Lời mở đầu
Thực hiện đường lối chiến lược CNH - HĐH mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước có nền kinh
tế công nghiệp hiện đại, bảo đảm dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh,
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng công tác xuất nhập khẩu nhằm phát triển
và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu tăng bình
quân hàng năm 27,7%, kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hàng năm 22%. Nhìn
lại chặng đường phát triển của hoạt động ngoại thương Việt Nam cho thấy, mặc dù
còn rất khiêm tốn song đã đi những bước rất vững chắc khai thác mọi tiềm năng để
phát triển, khẳng định chỗ đứng của mình ở thị trường trong nước và Quốc tế.
Trong xu thế mở cửa và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới theo tinh thần đổi mới
kinh tế của Nhà nước ta, việc mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp ra các thị
trường nước ngoài là một xu hướng tất yếu khách quan đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế đất nước nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Hoạt động xuất khẩu là
một mặt của lĩnh vực ngoại thương có vị trí đáng kể trong nền kinh tế quốc dân
góp phần kích thích sản xuất hàng hoá trong nước phát triển, tăng tích luỹ ngoại tệ
cho đất nước để thực hiện tái sản xuất mở rộng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải
quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện CNH - HĐH đất
nước.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu trong toàn bộ hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Qua quá trình học
tập ở trường và thực tập tại Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu, em đã mạnh
dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gốm xây
dựng của Công ty Kinh doanh và Xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty Thủy tinh
và Gốm xây dựng Viglacera.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường ở nước ta.
ChươngII: Thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng gốm xây dựng ở Công ty
Kinh doanh và Xuất nhập khẩu thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng.
Chương III: Phương hướng và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gốm xây
Xuất khẩu hàng hoá đóng vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước, góp phần
thúc đẩy hơn nữa vào quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới. Với Việt Nam ta,
xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu nói riêng từ lâu đã được coi là một mặt
hoạt động không thể thiếu được của hoạt động kinh tế đối ngoại, là một phương
tiện quan trọng để phát triển nền kinh tế đất nước.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong khâu phân phối lưu thông của quá trình tái sản xuất
mở rộng, nhằm mục đích liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng giữa nước này với
nước khác
2.Vai trò của xuất khẩu hàng hoá.
Kinh doanh xuất khẩu tạo điều kiện cho nhiều quốc gia có thể phát huy tối đa
những lợi thế của mình về vốn, công nghệ, tài nguyên, nguồn lao động. Đồng thời
kinh doanh xuất khẩu cũng tạo điều kiện cho nhiều quốc gia đang phát triển và
những quốc gia kém phát triển có điều kiện tiếp thu được những công nghệ, kinh
nghiệm quản lý kinh doanh tiên tiến của các quốc gia đi trước.
Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế
và thực hiện quá trình CNH-HĐH đất nước. Vai trò của xuất khẩu được thể hiện
qua các điểm sau:
2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.
*Xuất khẩu là phương tiện chính góp phần tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
phục vụ CNH-HĐH đất nước.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
-Đầu tư nước ngoài.
-Vay nợ, viện trợ.
-Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ.
-Xuất khẩu hàng hoá.
Trong đó nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá là nguồn vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ
trọng lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến, phương pháp quản lý
Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu để huy
động phát triển. Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và các tổ chức
quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất
năng lực sản xuất mới.
+ Xuất khẩu góp phần trong việc hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được
với thị trường.
+ Xuất khẩu thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất từng quốc
gia. Khoa học công nghệ càng phát triển thì phân công lao động càng sâu sắc.
Ngày nay, nhiều sản phẩm mà việc chế tạo từng bộ phận được thực hiện ở các quốc
gia khác nhau. Để hoàn thiện được những sản phẩm này, người ta phải tiến hành
xuất khẩu linh kiện từ nước này sang nước khác để lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh.
Như vậy, mỗi nước có thể tập trung vào sản xuất một vài loại mà họ có lợi thế, sau
đó tiến hành trao đổi lấy những hàng hoá mà mình cần.
*Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống nhân dân.
Xuất khẩu tác động đến nhiều mặt của đời sống nhân dân. Trước hết sản xuất hàng
xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu người lao động và tạo ra thu nhập không thấp.
Hoạt động thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng phát triển kéo theo hàng
triệu người tham gia lao động vào lĩnh vực này và dần dần nâng cao mức sống của
người dân. Bởi vì xuất khẩu phát triển đã kéo theo hàng loạt các ngành nghề khác
phát triển, khôi phục lại những ngành nghề truyền thống, khắc phục số nông nhàn
trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng triệt để hơn. Xuất khẩu phát triển thúc đẩy
quá trình liên doanh liên kết, hàng loạt các ngành nghề mới ra đời đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu những vật phẩm tiêu dùng
thiết yếu mà trong nước không tự sản xuất được hoặc sản xuất với giá thành cao
phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu của người dân.
*Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất
khẩu nâng cao uy tín nước ta trên thị trường thế giới và tăng cường các quan hệ
kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động
qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản, là hình thức
ban đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như: du lịch
quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế phát triển theo. Ngược lại, sự phát triển
3. Khái niệm và các hình thức kinh doanh xuất khẩu.
3.1 Khái niệm về kinh doanh xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó không phải là
hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một
nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng
hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đó có thể đẩy mạnh sản
xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao
mức sống nhân dân. Xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại đem lại những hiệu
quả đột biến cao hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh
tế khác từ bên ngoài mà chủ thể trong nước tham gia không dễ dàng khống chế
được.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên
của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã
đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình.
Mục đích của kinh doanh xuất khẩu là khai thác được lợi thế của các quốc gia
trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Hoạt động
xuất khẩu diễn ra trong mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiều loại mặt hàng
khác nhau. Phạm vi hoạt động xuất khẩu rất rộng cả về không gian và thời gian.
3.2 Các hình thức xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng những
hình thức chủ yếu thường được các doanh nghiệp ngoại thương lựa chọn sau:
3.2.1 Xuất khẩu trực tiếp.
Đây là hình thức mà hàng hoá được mua hay bán trực tiếp của nước ngoài không
qua trung gian. Theo hình thức này đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp ký
kết hợp đồng ngoại thương. Các doanh nghiệp ngoại thương tự bỏ vốn ra mua các
sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó bán các sản phẩm này cho các
khách hàng nước ngoài (có thể qua một số công đoạn gia công chế biến).
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là lợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất
khẩu thường cao hơn các hình thức khác do giảm bớt được các khâu trung gian.
Với vai trò là người bán trực tiếp, các đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh
không bảo đảm tính chủ động trong kinh doanh. Thị trường và khách hàng bị thu
hẹp vì Công ty không có liên quan tới việc nghiên cứu thị trường và tìm khách
hàng.
3.2.4 Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
Đây là hình thức mua của nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục xuất
nhập khẩu và thường hàng đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Người
kinh doanh chuyển khẩu trả tiền cho người xuất khẩu và thu tiền của người nhập
khẩu hàng hóa đó. Thường khoản thu lớn hơn tiền trả cho người xuất khẩu, do đó
người kinh doanh thu được số chênh lệch (lãi). Các mặt hàng này (tạm nhập tái
xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu) được miễn thuế xuất nhập khẩu.
Xét về đường đi của hàng hoá tái xuất và chuyển khẩu giống nhau. Chỗ khác nhau
là kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ vận tải, còn tái xuất là
loại hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: nhập khẩu để xuất khẩu hàng đó, không
qua chế biến, thu lãi tức thời. Người kinh doanh bỏ vốn ra mua hàng, bán lại hàng
đó để thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch thực hiện ở ba nước: Nước xuất khẩu, nước
tái xuất, nước nhập khẩu. Giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên ở ba nước.
3.2.5 Mua bán đối lưu.
Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt
động nhập khẩu. Mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu về một
khoản ngoại tệ mà là thu về một lượng hàng hoá khác tương đương với giá trị của
lô hàng xuất khẩu. Yêu cầu của buôn bán đối lưu là cân bằng về tổng giá trị xuất
nhập khẩu, chủng loại hàng hoá quý hiếm, giá cả. Doanh nghiệp có thể sử dụng
hình thức này để nhập khẩu nhiều loại hàng hoá mà thị trường trong nước đang rất
cần hoặc có thể xuất khẩu sang một nước thứ ba.
3.2.6 Gia công quốc tế.
Gia công hàng xuất khẩu là một phương thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là
bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác
(gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công
và nhận thù lao (gọi là chi phí gia công).
Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu khá phổ biến, được nhiều nước, đặc biệt là
ứng những đòi hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về chất lượng và số
lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao.
II. Nội dung của xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp.
1.Nghiên cứu thị trường xuất khẩu.
Nghiên cứu thị trường là một khâu rất quan trọng không thể thiếu được đối với bất
kỳ doanh nghiệp nào muốn tham gia kinh doanh trên thị trường thế giới. Nghiên
cứu thị trường tạo khả năng cho các nhà kinh doanh thấy được quy luật vận động
của từng hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, nguồn cung cấp và giá cả
hàng hoá đó trên thị trường, giúp họ giải quyết được các vấn đề thực tiễn kinh
doanh.
Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin số liệu về thị trường so sánh,
phân tích những thông tin số liệu đó để rút ra kết luận về xu hướng vận động của
thị trường. Những kết luận này giúp cho nhà quản lý đưa ra được những nhận định
đúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch Marketing. Nội dung chính của
nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường.
Nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai bước: nghiên cứu khái quát và
nghiên cứu chi tiết thị trường.
Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp cho ta biết được những thông tin về quy
mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường như
môi trường kinh doanh, môi trường chính trị luật pháp, khoa học công nghệ,
môi trường văn hoá xã hội, môi trường sinh thái.
Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những thông tin về tập quán mua bán,
những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi, mua hàng của người tiêu dùng.
Nghiên cứu thị trường được tiến hành theo hai phương pháp chính: nghiên cứu tại
bàn và nghiên cứu tại hiện trường. Nghiên cứu tại bàn là nghiên cứu bằng cách thu
thập thông tin từ các nguồn tài liệu đã được xuất bản công khai và xử lý các thông
tin đó. Nghiên cứu tại hiện trường là việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp
xúc trực tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu thập được.
Nghiên cứu thị trường bao gồm:
1.1Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
với doanh nghiệp nhằm thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc các loại
dịch vụ. Việc lựa chọn đúng đối tác là điều rất quan trọng để thực hiện thắng lợi
hợp đồng xuất khẩu. Để lựa chọn đối tác kinh doanh người ta thường dựa vào
những căn cứ sau:
-Tình hình sản xuất, kinh doanh của đối tác để thấy được khả năng cung cấp lâu
dài.
-Quan điểm kinh doanh của đối tác trên thị trường trong nước cũng như trên thị
trường quốc tế.
-Lĩnh vực kinh doanh của đối tác.
-Khả năng tài chính và cơ sở vật chất của đối tác. Khả năng thanh toán của đối tác
trong ngắn hạn, dài hạn đảm bảo hợp đồng được thanh toán đúng thời hạn. Nghiên
cứu sức mạnh về vốn, về công nghệ của đối tác cho thấy được những ưu thế trong
thoả thuận về giá cả, điều kiện thanh toán.
-Thông tin và mối quan hệ trong kinh doanh.
2.Xây dựng kế hoạch và phương án xuất khẩu hàng hoá.
2.1 Xây dựng kế hoạch xuất khẩu hàng hoá.
Công ty cần phải đặt ra những mục tiêu kế hoạch trong từng thời kỳ nhất định và
thống nhất với mục tiêu chiến lược. Mục tiêu cần phải rõ ràng, cụ thể đối với toàn
công ty và đối với từng bộ phận. Chẳng hạn khi mục tiêu chiến lược của công ty
trong giai đoạn này là lợi nhuận thì mục tiêu kế hoạch chung của công ty là phải
đạt được bao nhiêu lợi nhuận trong năm
Có thể vạch ra các mục tiêu định tính hay định lượng. Các mục tiêu định lượng
được coi là chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu, bao gồm: Chỉ tiêu doanh số, chỉ tiêu chi
phí, chỉ tiêu lợi nhuận, dự trữCông ty cần xây dựng kế hoạch các công việc cụ
thể cần làm để hoàn thành các chỉ tiêu này.
Việc xây dựng kế hoạch xuất khẩu là điều kiện tiền đề cho việc hoàn thành tốt
chiến lược xuất khẩu và là một công việc rất cần thiết. Nó giúp công ty nắm bắt
những cơ hội và giảm thiểu rủi ro. Việc dự báo chính xác nhu cầu thị trường từ đó
xây dựng lên các kế hoạch thu mua, dự trữsẽ đảm bảo cho xuất khẩu thắng lợi.
2.2Phương án xuất khẩu hàng hoá.
điều kiện mua bán một loại hàng hoá để đi đến thoả thuận, nhất trí giữa hai bên.
Trong kinh doanh nói chung và trong kinh doanh quốc tế nói riêng, người ta có thể
sử dụng một trong ba phương thức giao dịch, đàm phán sau:
-Giao dịch, đàm phán qua thư tín: Là phương thức được sử dụng phổ biến trong
kinh doanh. Phương thức này thường là sự khởi đầu và giúp cho việc duy trì những
giao dịch lâu dài. So với phương thức gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua thư tín tiết
kiệm được nhiều chi phí, các quyết định đưa ra thường được cân nhắc kỹ càng và
tranh thủ được nhiều ý kiến của tập thể.
-Giao dịch, đàm phán qua điện thoại: là trao đổi bằng miệng. Trao đổi qua điện
thoại đảm bảo tính khẩn trương, đúng thời điểm cần thiết. Do không có gì làm
bằng chứng do đó phương thức này chỉ được sử dụng trong những trường hợp cần
thiết như sợ bị lỡ cơ hội kinh doanh hoặc chỉ chờ xác nhận một vài chi tiết của hợp
đồng.
-Giao dịch, đàm phán trực tiếp: là giao dịch mà người mua và người bán cùng thoả
thuận, bàn bạc, thảo luận trực tiếp về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương
thức thanh toánPhương thức đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải quyết những
bất đồng và nhiều khi là lối thoát duy nhất cho những cuộc đàm phán như thư tín,
điện thoại đã kéo dài quá lâu không có kết quả. Phương thức này phù hợp cho đàm
phán ký kết những hợp đồng lớn.
Việc giao dịch đàm phán tiến hành theo các bước:
Bước 1: Hỏi giá: là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biết giá cả và
các điều kiện để mua hàng.
Bước 2: Chào hàng: Là lời đề nghị ký kết hợp đồng với khách hàng nước ngoài.
Trong chào hàng cần ghi rõ tên hàng, quy cách, chất lượng, khối lượng, mẫu mã,
bao bì, giá cả, thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán và các dịch vụ kèm theo.
Có hai loại chào hàng là chào hàng cố định và chào hàng tự do.
Bước 3: Đặt hàng: lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua được
đưa ra dưới hình thức đặt hàng.
Bước 4: Hoàn giá: khi nhận được đơn chào hàng nhưng người nhận không chấp
nhận hoàn toàn đơn chào hàng thì họ sẽ đưa ra đề nghị mới thì lời đề nghị này gọi
thuê tàu
Kiểm nghiệm
hàng hoá
Làm thủ tục
hải quan
Giao hàng
lên tàu
Mua bảo
hiểm
Làm thủ tục
thanh toán
Giải quyết
khiếu nại
L/C độc lập với hợp đồng xuất khẩu nhưng lại dựa trên các điều khoản của hợp
đồng xuất khẩu. Ngân hàng chỉ dựa vào L/C và việc thực hiện các quy định trong
L/C để trả tiền cho nhà xuất khẩu. Vì vậy nhà xuất khẩu cần kiểm tra kỹ, dựa vào
hợp đồng. Nừu có gì chưa hợp lý cần báo lại cho phía nước ngoài để hai bên thống
nhất sửa lại.
*Xin giấy phép xuất khẩu: Giấy phép xuất khẩu là một biện pháp quan trọng để
Nhà nước quản lý xuất khẩu. Vì thế, sau khi ký hợp đồng xuất khẩu doanh nghiệp
phải xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá để thực hiện hợp đồng đó.
Theo nghị định 57/CP ngày 31/07/1998 của Chính Phủ. Thương nhân là doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật được
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã ghi trong giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh sau khi đã đăng ký mã số tại cục Hải quan tỉnh, thành phố thì
không phải xin giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.
*Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu: Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợp đồng đã
ký với nước ngoài và hoặc L/C. Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm ba
khâu chủ yếu:
-Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu: Doanh nghiệp xuất khẩu tổ chức
-Thực hiện các quyết định của hải quan:Sau khi kiểm soát giấy tờ hàng hoá, hải
quan sẽ ra quyết định và chủ hàng có nghĩa vụ thực hiện các quyết định đó.
*Giao hàng lên tàu: Tuỳ theo thoả thuận về điều kiện cơ sở giao hàng mà việc giao
hàng lên phương tiện vận chuyển sẽ thuộc trách nhiệm bên nào. Nếu hàng hoá
được giao bằng đường biển chủ hàng phải tiến hành các công việc sau:
-Căn cứ vào các chi tiết hàng xuất khẩu lập bản đăng ký hàng chuyên chở.
-Xuất trình bản đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng.
-Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng.
-Bố trí phương tiện đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.
-Lấy biên lai thuyền phó và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển. Vận
đơn đường biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã bốc hàng và phải chuyển nhượng
được. Vận đơn cần phải chuyển gấp về bộ phận kế toán để lập bộ chứng từ thanh
toán.
*Mua bảo hiểm: Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất.
Vì thế bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại
thương.Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa trên bốn căn cứ sau: Điều khoản
hợp đồng, tính chất hàng hoá, tính chất bao bì và phương thức xếp hàng, loại tàu
chuyên chở.
*Làm thủ tục thanh toán: thanh toán là khâu trọng tâm và kết quả cuối cùng của tất
cả các giao dịch kinh doanh xuất khẩu. Trong thanh toán, nhà kinh doanh phải chú
ý đến các vấn đề: Đồng tiền thanh toán, tỷ giá thanh toán, thời hạn thanh toán,
phương thức và hình thức thanh toán, điều kiện đảm bảo hối đoái.
Có nhiều phương thức thanh toán được sử dụng nhưng hiện nay người ta thường sử
dụng rộng rãi hai phương thức thanh toán là thanh toán bằng thư tín dụng và thanh
toán bằng phương thức nhờ thu.
*Giải quyết khiếu nại (nếu có): Trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh
xuất nhập khẩu có thể xảy ra những vấn đề phức tạp làm ảnh hưởng đến kết quả
thực hiện hợp đồng trong những trường hợp đó, hai bên cần thiện chí trao đổi, thảo
luận để giải quyết. Nếu giải quyết không thành thì tiến hành các thủ tục kiện đối
tác lên trọng tài. Việc khiếu nại phải tiến hành một cách kịp thời tỷ mỉ dựa trên các
Trong đó: TR: Tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu
P: Giá cả hàng xuất khẩu
Q: Số lượng hàng xuất khẩu
Lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu là lượng dôi ra của doanh thu xuất khẩu so với
chi phí xuất khẩu, được tính bằng công thức:
Lợi nhuận xuất khẩu = TR TC
LNKT = TR TCKT
L.Ntt = TR TCtt
Trong đó: TC: tổng chi phí bỏ ra cho hoạt động xuất khẩu
LNKT:Lợi nhuận kinh tế
TCKT: Chi phí
LNtt: Lợi nhuận tính toán
TCtt: Chi phí tính toán.
b.Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của xuất khẩu.
Hiệu quả của việc xuất khẩu được xác định bằng cách so sánh số ngoại tệ thu được
do xuất khẩu (giá trị quốc tế của hàng hoá) với những chi phí bỏ ra cho việc sản
xuất hàng hoá xuất khẩu đó.
*Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu: là chỉ tiêu hiệu quả tương đối nó có thể tính theo hai
cách:
-Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
P
p = 100 %
TR
-Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí:
P
p = 100 %
TC
Trong đó:
p : Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu.
P : Lợi nhuận xuất khẩu.
xuất khẩu Giá thành xuất khẩu nội tệ
*Các chỉ tiêu về sử dụng vốn.
Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn.
Lợi nhuận xuất khẩu
Hiệu qủa sử dụng vốn = 100%
Vốn
Doanh thu xuất khẩu
Số vòng quay của vốn = 100%
Mức dự trữ bình quân
c.Chỉ tiêu doanh lợi xuất khẩu.
Tx
Dx = 100%
Cx
Trong đó: Dx: Doanh lợi xuất khẩu
Tx: Thu nhập bán hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ được chuyển đổi
ra tiền Việt Nam theo tỷ giá công bố của ngân hàng Ngoại thương (sau khi trừ mọi
chi phí bằng ngoại tệ)
Cx: Tổng chi phí cho việc xuất khẩu.
d.Tỷ xuất ngoại tệ xuất khẩu.
là số lượng bản tệ bỏ ra để thu được một đơn vị ngoại tệ
Thu nhập ngoại tệ (USD)
Tỷ suất ngoại tệ =
Z nội tệ xuất khẩu (VNĐ)
Nếu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu < tỷ giá do ngân hàng Nhà nước công bố thì
nên xuất khẩu và ngược lại.
III.Thị trường gốm xây dựng và các nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động xuất khẩu gốm xây dựng.
1.Thị trường xuất khẩu gốm xây dựng.
2.Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gốm xây dựng.
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô.
đoái tăng đồng tiền nội tệ mất giá thì giá cả sản phẩm nhập khẩu tính bằng đồng
nội tệ sẽ đắt hơn một cách tương đối, sản phẩm xuất khẩu tính bằng đồng ngoại tệ
sẽ rẻ hơn một cách tương đối khi đó nó sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập
khẩu. Khi tỷ giá hối đoái giảm thì đồng nội tệ sẽ có giá hơn thì nó sẽ khuyến khích
nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu. Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực
tiếp đến tình hình xuất nhập khẩu và lợi nhuận của các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu. Chính vì vậy, đối với các nhà kinh doanh, mặc dù tỷ giá hối đoái tăng hay
giảm là yếu tố khách quan nhưng việc theo dõi sát tình hình tỷ giá hối đoái thay
đổi, để kịp thời đề ra những biện pháp điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình
cũng có tác dụng tăng thêm lợi nhuận.
Đây là nhân tố quyết định bạn hàng, mặt hàng, phương án kinh doanh, quan hệ
kinh doanh của không chỉ một doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà với tất cả các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung. Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây những
biến đổi lớn trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
d.Sự biến động thị trường trong và ngoài nước.
Hoạt động xuất khẩu như một chiếc cầu nối thông thường giữa hai thị trường, tạo
ra sự gắn bó cũng như phản ánh tác động qua lại giữa chúng. Nếu có sự biến động
ví dụ sự tồn đọng giá cả thay đổi, yêu cầu về một mặt hàng ở thị trường ngoài nước
thay đổi sẽ làm thay đổi ngay lập tức lượng hàng hoá qua chiếc cầu xuất khẩu và
ngược lại thị trường ngoài nước quyết định tới sự thoả mãn các nhu cầu thị trường
trong nước, sự biến động của nó về khả năng cung cấp về sản phẩm mới, về sự đa
dạng của hàng hoá cũng như phản ánh qua chiếc cầu xuất khẩu để tác động ra thị
trường ngoài nước.
e.Sự phát triển của nền sản xuất cũng như các doanh nghiệp kinh doanh thương
mại trong và ngoài nước.
Sự phát triển của nền sản xuất của doanh nghiệp sản xuất trong nước tạo ra sự cạnh
tranh mạnh mẽ với sản phẩm của các đối thủ nước ngoài do vậy sẽ thúc đẩy xuất
khẩu. Ngược lại sự phát triển của nền sản xuất nước ngoài làm tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm xuất khẩu do vậy làm giảm hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên
không phải lúc nào sản xuất trong nước phát triển thì hoạt động xuất khẩu được mở