Mở đầu
Việt Nam là một nớc nông nghiệp có nhiều lợi thế và tiềm năng về đất
đai, lao động và điều kiện sinh thái... cho phép phát triển sản xuất nhiều loại
nông sản hàng hoá xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn. Sau hơn 10 năm thực hiện
đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc, kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã
có những bớc phát triển đáng kể. Sản xuất nông nghiệp tăng trởng cao và khá
ổn định (bình quân tăng 4-4,5%/năm). Trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh
của các vùng sinh thái và các địa phơng cũng nh trong cả nớc, đã hình thành
đợc nhiều vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá nông sản cho xuất khẩu trên
quy mô lớn nh: Lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông
Hồng; cà phê vùng Tây Nguyên; cao su vùng Đông Nam Bộ... Nâng cao đợc
khối lợng hàng hoá và kim ngạch nông sản xuất khẩu (bình quân tăng
20%/năm), góp phần đáng kể trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn, theo hớng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, tạo ra
bớc chuyển biến mạnh mẽ từ nền kinh tế thuần nông, tự cung tự cấp sang nền
kinh tế hàng hoá, nâng cao đợc vị thế của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam
trên thị trờng quốc tế.
Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều bất cập cần phải
đợc tập trung nghiên cứu và giải quyết. Hiện nay, trớc xu thế hội nhập,
nông nghiệp Việt Nam đang đứng trớc những khó khăn phải cạnh tranh
với những nớc có lợi thế về sản xuất và xuất khẩu nông sản, mà chúng
ta cha có mấy lợi thế, biểu hiện trên nhiều mặt còn yếu kém: chất lợng,
khối lợng của hàng nông sản, cha tạo lập đợc thị trờng tiêu thụ ổn định
và thiếu bạn hàng lớn, giá cả thờng xuyên biến động gây không ít khó
khăn cho cả ngời sản xuất lẫn ngời tiêu dùng, năng xuất lao động xã
hội và năng xuất lao động trong nông nghiệp còn thấp. Năng lực thu
hút lao động của các ngành kinh tế quốc dân chậm, lao động trong
nông nghiệp, nông thôn d thừa nhiều, sức ép về công ăn việc làm đang
là những vấn đề nhức nhối của toàn xã hội
.
Với 80% dân số và trên 70% lao động xã hội đang hoạt động và sinh
Ricardo đã đa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, đến nay vẫn
đợc coi là lý thuyết nền tảng của thơng mại quốc tế, còn lợi thế cạnh tranh đ-
ợc xem nh là những vấn đề có tính chiến lợc và sách lợc của từng quốc gia để
phát huy các yếu tố về lợi thế tuyệt đối và so sánh trong quá trình sản xuất và
trao đổi thơng mại.
1.1.2.1- Lợi thế tuyệt đối.
Theo Adam Smith thì ở mỗi một quốc gia đều có những nguồn lực và
tài nguyên sẵn có nh: đội ngũ lao động, nguồn vốn, đất đai, công nghệ và
truyền thống kinh doanh... Nh vậy các quốc gia sẽ tiến hành sản xuất chuyên
môn hoá những mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối về các nguồn lực, sau đó
tiến hành trao đổi thì hai bên cùng có lợi. Do vậy, trong quá trình trao đổi th-
ơng mại, nguồn lực sẽ đợc lựa chọn sử dụng có hiệu quả hơn và tổng sản
phẩm của thế giới sẽ gia tăng. Giầu có của quốc gia phải đợc đo bằng sự giầu
có của tất cả các công dân của quốc gia đó. Vậy làm thế nào để tối đa hoá lợi
ích của tất cả các công dân. Thơng mại quốc tế là nhân tố quan trọng để đạt
đợc điều đó. Cơ sở nảy sinh thơng mại quốc tế là sự khác biệt của các nớc về
năng xuất lao động tuyệt đối. Đó chính là lợi thế tuyệt đối.
1.1.2.2-Lợi thế tơng đối (lợi thế so sánh).
Xét cho cùng lợi thế so sánh là kết quả của những khác biệt quốc tế về
năng suất lao động tơng đối, mà theo nhà kinh tế học David Ricardo trong
quá trình tham gia thơng mại quốc tế, các quốc gia sẽ xuất khẩu loại hàng hoá
và dịch vụ mà họ sản xuất tơng đối có hiệu quả và sẽ nhập khẩu loại hàng hoá
dịch vụ nào mà họ sản xuất tơng đối kém hiệu quả. Lao động là yếu tố sản
xuất duy nhất, và các nớc khác nhau chỉ về năng xuất lao động trong các
ngành công nghiệp khác nhau. Chính sự khác biệt giữa các nớc đa đến thơng
mại và những cái lợi từ thơng mại. Có thể có hai cách để nêu đợc rằng thơng
mại có lợi cho các nớc. Cách thứ nhất, chúng ta có thể nghĩ về thơng mại nh
là một phơng pháp sản xuất gián tiếp. Thay vì tự sản xuất một loại hàng hoá
cho mình, một nớc có thể sản xuất một loại hàng hoá khác và đem trao đổi lấy
hàng hoá mình muốn. Điều này cho thấy rằng khi nào đó một hàng hoá đợc
thể hiện trên các mặt nh: Chất lợng sản phẩm, giá cả sản phẩm, khối lợng và
thời gian giao hàng, tính chất và sự khác biệt của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
nớc này so với hàng hoá, dịch vụ của nớc khác trong việc thoả mãn nhu cầu
của khách hàng... ngoài ra còn bao gồm hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô
(thuế, tỷ giá, bảo hộ...), cơ chế vận hành và môi trờng thơng mại.
Lợi thế cạnh tranh, còn là sự thể hiện tính kinh tế của các yếu tố đầu
vào cũng nh đầu ra của sản phẩm, nó bao gồm về chi phí cơ hội và năng suất
lao động cao, chất lợng sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị hiếu tiêu
dùng trên các thị trờng cụ thể, nguồn cung cấp phải ổn định, môi trờng thơng
mại thông thoáng thuận lợi. Do vậy, lợi thế cạnh tranh là những nội dung
mang tính giải pháp về chiến lợc và sách lợc cuả một đất nớc, trong quá trình
sản xuất, trao đổi và thơng mại. Chiến lợc cạnh tranh suy cho đến cùng là
nhằm chinh phục cả thế giới khách hàng bằng uy tín, giá cả và chất lợng là
bí quyết của thành công.
Hay nói cách khác, lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện về những u thế
nh chất lợng, giá cả, môi trờng kinh doanh thơng mại, các điều kiện và chính
sách hỗ trợ của chính phủ... so với những nớc khác trên thị trờng thế giới. Nh
vậy, nó chứa đựng và bao gồm các giải pháp có tính chiến lợc và sách lợc của
doanh nghiệp, ngành và của cả quốc gia, để phát huy các yếu tố và lợi thế t-
ơng đối, tuyệt đối trong qúa trình sản xuất, trao đổi thơng mại.
Do vậy, phát huy lợi thế cạnh tranh đồng nghĩa với chiến lợc kinh
doanh nâng cao chất lợng sản phẩm, giảm giá tơng đối của sản phẩm và vai
trò của Nhà nớc trong việc cải thiện môi trờng kinh tế vĩ mô là hết sức quan
trọng, để phát huy tính chủ động sáng tạo, ý thức trách nhiệm và quyền lợi
của các nhà kinh doanh.
1.1.2- Các hình thức xuất khẩu.
Trên thực tế có rất nhiều loại hình kinh doanh xuất khẩu nhng những
hình thức chủ yếu thờng đợc các doanh nghiệp ngoại thơng lựa chọn bao
gồm:
1.1.3.1 - Xuất khẩu trực tiếp.
khác nhau là kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ vận tải:
chỗ hàng nớc ngoài từ cửa khẩu (cảng, ga) này đến cửa khẩu biên giới khác.
Tái xuất là loại hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: nhập khẩu để xuất khẩu
hàng đó, không qua chế biến, thu lãi tức thời. Ngời kinh doanh bỏ vốn ra mua
hàng, bán lại hàng đó để thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch thực hiện ở ba nớc:
nớc xuất khẩu, nớc tái xuất, nớc nhập khẩu. Giao dịch tái xuất là giao dịch ba
bên, ở ba nớc.
Mặc dù xuất nhập khẩu trực tiếp có những u điểm không thể phủ nhận
đợc nhng hiện nay do chính sách thơng mại của từng nớc nên hình thức
chuyển khẩu và tạm nhập tái xuất vẫn tồn tại khá phổ biến.
1.1.3.4- Mua bán đối lu.
Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt
chẽ với hoạt động nhập khẩu, có sự cân xứng giữa mua và bán, ngời bán đồng
thời là ngời mua, lợng hàng trao đổi có giá trị tơng đơng. hình thức này đợc
sử dụng rộng rãi ở các nớc đang phát triển. Vì thiếu ngoại tệ tự do, các nớc
này dùng đổi hàng để cân đối nhu cầu trong nớc.
Đây là đặc trng cho quan hệ trực tiếp đổi hàng của nhiều đơn vị xuất
nhập khẩu của ta hiện nay. Vì vậy, hình thức này còn gọi là đổi hàng hay xuất
nhập khẩu liên kết.
Trong hình thức này yêu cầu:
* Cân bằng về tổng giá trị xuất nhập khẩu
* Cân bằng về chủng loại hàng quý hiếm
* Cân đối về giá cả
Hai loại nghiệp vụ phổ biến nhất trong mua bán đối lu là đổi hàng và
trao đổi bù trừ.
Đổi hàng hoặc hàng đổi hàng: là trao đổi một hoặc nhiều hàng này lấy
một hoặc nhiều hàng khác, tổng trị giá tơng đơng, khi thiếu hụt không qua
thanh toán bằng ngoại tệ mà trả bằng hàng khác.
Trao đổi bù trừ: là một mặt hàng này (hoặc nhiều mặt hàng) trao đổi
với một mặt hàng khác (hoặc nhiều mặt hàng khác), không thanh toán bằng
ớc ngoài.
* Nhận phó uỷ thác xuất khẩu từ đơn vị trong nớc.
Đây là hình thức phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp
đứng ra nhận sự uỷ thác thờng là các doanh nghiệp Nhà nớc.
1.2 Một số yếu tố ảnh hởng đến hoạt động
xuất khẩu.
Trong hoạt động thơng mại, bất cứ hình thức kinh doanh nào cũng chịu
ảnh hởng sâu sắc của môi trờng kinh doanh. Môi trờng kinh doanh có thể tạo
ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh phát triển, song cũng
có thể là vật cản mạnh mẽ cho hoạt động này. Đối với hoạt động xuất khẩu,
một nội dung quan trọng của hoạt động thơng mại quốc tế, thì ảnh hởng của
môi trờng kinh doanh lại càng mạnh mẽ hơn, bởi vì trong thơng mại quốc tế,
các yếu tố về môi trờng kinh doanh phong phú và phức tạp hơn nhiều so với
thơng mại trong nớc. ở đây, chúng ta có thể kể ra một số nhân tố tác động
đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia nh sau:
1.2.1 Kinh tế.
Các yếu tố này ảnh hởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu. Có thể lấy
một số yếu tố nh:
* Cơ sở hạ tầng: Đây là một yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động
xuất khẩu. Nó chính là những yếu tố vật chất nh đờng xá, sân bay, bến cảng,
kho chứa... để giúp cho hoạt động mua bán diễn ra thuận lợi hơn, giảm đợc
những chi phí không cần thiết. Các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động
xuất khẩu ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động này nh:
Hệ thống giao thông, đặc biệt là hệ thống cảng biển, mức độ trang bị,
độ sâu của các cảng biển sẽ ảnh hởng đến khối lợng chuyên chở của từng
chuyến tàu. Tốc độ của các phơng tiện vận chuyển ảnh hởng đến tốc độ thực
hiện hợp động. Hệ thống cảng biển đợc trang bị hiện đại cho phép giảm bớt
thời gian bốc dỡ, thủ tục giao nhận cũng nh đảm bảo an toàn cho hàng hoá đ-
ợc mua bán.
Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đặc biệt là
con ngời có trình độ, kỹ năng càng cao thì ở đó thơng mại càng phát triển,
chuyên môn hoá càng sâu sắc.
Trong các yếu tố xã hội, nếu nh yếu tố con ngời là trung tâm thì bên
cạnh nó, yếu tố văn hoá cũng ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, đặc
biệt là trong công việc đàm phán ký kết hợp đồng.
Ngoài ra, các yếu tố tập quán và truyền thống giá trị xã hội trong một
nớc... đều ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu. Tập quán và truyền thống
ảnh hởng đến thị hiếu và thói quen tiêu dùng. Các sản phẩm tiêu dùng phù
hợp với giá trị xã hội, giá trị đạo đức thì đợc chấp nhận.
1.2.3- Chính trị, pháp luật và chính sách thơng mại.
Đây là nhóm yếu tố ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động xuất nhập khẩu.
Các nhà kinh doanh khi tham gia vào hoạt động này cần lu ý đến:
* Sự ổn định về mặt chính trị: đây là điều quan trọng nhất vì sự ổn định
về mặt chính trị sẽ dẫn đến ổn định về các chính sách vĩ mô, khiến cho các
nhà kinh doanh có thể yên tâm.
* Các chủ trơng, đờng lối của Nhà nớc. ở Việt Nam, điều này đợc thể
hiện trong các nghị quyết của Đảng.
*Sự hạn chế thơng mại với các nớc không thân thiện.
* Lập trờng và các chính sách quan hệ khu vực và quốc tế. Lập trờng
của Việt Nam là tăng cờng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị trên cơ sở
bình đẳng và cùng có lợi trong khu vực cũng nh phạm vi quốc tế.
* Các quy định của luật pháp của Việt Nam và các nớc đối với hoạt
động mua bán hàng hoá quốc tế (thuế, thủ tục quy định về mặt hàng xuất
khẩu, nhập khẩu...).
* Các hiệp ớc và hiệp định thơng mại mà Việt Nam và nớc có quan hệ
buôn bán tham gia.
* Các vấn đề về pháp lý và tập quán quốc tế.
* ý thức chấp hành luật pháp, chính sách, các quy định của Nhà nớc.
Các yếu tố chính trị, luật pháp, chính sách thơng mại sẽ ảnh hởng đến
công tác tổ chức, lập kế hoạch, lựa chọn các phơng án và hiệu quả của hoạt
Các yếu tố này luôn biến động. ở mỗi trạng thái hay xu hớng vận động khác
nhau của từng yếu tố, cũng nh toàn bộ hệ thống các yếu tố này sẽ tác động
trực tiếp, gián tiếp có lợi hay bất lợi khác nhau đối với hoạt động xuất nhập
khẩu. Do vậy, ở mỗi trạng thái cụ thể này của các yếu tố trên sẽ chứa đựng
trong nó những cơ hội, nguy cơ, thuận lợi khó khác nhau mà các nhà kinh
doanh phải đơng đầu.
Chính vì vậy để đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu có hiệu quả đòi
hỏi các nhà kinh doanh phải phân tích kỹ các trạng thái, xu hớng biến động
củ các yếu tố ảnh hởng, mức độ, chiều hớng tác động của chúng trong khi đề
ra các chiến lợc kế hoạch cũng nh tổ chức thực hiện các thơng vụ xuất nhập
khẩu.
1.3- Vài nét về tình hình xuất nhập khẩu ở Việt
Nam trong những năm qua (từ 1990 đến nay).
Trong những năm qua, Việt Nam mở rộng thị trờng ra nớc ngoài theo
hớng đa dạng hoá và đa phơng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại. Kim ngạch
xuất khẩu không ngừng gia tăng với tốc độ bình quân 2025%/năm. Tỷ trọng
xuất nhập khẩu có xu hớng tăng dần. Hàng hoá xuất khẩu chế biến ngày càng
đợc chú ý cải thiện. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu thay đổi, tỷ trọng nhập kỹ
thuật công nghệ, máy móc và thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ đợc nâng cao, đặc
biệt năm 1995, con số này là 75%. Hoạt động kinh tế đối ngoại, nhất là xuất
nhập khẩu đã giải quyết việc làm, tích cực đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thơng trờng
quốc tế.
Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam từ 1990 đến nay.
Đơn vị: triệu USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng kim
n gạch XNK
Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%)
1990 2402 123,5 2752 107,3 5154
1991 2087 86,8 2388 84,9 4475
tổng mức tăng kim ngạch xuất khẩu của năm 1999 so với năm 1998), nhng
hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nông sản cũng đã góp phần rất quan trọng.
Trớc hết việc xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, tăng 18,42% so với năm 1998 là
những nỗ lực rất lớn của nền kinh tế nớc ta. Điều đặc biệt quan trọng ở đây
là, Chính phủ đã có những giải pháp mạnh để giữ cho giá lúa gạo trong nớc
không bị rớt thê thảm nh trong năm 1997, và do vậy, bảo vệ cho đông đảo dân
c nông nghiệp trớc những biến động mạnh của thị trờng thế giới. Bên cạnh
đó, hoạt dộng xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, rau quả là những
mặt hàng chủ yếu hoặc hoàn toàn do khu vực nông thôn sản xuất vốn rất trì
trệ trong những năm trớc đây và cũng là những mặt hàng mà nớc ta có những
tiềm năng rất lớn đã có những nét khởi sắc rất đang khích lệ, đã đạt mức tăng
trởng rất cao: tới 48,65% và 29,82% so với năm 1998. Ngoài ra, xuất khẩu các
mặt hàng thuỷ sản, hạt tiêu, cao su cũng đã có những chuyển biến mới.
Về nhập khẩu, năm 1997, tổng kim ngạch nhập khẩu cả năm ớc đạt
11200 triệu USD, chỉ tăng 0,5% so với năm trớc, nhập siêu chỉ còn 2350 triệu
USD, bằng 60,4% mức nhập siêu của năm 1996. Năm 1999, tổng kim ngạch
nhạp khẩu đạt 11,6 tỷ USD, tăng 0,9% so với năm 1998. Tuy nhiên, trên thực
tế, nhập khẩu tăng không đáng kể là do giá hàng nhập khẩu vẫn tiếp tục giảm,
còn khối lợng hàng nhập khẩu vẫn tăng, đặc biệt là các mặt hàng nhập khẩu
chủ lực là nguyên, nhiên, vật liệu và thiết bị, phụ tùng phục vụ cho sản xuất.
Những kết quả trên là rất đáng khích lệ và tạo đà cho những năm tiếp
theo. Tuy nhiên, trớc yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nớc và mục tiêu trên của ngành, trớc yêu cầu hội nhập quốc tế và so sánh với
các nớc trong khu vực thì thấy những kết quả đó còn rất nhỏ bé, còn nhiều
thách thức phải vợt qua.
Chơng 2: thực trạng hoạt động
xuất khẩu một số mặt hàng nông sản
chủ yếu ở việt Nam gạo từ năm 1990
đến nay.
2.1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối
mạnh mẽ, đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ
hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hớng ngoại trong
quá trình công nghiệp hoá hiện nay ở nớc ta là phù hợp với xu hớng phát triển
kinh tế thế giới. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản
xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất
vợt quá nhu cầu nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm
phát triển nh nớc ta, sản xuất về cơ bản cha đủ để tiêu dùng, nếu chỉ thụ động
ở sự d thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và chậm chạp. Hơn
nữa, nó không góp phần chuyên môn hoá sản xuất và thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế đi theo hớng có lợi.
Hai là, coi thị trờng và đặc biệt là thị trờng thế giới là hớng quan trọng
để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy sản xuất páht triển. Sự tác động của xuất khẩu đối với sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan có điều kiện phát
triển thuận lợi. Chẳng hạn khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ
hội cho việc phát triển ngành nh bông hay thuốc nhuộm. Sự phát triển của
công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu (dầu thực vật, chè...) kéo theo sự
phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị.
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ, cung cấp đầu vào
cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nớc.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thờng
xuyên năng lực sản xuất trong nớc. Nói cách khác, xuất khẩu la cơ sở tạo
thêm vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam
nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nớc ta.
Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trờng thế giới về gía cả chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi
phải tổ chức lại sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trờng.
Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trờng thế giới về quy cách, chất lợng
sống thực tế giữa các tầng lớp dân c ở nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau. Hơn
nữa, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn nhập khẩu về vật phẩm tiêu dùng thiết yếu
phục vụ cho đời sống, và đáp ứng ngày càng phong phú thêm nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân.
2.1.4. Xuất nhập khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc
đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng, hoạt động xuất
khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy
các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu
thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu t, vận tải quốc tế... Đến lợt nó, chính các quan
hệ kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện tiền đề mở rộng xuất nhập khẩu chẳng
hạn nh việc ký kết các hiệp định và tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu
vực lại khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu.
Nh vậy, nhận thức đợc vai trò của xuất nhập khẩu, đối với nớc ta, một
quốc gia đang chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc
thì hoạt động xuất khẩu đợc đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong
việc thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế xã hội. Không thể nào xây dựng đợc một
nền kinh tế hoàn chỉnh nếu chỉ dựa trên nguyên tắc tự cung tự cấp, vì nó
đòi hỏi rất tốn kém về vật chất và thời gian và cũng khó mà đạt đợc hiệu quả
nh mong đợi. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh nâng cao hiệu quả của hoạt động
xuất khẩu mở rộng ngoại thơng, trên cơ sở Hợp tác bình đẳng không phân
biệt thể chế chính trị và đôi bên cùng có lợi nh Nghị quyết của Đại hội Đảng
lần thứ VII đã khẳng định.
Hơn nữa, nớc ta còn là một trong những nớc có trình độ thấp, những
nhân tố thuộc tiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ. Còn những
nhân tố thiếu là: vốn, kỹ thuật, thị trờng và khả năng quản lý thì việc mở rộng
quan hệ buôn bán giữa nớc ta với nớc ngoài là điều kiện quan trọng thúc đẩy
sự phát triển nền kinh tế. Muốn phát triển nền kinh tế ta phải dựa vào sự đầu t
về vốn, kỹ thuật từ nớc ngoài trong đó kết hợp tận dụng điều kiện nguồn lao
năng về sản xuất và xuất khẩu các nông sản khác cha đợc khơi dậy và phát
triển. Chính điều này làm cho sự cách biệt giữa các vùng sản xuất nông
nghiệp trong nớc trở nên lớn hơn và khả năng mở rộng danh mục sản phẩm
nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cũng bị hạn chế.
Hai là, sự manh mún về ruộng đất, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất
lao động thấp, trình độ phát triển thị trờng ở các khu cực nông thôn yếu
kém..., dẫn đến trì trệ trong quá trình phát triển nền sản xuất nông nghiệp
hàng hoá, đặc biệt là nền sản xuất nông nghiệp hớng đến xuất khẩu. Quy mô
các nguồn hàng nông sản nhỏ, phân tán, không kích thích đợc các hoạt động
chế biến nông sản phát triển và tạo ra các sản phẩm có tính xã hội hoá cao,
đáp ứng đợc nhu cầu tiêu thụ trong nớc và xuất khẩu.
Ba là, những khó khăn về vốn đầu t và trình độ hiểu biết về công nghệ
chế biến nông, làm hạn chế phát triển công nghệ chế biến nói chung và chất
lợng sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu nói riêng. Nhìn tổng thể, hàng nông
sản xuất khẩu của Việt Nam phần lớn vẫn ở dạng thô và nguyên liệu, thu gom
là chính từ các vùng lãnh thổ khác nhau, nên chất lợng hàng hoá thấp và
không đồng đều. Bên cạnh đó, công nghệ chế biến còn quá lạc hậu, chủ yếu
đợc hình thành trong cơ chế cũ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp nên
hầu hết các trang thiết bị, máy móc và công nghệ đã lạc hậu hàng chục thế hệ,
không thích hợp với nền kinh tế thị trờng hiện nay. Các xí nghiệp, kho tàng,
bến bãi, máy móc, thiết bị cồng kềnh, đồ sộ nhng lại kém hiệu quả, các định
mức tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu thờng rất cao, mà sản phẩm sản xuất ra
chất lợng lại thấp. Tuy có nhiều doanh nghiệp rất tích cực đổi mới công nghệ
tiên tiến, nhng nguồn vốn lại hạn hẹp, do vậy trớc tình hình đó, nhiều nghành,
nhiều doanh nghiệp thờng sử dụng chắp vá, không đồng bộ và kèm theo đó là
tổ chức sản xuất và bộ máy quản lý cồng kềnh, bất cập với công nghệ, đang là
những cản lực trong cạnh tranh. Ngày nay, sự nắm vững công nghệ cao đang
mang lại cho các doanh nghiệp sức cạnh tranh lớn trên thị trờng thế giới, nhất
là các thị trờng có sức mua và yêu cầu chất lợng sản phẩm cao.
Bốn là, năng lực tiếp cận và khả năng đáp ứng các đòi hỏi của thị trờng
ờng trọng điểm của Việt Nam. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và các dịch vụ
xuất khẩu (nh kho tàng, vận chuyển, bốc dỡ, kiểm định chất lợng...) yếu kém,
vừa không hấp dẫn khách hàng, vừa tăng chi phí lu thông. Ngoài ra còn một
yếu tố nữa là chúng ta còn tuỳ thuộc hàng các nớc nghèo, lại cha phải là
thành viên của một số tổ chức kinh tế quan trọng... nên khó tránh khỏi bị yếu
thế trong giao dịch buôn bán (ngay cả trờng hợp mà lẽ ra Việt Nam đợc coi là
một cờng quốc xuất khẩu gạo, cà phê...). Đó là cha kể đến những thị trờng
mang mầu sắc chính trị do các nớc lớn áp đặt.
Sáu là, về mặt chính sách, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, tuy đã linh
hoạt hơn, thông thoáng hơn, song trong nhiều trờng hợp cụ thể vẫn còn
những vớng mắc, thiếu cụ thể, bất hợp lý, nặng về mặt kiểm tra, giám sát, cha
chú trọng về tạo điều kiện, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Thủ tục hải quan
nhiều khi cứng nhắc, thiếu thực tế, thuế còn cao và có chỗ bất hợp lý; một số