định ưu đãi thuế quan phổ cập CEFT trong hội nhập khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
2.2 ) Hiệp định hàng Dệt May ký kết giữa Việt Nam với EU giai đoạn
2000 - 2005:
2.3) Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ:
3. Cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội
nhập WTO
3.1 Những cơ hội của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập
WTO

Ngành công nghiệp Dệt May là một ngành có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và
là một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Thực tế các năm qua đã chứng minh điều này. Sản xuất của Ngành tăng trưởng
nhanh ; kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao ; thị trường luôn
được mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển góp phần cân bằng cán cân xuất
nhập khẩu theo hướng có tích luỹ ; thu hút ngày càng nhiều lao động, giải quyết công ăn
việc làm, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị xã hội đất nước và đóng góp
ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực, để phát triển ngành Dệt
May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo Hiệp định ATC/WTO, từ
1/1/2005 các nước phát triển sẽ bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu cho các nước xuất khẩu hàng
Dệt May là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), khi đó các cường quốc
xuất khẩu hàng Dệt May như Ấn Độ, Indonesia, HongKong, Đài Loan, Hàn Quốc và
đặc biệt là Trung Quốc sẽ có lợi thế xuất khẩu thế giới. Theo Hiệp định AFTA, từ
1/1/2006, thuế xuất nhập khẩu hàng Dệt May từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ giảm
xuống từ 40 – 50% như hiện nay xuống còn tối đa là 5%, khi đó thị trường nội địa hàng
Dệt May Việt Nam không còn được bảo hộ trước hàng nhập từ các nước trong khu vực.
Như vậy, hàng Dệt May Việt Nam sẽ phải cạnh tranh rất khốc liệt so với các nước xuất
khẩu hàng Dệt May.
Có thể thấy rằng ngành Dệt May Việt Nam đang thiếu chiều sâu cho sự phát triển
của Ngành. Trong khi ở các nước phát triển lợi thế cạnh tranh trong ngành Dệt May mà
họ có được thông qua vốn và công nghệ thì ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam vẫn
chỉ là ngành sử dụng lao động rẻ.

6
Do vậy, trước những thách thức trong tình hình mới, việc đưa ra những giải pháp
thiết thực nhằm làm cho ngành Dệt May phát triển đúng hướng, có đủ khả năng cạnh
tranh trên thị trường thế giới cũng như thị trường nội địa là một yêu cầu thực sự cấp
bách. Đó là lý do để tôi chọn đề tài :
“Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công

bản, từ các nước phát triển như Nhật, Mỹ, Anh, Pháp… cho đến các nước
công nghiệp mới (NICs) như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singarpo,…,
ngành công nghiệp Dệt May thường phát triển mạnh và có hiệu quả cao trong
quá trình công nghiệp hoá của họ. Khi một nước đã có công nghiệp phát triển,
có trình độ công nghiệp cao, giá lao động cao thì sức cạnh tranh trong sản xuất
hàng Dệt May giảm, lúc đó sẽ chuyển sang những ngành công nghiệp khác có
hàm lượng kỹ thuật cao hơn, sử dụng lao động ít mà mang lại lợi nhuận cao.
Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp Dệt May thế giới cũng là sự
chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Dệt May từ khu vực phát triển sang khu vực
khác kém phát triển hơn do tác động của lợi thế so sánh. Sự dịch chuyển này
được gọi là “hiệu ứng chảy tràn” hay “làn sóng cơ cấu”. Có thể nói ngành
công nghiệp Dệt May đã tạo nên một làn sóng, sóng lan tới đâu thì nước đó
phát triển kinh tế vượt bậc.Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sản xuất Dệt
May không còn tồn tại ở các nước phát triển mà thực tế ngành này đã tiến đến
giai đoạn cao hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Sự dịch chuyển thứ nhất vào những năm 1840 từ nước Anh, cha đẻ của
ngành công nghiệp Dệt sang các nước ở châu Âu, khi ngành công nghiệp Dệt
May đã trở thành động lực chính cho sự phát triển thị trường sang các khu vực
mới khai phá ở Bắc và Nam Mỹ.

8
Sự chuyển dịch lần thứ hai là từ châu Âu sang Nhật Bản vào những năm
1950, trong thời kỳ hậu chiến thứ hai.
Từ những năm 1950, khi chi phí sản xuất ở Nhật tăng cao và thiếu
nguồn lao động thì công nghiệp Dệt May lại được chuyển dịch sang các nước
mới công nghiệp hoá (NICs) như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc. Quá trình
chuyển dịch được thúc đẩy mạnh bởi nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm
khai thác lợi thế về nguyên liệu tại chỗ là giá nhân công thấp. Cho đến nay
công nghiệp Dệt May không còn giữ vai trò thống trị trong nền kinh tế nhưng
vẫn còn đóng góp rất lớn về nguồn thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu của các

Trên phạm vi ngành công nghiệp Dệt May thế giới, các nước phát triển
thường nắm những khâu kỹ thuật cao, thu nhiều lợi nhuận nhất là khoán lại
cho các nước đang phát triển những khâu kỹ thuật thấp mà phổ biến nhất là
ráp nối hàng may mặc với mẫu mã và nguyên phụ liệu được cung cấp sẵn.
Tuy nhiên với các nước đang phát triển, trong điều kiện rất thiếu vốn để tiến
hành đầu tư thì may gia công cũng góp phần thu ngoại tệ, tạo vốn cho công
cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đồng thời giải quyết nhiều việc làm cho
người lao động (đặc biệt là lao động ở nông thôn).
Hiện nay, lao động trong ngành Dệt May chủ yếu tập trung ở châu Á
(chiếm tới 57%) vì đây là khu vực có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công
thấp, phù hợp cho việc phát triển của ngành Dệt May
Đối với Việt Nam, một quốc gia có dân số đông và trẻ so với trong khu
vực và trên thế giới. Tính đến ngày 31/12/2000, dân số cả nước là 77.685.000
người, trong đó số người trong độ tuổi lao động khoảng 43,8 triệu người.

10

Hàng năm có khoảng từ 1,5 đến 1,7 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động,
tạo thành đội ngũ dự bị hùng hậu bổ sung liên tục vào lực lượng lao động vốn
đã đông đảo. Với một lực lượng lao động dồi dào như vậy, nếu được đào tạo
và sử dụng hợp lý, hiệu quả ngành Dệt May Việt Nam rất có điều kiện để phát
triển. Đồng thời đó cũng là một thị trường tiêu thụ hàng Dệt May tiềm năng.
Tuy nhiên, là một ngành thu hút nhiều lao động cũng có nghĩa là Ngành phải
chịu gánh nặng xã hội và nhiều áp lực từ phía Chính phủ về việc thực hiện các
mục tiêu xã hội. Nếu một doanh nghiệp phá sản kéo theo hàng trăm người thất
nghiệp và những hậu quả sau đó cần giải quyết.
Thứ hai, sản phẩm của ngành Dệt May mang tính chất thời trang :
Sản phẩm của ngành Dệt May là sản phẩm tiêu dùng, phục vụ cho nhu
cầu của tất cả mọi người. Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục
tập quán, tôn giáo, khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác nên sẽ có nhu

đến sản xuất hàng Dệt May trên thế giới.
Với Hiệp định về hàng Dệt May, Việt Nam vừa có nhiều cơ hội nhưng
đồng thời cũng phải chịu những quy định chặt chẽ, những yêu cầu cao hơn khi
xuất khẩu hàng Dệt May.
Do đó, muốn thành công trong việc xuất khẩu hàng Dệt May ra thị
trường nước ngoài, cần phải có sự hiểu biết rất rõ về những chính sách bảo hộ,
ưu đãi của từng quốc gia và của thế giới với ngành Dệt May. Có như vậy thì
kết quả thu được mới đạt hiệu quả cao, tránh được những lãng phí và sai lầm
không đáng có.

12

2.2) Vai trò của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam trong quá trình
CNH – HĐH
Từ sau khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với đường lối phát triển kinh tê
mở (đa dạng hoá các thành phần kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với
nhiều nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc sản
xuất hai bên cùng có lợi, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sản
xuất hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, quan tâm đến
phát triển nông nghiệp và nông thôn), ngành công nghiệp Dệt May đã thể hiện
được là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế của nước ta.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã
và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, thu hút được nhiều lao động. Đến
nay lực lượng lao động trong Ngành có khoảng 1.600.000 người, chiếm
22,7% lao động công nghiệp toàn quốc, góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động, tạo sự ổn định chính trị - kinh tế - xã hội. Theo dự đoán,
đến năm 2005 và 2010, lao động trong ngành Dệt May sẽ tăng lên tương ứng
là 3.000.000 và 4.000.000 người.

trước một cơ hội phát triển thị trường xuất khẩu hết sức to lớn : thị trường
Châu Âu (chủ yếu là EU), Nhật Bản, Trung Đông, Châu Á, Châu Mỹ và đặc
biệt là Hoa Kỳ mà chúng ta mới đạt được Hiệp định Thương mại với họ. Đối
với thị trường Hoa Kỳ, trong thời gian đầu chưa có hạn ngạch, ngành Dệt May
Việt Nam cần tranh thủ xuất khẩu tối đa để tạo cơ sở ấn định hạn ngạch thuận
lợi vì đây là thị trường có sức mua hàng Dệt May lớn lại dễ tính. Đối với thị
trường Châu Á (các nước ASEAN), ngành Dệt May Việt Nam cần nâng cao

14

sức cạnh tranh để đối phó với sản phẩm của các nước trong khối này có điều
kiện xâm nhập vào thị trường Việt Nam với thuế suất thấp sau năm 2000, vì
Dệt May cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của các nước này. Đối với thị
trường EU, ngành Dệt May Việt Nam cần nâng cao chất lượng sản phẩm để
tăng sức cạnh tranh với các nước xuất khẩu hàng Dệt May khác và đáp ứng
được đòi hỏi cao về sản phẩm của thị trường này.
Trên con đường phát triển trong thời gian tới, ngành Dệt May Việt Nam
đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, xuất phát từ cạnh tranh ngày một
gay gắt hơn trong xu thế hội nhập khu vực và trên thế giới. Trong khi đó,
ngành Dệt May Việt Nam hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và so
với ngành Dệt May của một số nước trong khu vực (năng lực của ngành Dệt
May Việt Nam hiện chỉ bằng 1/10 so với Thái Lan, 1/15 so với Indonesia,
1/30 so với Ấn Độ và 1/50 so với Trung Quốc). Việc thực hiện Hiệp định
ATC/WTO ở giai đoạn cuối cùng từ nay đến năm 2004 sẽ càng làm cho vị trí
cạnh tranh của hàng Dệt May Việt Nam trên các thị trường Châu Âu và Bắc
Mỹ thêm khó khăn do nước ta chưa phải là thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Việc thực hiện AFTA/CEFT từ nay đến cuối năm 2005
sẽ làm giảm dần và đến loại bỏ hoàn toàn vào năm 2006 việc bảo hộ hàng Dệt
May Việt Nam tại thị trường nội địa trước hàng nhập khẩu của các nước Đông
Nam Á.

vốn đầu tư không lớn và đang trong xu hướng tiếp nhận sự chuyển dịch từ các
nước Đông Á và các nước Đông Nam Á. Nước ta là một nước có nguồn lao
động dồi dào và lành nghề nên có thể coi đây là một trong các lĩnh vực lớn có
khả năng phát triển nhất.

16

Dự báo tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp Dệt May là trên 10%
trong giai đoạn 2000 – 2010. Đó là tỷ lệ tăng trưởng cao so với nhiều ngành
công nghiệp khác. Như vậy, trong những năm tiếp theo của quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hoá ngành công nghiệp Dệt May phải được ưu tiên phát
triển.
2) Phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo phương châm "hướng ra
xuất khẩu với thay thế nhập khẩu".
Hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả, đó là
kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp mới (NICs) và ở nước ta cũng đã
được xác nhận. Đó là một trong những chiến lược cơ bản của quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá trong những điều kiện của thế giới hiện nay. Ở nước
ta, phải tận dụng các lợi thế so sánh về lao động và tài nguyên để đẩy mạnh
nhịp độ phát triển của các ngành và sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, xem đây
là mục tiêu hàng đầu. Xuất khẩu càng nhiều, kinh tế tăng trưởng càng nhanh,
có hiệu quả bền vững, đồng thời càng có thêm khả năng thay thế nhập khẩu có
hiệu quả, không mẫu thuẫn với hướng về xuất khẩu.
Ngành công nghiệp Dệt May là một trong những ngành có khả năng làm
được điều đó. Thực tế trong những năm qua cho thấy, chiến lược hướng ra
xuất khẩu đã thu được nhiều kết quả khích kệ, tốc độ tăng bình quân của kim
ngạch xuất khẩu của hàng Dệt May giai đoạn 1995 - 2000 là 17,4%/năm. Nhờ
nguồn ngoại tệ thu được, ngành có điều kiện tái đầu tư để hiện đại hoá thiết bị
công nghệ, đẩy mạnh sản xuất.
Song song với xu thế đẩy mạnh xuất khẩu, cần kết hợp sản xuất các mặt

hiện đại hoá và đa dạng về sản phẩm.

18

Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, nhu cầu
hàng tiêu dùng sẽ tăng lên không chỉ thuần tuý về mặt số lượng mà nhu cầu
tăng cả về chất lượng, mẫu mã, chủng loại. Theo quy luật tiêu dùng thì khi thu
nhập tăng lên, tỷ lệ chi cho ăn uống sẽ giảm tương đối còn tỷ lệ tiêu dùng
hàng hoá sẽ tăng lên rất nhanh. Như vậy, cùng với việc tăng dân số và tăng thu
nhập, trong những năm tới, thị trường trong nước sẽ là tiền đề phát triển cho
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nói chung và công nghiệp Dệt May nói
riêng.
Đối với thị trường nước ngoài, để tiếp nhận thành công sự dịch chuyển
kinh tế từ các nước phát triển hơn và nhanh chóng thay thế họ thâm nhập vào
các thị trường quốc tế mới, ngành Dệt May càng cần phải trang bị lại theo
hướng hiện đại. Có như vậy mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi ngày
càng cao, càng đa dạng của cả thị trường trong nước và ngoài nước.
Tất cả những yếu tố đó đòi hỏi Ngành phải có kế hoạch hiện đại hoá từng
bước, kết hợp giữa thay thế và hiện đại hoá, đồng thời nhanh chóng tiếp thu
công nghệ mới để giảm bớt khoảng cách tụt hậu.
4) Phát triển công nghiệp Dệt May gắn liền với sự phát triển của ngành
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, góp phần thúc đẩy quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta.
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội từ nay đến năm 2010, Đảng ta
đã chỉ rõ : cần phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền
kinh tế mà trước hết là công nghiệp hoá nông thôn.
Như vậy, đối với tất cả các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp Dệt
May (là ngành sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp như bông, tơ

19

Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là chiến lược phát triển kinh
tế của Đảng ta.
Thực tế cho thấy, ở bất cứ một ngành kinh tế kỹ thuật nào, nếu không có
nhiều thành phần kinh tế tham gia thì sẽ không tạo ra được môi trường cạnh
tranh, mà cạnh tranh chính là động lực của sự phát triển.
Trong tổ chức sản xuất của ngành công nghiệp Dệt May đã có những
mô hình có quy mô lớn nhưng hiệu quả kém. Qua nhiều lần tiến hành đổi mới
tổ chức quản lý và qua hoạt động thực tiễn cho thấy : các doanh nghiệp Dệt
May có quy mô vừa và nhỏ là những mô hình hoạt động tốt.
Về cơ cấu sở hữu, trong ngành Dệt May trước kia, đặc biệt là ngành Dệt
chỉ tồn tại hai loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp Nhà nước và các hợp
tác xã. Những năm gần đây, với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đã
xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, các công ty TNNH tham gia sản xuất cả ở
những lĩnh vực mà trước đây không có do đòi hỏi kỹ thuật cao như kéo sợi.
Đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp May, đã có tới hàng trăm công ty TNNH,
công ty cổ phần và các tổ hợp.
Như vậy, phát triển ngành công nghiệp Dệt May ở Việt Nam theo
hướng đa dạng hoá sở hữu và tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa
và nhỏ là cần thiết.

21
PHẦN II
THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT - MAY

209,0

259 298,6 10,6
KNXK
Triệu
USD
850 1150 1503 1450 1747 1900 1975,4 9,25
Sản phẩm chính Sợi
1000
tấn
59,2 65 67,5 69 74 80 86 6,41
Vải
Triệu
met
263 285 298 315 317 376 402 7,32
Hàng may mặc
Triệu
SP
172 206,9

302 275 305 334 367 13,48
Nguồn: Niên giám thống kê 2001

22

Qua bảng số liệu ta thấy nhìn chung các chỉ tiêu toàn Ngành đều có
mức tăng trưởng khá từ 6% đến 14%/năm, đặc biệt là trong mấy năm gần đây

- Thiên tai năm 2000 và 2001 liên tiếp xảy ra để lại hậu quả nặng nề, các mặt
hàng nông sản rớt giá làm thị trường trong nước kém sôi động. Thêm vào đó,
hàng Dệt May nhập lậu trốn thuế với số lượng lớn gây ảnh hưởng xấu đến sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
- Các chính sách ưu đãi tại Quyết định số 55 của Chính phủ chưa được các cơ
quan quản lý Nhà nước hướng dẫn kịp thời.
- Vốn lưu động thiếu, vốn vay đầu tư lớn, chi phí đầu vào tăng đã làm tăng giá
thành, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Cũng theo bảng số liệu ta thấy : Sản lượng hàng may mặc có tốc độ
tăng trưởng bình quân cao hơn hẳn so với tốc độ tăng trưởng của sản lượng
sợi và sản lượng vải (tốc độ tăng bình quân của hàng may mặc là 13,4%, trong
khi đó tốc độ tăng bình quân của sợi và vải chỉ có 6,41 và 7,32%). Điều này
phản ánh được phần nào có sự tăng trưởng không cân đối giữa ngành Dệt và
ngành May, Dệt không theo kịp May, May tăng trưởng nhanh lại không kéo
theo được sự tăng trưởng nhanh cho Dệt. Tức là sự liên hệ giữa May và Dệt
còn rất lỏng lẻo, hiệu quả của toàn ngành còn thấp do ngành May phải nhập
nguyên liệu cho sự tăng trưởng nhanh của mình.
2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của ngành Dệt - May
Tình hình tiêu thụ sản phẩm là vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa quyết định sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhưng để tạo lập được thị trường tiêu
thụ thì cần phải nghiên cứu và dự báo được nhu cầu thị trường, từ đó lựa chọn
và tìm ra các biện pháp thích hợp để điều khiển các dòng hàng hoá nhằm thoả

24

mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Ngày nay, các nhà sản xuất phải tìm hiểu và
nắm bắt nhu cầu thị trường, sản xuất ra những gì mà thị trường đòi hỏi. Với ý
nghĩa đó, thị trường có vai trò quyết định đối với sản xuất kinh doanh của
ngành Dệt - May.
a) Tình hình tiêu thụ sản phẩm trong nước

ra đời rất nhanh với nhiều quy mô khác nhau dần thay thế cho may quốc
doanh. Sự chuyển đổi này làm cho nhu cầu của người thành thị có vẻ là được
đáp ứng đầy đủ, thuận tiện, hợp túi tiền của mọi đối tượng. Ở khu vực nông
thôn, miền núi thì ngược lại, thị trường gần như bị bỏ trống bởi khả năng
thanh toán của thị trường quá thấp, không đủ sức hấp dẫn các tư thương đầu
tư.
Xét một cách tổng thể, có thể thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm Dệt May
trong nước diễn ra rất chậm chạp là do thị trường hàng Dệt May trong nước đã
bị coi thường. Tính tới thời điểm hiện nay, hệ thống tổ chức bán buôn, bán lẻ
hàng Dệt May đều do tư thương thao túng, trong khi đó các nhà sản xuất và hệ
thống thương nghiệp quốc doanh vẫn chưa tìm ra được phương thức hoạt động
phù hợp.
b) Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài
Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt May
liên tục tăng, với mức tăng trưởng bình quân 17,4%. Hiện nay, mỗi năm Việt
Nam xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD hàng Dệt May, trong đó thị trường EU chiếm
40% kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam, sau đó đến Nhật
chiếm 23%, ASEAN với 18%, Mỹ chiếm 2% và các khu vực khác chiếm
17%.
Bảng 2: Thị trường xuất khẩu hàng Dệt May Việt Nam (1995-2000)

Trích đoạn Giải pháp về tài chính và vốn Giải pháp về thị trường Giải pháp về điều hành và quản lý nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status