Tác động của việc Việt Nam hội nhập kinh tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020 - Pdf 12

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UNDP : Chương trình phát triển liên hợp quốc.
UNIFEM : Quỹ phát triển dành cho phụ nữ của liên hợp quốc.
WTO : Tổ chức thương mại quốc tế.
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật.
LLLĐ : Lực lượng lao động.
TNTH : Tốt nghiệp tiểu học.
TN THCS : Tốt nghiệp trung học cơ sở.
TN THPT : Tốt nghiệp trung học phổ thông.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Đặt vấn đề
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là từ tháng
1 năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) đã tạo điều kiện cho Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong tăng
trưởng kinh tế và các mục tiêu xã hội.
Trong khi các thành tựu kinh tế do tác động WTO có vẻ khả quan, thì các tác
động về lao động và xã hội rất phức tạp. Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy,
trong thời kỳ ngắn hạn và trung hạn, đối với các nước nền kinh tế yếu, chậm điều chỉnh,
thì các tác động xã hội tiêu cực nhiều hơn là tích cực, đặc biệt là một bộ phận dân chúng
sẽ bị chịu nhiều thiệt thòi do tăng trưởng không đồng bộ với các yếu tố xã hội. Trong
nhiều trường hợp, phụ nữ, những người sản xuất nhỏ sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn do mất
việc làm, bất bình đẳng tăng lên. Thu nhập của người lao động có thể sẽ kém đi do sự
bất ổn định của thu nhập và việc làm do các điều chỉnh về chính sách trong khu vực nhà
nước và giá cả đầu vào, đầu ra sản xuất…
Xu thế của Việt Nam sau 1 năm hội nhập WTO phản ánh xu hướng này. Năm
2007, chỉ số giá tiêu dung lương thực thực phẩm tăng 13,9%; chỉ số giá chung tăng
9,5%; vượt xa so với mức chỉ tiêu kế hoạch (dự kiến dưới mức tăng trưởng GDP). Đặc
biệt, trong 3 tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dung đã tăng đến mức 12%.
Các kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ năm 2007 của Viện KHLĐ cho thấy, hội
nhập và đặc biệt là gia nhập WTO có những tác động không thuận đối với lao động, việc

tế đến việc làm của lao động nữ đến năm 2020”
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích trước hết của chuyên đề thực tập là đưa ra cơ sở lý luận về vấn đề tác
động của việc Việt Nam hội nhập kinh tế đến việc làm của lao động nữ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3
Mục đích thứ hai là: phân tích thực trạng sự tác động của hội nhập đến việc làm
của lao động nữ.
Mục đích thứ ba là: phân tích đánh giá thực trạng cung lao động nữ trên hai mặt
đó là số lượng và chất lượng.
Mục đích thứ tư là: Dựa trên phân tích thực trạng sự tác động của hội nhập đến
việc làm lao động nữ trong thời gian vừa qua, để từ đó đưa ra hướng giải quyết việc làm
trong tương lai của lao động nữ. Vì vậy, cần có những chính sách ưu tiên và hợp lý hơn
cho lao động nữ phát triển khả năng của mình. Khi đó lao động nữ sẽ nhận được những
công việc tốt khi Việt Nam tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế thới. Ngoài ra, thấy
được sự phân biệt giữa lao động nam và lao động nữ trong thị trường lao động, nhất là
quá trình chúng ta hội nhập sâu vào thương mại quốc tế.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố về việc làm, hội nhập và lao động nữ.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự tác động của việc Việt Nam hội nhập kinh tế đến việc làm
của lao động nữ ở tầm vĩ mô cho toàn nền kinh tế. Do kiến thức về hội nhập là rất rộng,
vì vậy đề tài của tôi xin tập trung phân tích sự tác động của WTO đến việc làm của lao
động nữ đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp các tài liệu thứ cấp trong và ngoài nước.
- Phương pháp thu thập số liệu thống kê.
- Phương pháp dự báo bằng phương pháp chuyển tuổi nhằm xác định số lượng lao động
nữ.
- Phương pháp chuyên gia: Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia lấy ý kiến tham vấn
về xu hướng tác động của tăng trưởng kinh tế, hội nhập tới việc làm của lao động nữ đến

khó khăn. Mở cửa buôn bán biên giới với Trung Quốc, hàng hoá nước bạn tràn vào đẩy
doanh nghiệp nước ta vào thế bị động, một số ngành sản xuất "lao đao", một số doanh
nghiệp phải giải thể. Tuy nhiên với thời gian, các doanh nghiệp nước ta đã vươn lên, trụ
vững và đã có bước phát triển mới.
Nhiều doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ sản xuất, cải tiến kiểu dáng, mẫu mã,
nâng cao chất lượng sản phẩm, nhờ đó mà tăng được sức cạnh tranh, phát triển được sản
xuất, mở rộng được thị trường.
Thực hiện các cam kết theo hiệp định mậu dịch tự do ASEAN, chúng ta đã loại
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
bỏ hàng rào phi quan thuế, giảm thuế nhập khẩu. Đến năm 2006, có 10.283 dòng thuế
chiếm 99,43% biểu thuế nhập khẩu ASEAN có thuế suất chỉ ở mức 0 - 5%, nhưng các
ngành sản xuất của ta vẫn phát triển với tốc độ cao. Trong nhiều năm qua, sản xuất công
nghiệp tăng trung bình 15 - 16%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng trung bình trên
20%/năm là nhân tố quan trọng bảo đảm tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm.
Điều đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài là tiến trình đổi mới kinh tế theo
cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã từng bước xuất hiện lớp cán bộ trẻ có trình độ
chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ, xuất hiện một đội ngũ những nhà doanh nghiệp
mới, có kiến thức, năng động và tự tin, dám chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu với cạnh
tranh. Đây là nguồn lực quý báu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhận thức được toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày
càng nhiều nước tham gia, năm 1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới và kiên trì đàm phán và cải tổ để được gia nhập tổ chức này.
1.2 Các mốc đánh dấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam.
- 4-1-1995: Đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam được Đại hội đồng tiếp nhận.
- 31-1-1995: Ban xem xét công tác gia nhập (WP) của Việt Nam được thành lập với chủ
tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO.
- 24-8-1995: Việt Nam nộp bị vong lục về chế độ ngoại thương VN và gửi tới Ban thư
ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác.
Năm 1998-1999: Các phiên hỏi và trả lời với ban xem xét công tác xét duyệt.

* 11/1998 gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dương ( APEC) : 21
thành viên.
* 7/2000: Ký Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ ; có hiệu lực thi
hành từ 10/12/2001.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
* 9/2003: Ký kết hiệp định bảo hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản
* 7/11/2006 Việt Nam chính thức gia hội nhập với tổ chức thương mại thế giới (WTO)
2. Việc làm
2.1. Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng.
Khái niệm việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính
xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thị trường.
Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức
lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con
người.
Theo bộ luật lao động ở nước ta, khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi hoạt
động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều thừa nhận là việc làm”.
Từ quan niệm trên cho thấy, khái niệm việc làm bao gồm các nội dung sau:
- Là hoạt động lao động của con người.
- Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập.
- Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm.
Số lượng việc làm trong nền kinh tế phản ánh cầu lao động. Về lý thuyết, cầu lao
động cho thấy số lượng lao động mà các tổ chức (đơn vị) kinh tế sẵn sàng thuê (sử dụng)
để tiến hành các hoạt động kinh tế với mức tiền lương nhất định.
Cầu lao động phụ thuộc chủ yếu vào quy mô sản lượng và hệ số co giãn việc làm
đối với sản lượng (đầu ra).
Quan hệ giữa việc làm và đầu tư thường được các nhà kinh tế xem xết qua chỉ
tiêu mức đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc mới chẳng hạn ở nước ta, theo tính toán của
các chuyên gia kinh tế mức đầu tư trung bình cho một chỗ làm việc mới khoảng 39,3
triệu đồng (cuối những năm 90).
Mức đầu tư cần thiết để tạo việc làm có quan hệ với công nghệ sản xuất. Những

khác còn phụ thuộc vào qui trình chuyển dịch cơ cấu sản lượng ngành nông nghiệp trong
GDP.
Trong khu vực thành thị, tỷ lệ “người tự làm việc” có xu hướng giảm đi khi nền
kinh tế phát triển và quá trình công nghiệp hóa được tiến hành với quy mô mở rộng.
2.2.3 Thị trường lao động nữ bị phân mảng.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển, lao động nữ được di chuyển khá linh hoạt
giữa các ngành nghề và khu vực kinh tế khác nhau do vậy sự chênh lệch về tiền lương
giữa các khu vực có xu hướng giảm đi và thị trường lao động bị chia cắt. Tuy nhiên ở
nước ta có sự chênh lệch rất đáng kể về mức độ tiền lương và các điều kiện lao động
giữa khu vực thành thị và nông thôn; giữa khu vực chính thức và khu vực không chính
thức hay nói cách khác, thị trường lao động nữ bị phân mảng và là sự tập hợp của các
thị trường. Mỗi thị trường có cơ chế vận động khác nhau, khả năng chuyển đổi việc làm
giữa các thị trường này thường là rất khó khăn.
2.3 Cơ cấu việc làm và thị trường lao động ở nước ta.
2.3.1 Thị trường lao động khu vực thành thị chính thức
Khu vực thành thị chính thức là khu vực bao gồm các tổ chức (đơn vị) kinh tế có
quy mô tương đối lớn và hoạt động ở nhiều lĩnh vực như sản xuất (công nghiệp, xây
dưng); dịch vụ (ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế, du lịch…)và lĩnh vực quản lý.
Các tổ chức (đơn vị) này trong quá trình hoạt động có đặc điểm.
- Hoạt động theo luật và quy định của Nhà nước, chẳng hạn như quy định về
lương tối thiểu, an toàn lao động, đền bù cho người lao động…
- Dễ dàng tiếp cận với các nguồn lực (vốn, công nghệ, lao động có trình độ).
- Có cơ cấu tổ chức tương đối hoàn chỉnh (ban lãnh đạo, các phòng – ban chức
năng, phân xưởng sản xuất).
- Phải làm nghĩa vụ thuế với Nhà nước (thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu
nhập cá nhân).
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11
Xu hướng phổ biến là người lao động luôn chờ đón cơ hội được làm việc ở khu
vực chính thức. Vì họ có được việc làm và thu nhập tương đối ổn định. Tuy nhiên, mức
cung về việc làm hay cầu lao động là tăng chậm do vậy tại thị trường lao động khu vực

thôn ra đều có mức thu nhập trung trình cao hơn khu vực nông thôn.
2.3.3 Thị trường lao động trong khu vực nông thôn
Khu vực nông thông là khu vực mà việc làm chủ yếu trong nông nghiệp, việc
làm phi nông nghiệp (công nghiệp chế biến, dich vụ…) chiếm tỷ lệ nhỏ. Xu hướng
chung là, khi kinh tế phát triển, khu vực nông thôn phát triển, việc làm phi nông nghiệp
tăng ở khu vực nông thôn, thị trường lao động khu vực nông thôn sẽ phát triển sôi động
hơn.
Thị trường lao động khu vực nông thôn có những đặc điểm sau:
- Người lao đông chủ yếu làm việc trong kinh tế hộ gia đình, lao động tự làm là
chính. Mục đích làm việc là để góp phần cùng các thành viên khác trong gia
đình tăng sản lượng (tăng thu nhập). Quan hệ làm công ăn lương chưa phát
triển.
- Cung lao động khu vực nông thôn co giãn nhiều vì khu vực này có tỷ lệ tăng
dân số nhanh so với khu vực thành thị. Cầu lao động lại ít co giãn vì cơ cấu
sản xuất nông thôn chậm thay đổi, các nguồn lực cho sản xuất bị hạn chế.
Tiền công ở thị trường này được xác định ở điểm cân bằng. Điều này cũng phản
ánh người lao động luôn tìm được việc làm. Họ chấp nhận việc làm giản đơn, nặng nhọc
và tiền công thấp và thấp hơn mức tiền công ở khu vực thành thị không chính thức.
Thị trường lao động ở khu vực nông thôn ở nước ta có những đặc trưng sau:
- Là thị trường phôi thai, quan hệ thuê mướn lao động, quan hệ làm công ăn
lương chưa phát triển. Sự thỏa thuận trong quan hệ thuê mướn lỏng lẻo, thường không
có hợp đồng lao động, hình thức đổi công làm thuê theo công nhật, vụ việc là chính.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13
- Quan hệ cung cầu lao động ở nông thôn thể hiện sự dư thừa lao động tiềm
cũng có ý nghĩa là ở tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng.
- Thị trường lao động khu vực nông thôn phát triển ở trình độ thấp: tiền công
(trả cho lao động phổ thông, lao động đại trà) trên thị trường rất thấp; tính cạnh tranh
không cao; tính linh hoạt và thích ứng của lao đông là rất hạn chế.
3. Lao động nữ
3.1 .Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động nữ.

thị và nông thôn – Năm 2005, ở khu vực thành thị, cứ 100 người tham gia lực lượng lao
động nữ thì có khoảng 43 người tốt nghiệp PTTH cao gấp 3,5 lần so với chỉ số này ở
nông thôn. Trong khi đó, tỷ lệ mù chữ ở nông thôn lại cao gấp 4 lần so với khu vực
thành thị. Trong giai đoạn 2000-2005, nhìn chung trình độ học vấn của lao động nữ ở cả
khu vực thành thị và nông thôn đều được nâng lên, tuy nhiên mức độ cải thiện chưa
nhiều – Năm 2005, tỷ lệ tốt nghiệp PTTH là 43,25% ở khu vực thành thị và 12% ở khu
vực nông thôn, tăng tướng ứng 5,86 và 2,71 điểm phần trăm so với năm 2000. Trong khi
đó, tỷ lệ lao động nữ mù chữ giảm không đáng kể ở khu vực thành thị, thậm chí ở khu
vực nông thôn tỷ lệ này còn tăng them 0,15% lên mức 6,21% ở năm 2005. Điều đó cho
thấy, hiện tượng tái mù chữ trong LLLĐ nữ ở khu vực nông thôn đang là vấn đề được
quan tâm.
Nhìn chung, trình độ học vấn của LLLĐ nữ thấp hơn so với của LLLĐ nam –
Năm 2005, tỷ lệ lao động nữ ở các trình độ từ tốt nghiệp tiểu hiểu học trở xuống (mù
chữ, chưa tốt nghiệp tiểu học, tốt nghiệp tiểu học) trong tổng LLLĐ nữ đều cao hơn so
với các tỷ lệ tương ứng ở LLLĐ nam lần lượt là 2; 2,27 và 0,29 điểm phần trăm. Trong
khi đó, ở các nhóm trình độ cao hơn (TN THCS, TN PTTH), tỷ lệ lao động nữ lại thấp
hơn so với các tỷ lệ tương ứng của lao động nam, lần lượt là 1,43 và 3,14 điểm phần
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15
trăm. Tuy nhiên các khoảng các này thường có xu hướng hẹp lại trong giai đoạn 2000-
2005 (hình 1).
Hình 1: Khoảng cách về trình độ học vấn giữa lao động nữ và lao động nam từ đủ
15 tuổi trở lên, năm 2000 và 2005 (ĐV: điểm phần trăm)
Nguồn: số liệu điều tra lao động việc làm 2000, 2005-bộ lao động, thương binh và xã hội.
2> Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ.
Năm 2005, cả nước có 4.501.788 lao động nữ có trình độ chuyên môn kỹ thuật
(TĐ CMKT), chiếm 20,82% trong tổng LLLĐ nữ. Trong đó, số lao động nữ có trình độ
sơ cấp, học nghề và công nhân kỹ thuật (CNKT) không có bằng chiếm 9,17%; CNKT có
bằng chiếm 1,66%; Trung học nghề và trung học chuyên nghiệp chiếm 4,72%; cao đẳng,
đại học trỏ lên chiếm 5,26% trong tổng LLLĐ nữ. Tỷ lệ lao động nữ có TĐ CMKT thấp
hơn so với tỷ lệ này của LLLĐ cả nước (20,82% so với 25,33%).

hơn rất nhiều so với cơ cấu lao động nữ chia theo trình độ học vấn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17
Hiện nay, cơ cấu lao động nữ theo TĐ CMKT của Việt Nam chưa hợp lý – Tỷ lệ
tương quan giữa lao động có trình độ tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học trở lên/lao động có
trình độ tốt nghiệp trung học nghề và trung học chuyên nghiệp/lao động đã qua đào tạo
nghề (bao gồm đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn) của cả nước vào năm 2005 là 1 - 0,86
– 2,74 (của LLLĐ nam là 1 – 0,82 – 3,34). Trong khi đó, tỷ lệ tương quan này của
LLLĐ nữ mới chỉ là 1- 0,9 – 2,06
Hình 3: Cơ cấu lực lượng lao động nữ từ đủ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật, của chung cả nước, thành thị và nông thôn, năm 2000-2005
(Nguồn: số liệu điều tra lao động việc làm 2000, 2005-bộ lao động, thương binh và xã hội.)
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ nữ giữa khu vực thành thị và nông thôn
có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên, tình trạng này đến năm 2005 đã tốt hơn nhiều so với năm
2000- Năm 2000, ở nông thôn, lao động nữ có TĐ CMKT chiếm 6,93%; ở thành thị tỷ lệ
này là 32,12% lớn gấp 4,6 lần so với khu vực thành thị và khu vực nông thôn này đã
giảm còn 3,4 lần (Tỷ lệ lao động nữ có TĐ CMKT ở thành thị là 44,84% so với tỷ lệ lao
động nữ có TĐ CMKT ở nông thôn là 13,7%).
LLLĐ nữ có TĐ CMKT thấp hơn so với LLLĐ nam cả về số lượng và tỷ lệ tất
cả các cấp trình độ- Năm 2005, số lượng LLLĐ nữ có TĐ CMKT chỉ bằng 66,79% lao
động nữ có trình độ sơ cấp, học nghề và CNKT không có bằng và CNKT có bằng trong
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18
tổng LLLĐ nữ thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ này là LLLĐ nam (tương ứng -4,66;-3,65
và -0,01 và -0,48 điểm phần trăm). Trong khi đó, số lượng lao động nữ chưa qua đào tạo
cao hơn 6,9% so với số lao động nal chưa qua đào tạo (17.122.423 người so với
16.017.572 người). Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo trong tổng số LLLĐ nữ cũng cao
hơn 8,8 điểm phần trăm so với tỷ lệ lao động nam chưa qua đào tạo (79,19% so với
70,38%). Tuy nhiên, xu hướng này thể hiện rõ hơn ở khu vực thành thị - khoảng cách về
TĐ CMKT giữa lao động nam và lao động nữ ở khu vực thành thị lớn hơn so với ở khu
vực nông thôn.
Hình 4: khoảng cách trong TĐ CMKT giữa lao động nam từ đủ 15 tuổi trở lên

chuyên trách về bảo hiểm lao động, do đó, gần một nửa phụ nữ hầu như không được
huấn luyện định kỳ về bảo hộ lao động và chỉ có 1/3 số công nhân nữ biết các quy tắc an
toàn vệ sinh lao động. Đáng lo hơn, gần 70% lao động nữ trong các doanh nghiệp
thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại. Tuy nhiên, số doanh nghiệp có cán
bộ y tế cũng không nhiều. Theo ước tính, có khoảng 44% doanh nghiệp không tổ chức
khám sức khỏe định kỳ cho người lao động. Mặc dù chúng ta đã có những chính sách,
những văn bản được chế định bằng pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho người lao động
nhưng trên thực tế còn thiếu đồng bộ và chậm được thực thi nếu không muốn nói rằng,
nó không được thực hiện chặt chẽ, đầy đủ ở nhiều nơi.
Thiết nghĩ, để bảo vệ sức khỏe, chế độ làm việc cho lao động nữ, cần phải có sự
quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự quan tâm của các cơ quan
chuyên trách về vấn đề này như y tế, tổ chức công đoàn, tiền lương, bảo hiểm v.v…
Đồng thời, Nhà nước cần nâng cao hơn nữa hiệu lực của Luật Lao động, tăng cường,
đầu tư thêm các cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ quan, xí nghiệp trong phạm vi quản lý
để giảm thiểu môi trường làm việc độc hại cho công nhân lao động, có thêm những
chính sách, chế độ ưu tiên cần thiết cho công nhân viên chức, đặc biệt là giới nữ khi hoạt
động trong môi trường độc hại. Bảo vệ sức khỏe cho phụ nữ, chính là bảo vệ sức khoẻ
cho các bà mẹ - bảo vệ cho con người mà họ là tiền thân của cả một thế hệ tương lai.
3.2.2 Các yếu tố khách quan
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 21
Ngoài các yếu tố chủ quan bên trên, lao động nữ cũng bị tác động rất nhiều từ
các nhân tố khác quan, nó được thể hiện rõ nhất từ việc nhận thức từ phía người lao
động.
Do điều kiện và nhận thức của tường hộ gia đình, các trẻ em gái có xu hướng bỏ
học và đi làm sớm (nhất là ở vùng nông thôn). Tình trạng này ảnh hưởng không nhỏ tới
chất lượng lao động nữ trong công việc và khó có thể đáp ứng được các đòi hỏi của sự
nghiệp Ngoài trình độ tay nghề thấp, đa số lao động nữ có tình trạng sức khỏe kém hơn
nam. Do phải đảm nhậh chức năng sinh đẻ, nên lao động nữ phải mất hàng thập kỷ để tái
hồi lại, cho nên bị hạn chế về mặt sức khỏe. Vì vậy phụ nữ chỉ có thể làm việc ở một số
nghề và một số công việc nhất định phù hợp với khả năng của lao động nữ.

Mặt khác, tính cơ động (cả về mặt địa lý và nghề nghiệp) của lao động nam là
cao hơn nữ. Nữ thường chịu nhiều ảnh hưởng của phong tục tập quán và đặc biệt là gánh
nặng gia đình. Vai trò làm vợ, làm mẹ tỏng gia đình không cho phép chị em di chuyển đi
tìm việc làm tốt hơn. Chính vì vậy phụ nữ ít có điều kiện và cơ hội để tiếp cận với nguồn
thông tin tuyển dụng lao động. Và điều này hạn chế khả năng có việc làm của phụ nữ
được thể hiện ở bảng sau đây:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22
Bảng: nguồn tiếp cận thông tin tuyển lao động của người lao động (%)
Báo chí, TV Người nhà,
quen giới thiệu
Trung tâm giới
thiệu
Khác
QD: Nữ
Nam
13,64
28,57
68,18
71,43
2,27
0,00
15,91
0,00
NQD: Nữ
Nam
0,00
16,67
71,43
58,33
0,00

thuộc được đại diện bởi đàn ông. Đời sống hành động cách nghĩ và tình cảm của phụ nữ
là những thứ vụn vặt thứ yếu hoặc không cần gây sự chú ý, hoặc không cần thiết phải
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 23
xem xét cụ thể. Còn vai trò của người chồng là người chủ, đóng góp chính cho thu nhập
gia đình. Chính vì thế mà nó đã làm ảnh hưởng tới việc phát huy tiềm năng của phụ nữ,
điều này vẫn còn tồn tại khá nhiều trong những gia đình nông dân ở Việt Nam.
Sự chênh lệch về cơ hội có việc làm và việc làm có thu nhập cao có thể giải
thích bằng sự khác biệt về phân bố thời gian lao động trong ngày giữa phụ nữ và nam
giới. Phụ nữ phải giành nhiều thời gian hơn cho những công việc không được tính công
trong công việc gia đình. Trong khi đó nam giới đầu tư nhiều thời gian vào công việc
được xã hội trả công. Các chị đòi hỏi công bằng và bình đẳng ở đây không phải là vợ và
chồng phải làm một khối lượng các công việc gia đình là như nhau mà là sự kết hợp hài
hòa các công việc gia đình giữa vợ và chồng. Đặc biệt là thái độ của nam giới phải biết
thông cảm và tôn trọng vợ, giúp đỡ họ có điều kiện để học tập, nâng cao trình độ có cơ
hội tham gia lao động sản xuất.
Kết quả nghiên cứu ngẫu nhiên trên 417 người trong đó có 336 nữ và 81 nam cả
lao động trực tiếp và gián tiếp của hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội (1/1999) cho thấy nữ
công nhân lao động đảm nhận hầu như gần hết việc nhà với sự khác biệt được thống kê
rõ rệt:
- Đi chợ hàng ngày: 78,3% trong khi nam giới chỉ có tỷ lệ nhỏ 11,11% xu hướng
phải đi chợ hàng ngày của nữ cao gấp 28,8 lần so với nam.
- Giặt giũ: 91,1% nữ so với 8% nam giới có xu hướng nữ cao hơn nam 93,1 lần.
- Việc nấu ăn: 91,1% nữ phải nấu ăn so với 16,05 nam phải nấu ăn,có nguy cơ
cao hơn 53,4 lần nam.
- Thời gian nghỉ ngơi trê 6h của nữ ít hơn nam nhiều (46,4% so với 98,77%) có
nguy cơ giảm xuống dưới 6h gấp 1,3 lần nam.
Lao động gia đình tuy không trực tiếp làm ra sản phẩm hàng hóa, nhưng giá trị
dịch vụ của nó vẫn đóng góp trong tổng sản phẩm xã hội. Nếu nhìn từ góc đọ gia đình
thì đó là khoản tiền tiết kiệm, lẽ ra phải được tính vào khoản tiền thu nhập của người
phụ nữ, bởi nó cũng đòi hỏi phải tiêu hao thời gian, sự huy động sức lực cơ bắp và trí tuệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status