KHÓA HỌP LẦN THỨ BẨY
KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
Tác động xã hội của hội nhập kinh tế quốc
tế và gia nhập WTO ở Việt Nam
GS.TS. Trịnh Duy Luân
Viện trưởng Viện Xã hội học
TS. Nguyễn Xuân Mai
1.2. HNKTQT làm gia tăng mức sống của các nhóm dân cư và hỗ trợ công cuộc giảm nghèo.............. 61.3. HNKTQT đang làm gia tăng sự phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã hội.......................................... 91.4. Vấn đề việc làm, quan hệ lao động, di cư trong quá trình HNKTQT: .............................................. 12MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH: .................................................................................................................. 182.1 - Lựa chọn ưu tiên các mục tiêu phát triển: ...................................................................................... 182.2
Cần tiếp tục đổi mới thể chế và nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước phù hợp với
tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến đổi xã hội và với điều kiện của một nền kinh tế thị trường.................. 192.3 - Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn dân phù hợp với quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang
nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và quá trình HNKTQT................................................... 192.4. Xã hội hóa các dịch vụ xã hội cơ bản, nhưng đảm bảo việc tiếp cận dễ dàng đối với các nhóm xã
hội yếu thế............................................................................................................................................... 20
liệu, phân tích và nhận định về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong 2 thập kỷ Đổi mới
vừa qua, đặc biệt là trong khoảng 10 năm gần đây. Việc gia nhập WTO là một mốc rất
quan trọng đánh dấu quá trình hội nhập kinh tế qu
ốc tế. Tác động của việc gia nhập WTO
này là chưa thể đo lường khi nước ta mới gia nhập tổ chức này được nửa năm. Vì vậy,
những nhận định về cơ hội, thách thức, tác động xã hội của hội nhập quốc tế và gia nhập
WTO trong báo cáo này chỉ là những giả thuyết và cần được nghiên cứu sâu sắc hơn. Có
thể xem đây là một cố gắng bướ
c đầu của chúng tôi muốn có một số nhận định chung về
những tác động xã hội của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
HNKTQT đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, đồng thời đã và đang tác động
trực tiếp và gián tiếp, tích cực lẫn tiêu cực, phức hợp và đa diện, về mặt xã hội. Những tác
động này có thể t
ương tác với các tác động kinh tế, chính trị với những hệ quả tích hợp.
Tác động xã hội của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có thể được phản ánh gián tiếp
thông qua tác động của quá trình này đến tăng trưởng kinh tế, từ đó thúc đẩy sự phát triển
con người, làm gia tăng mức sống, giảm nghèo, phân tầng xã hội, hay góp phần làm biến
đổi cơ cấu kinh tế và qua đó biến đổi c
ơ cấu xã hội, tác động đến quản lý kinh tế và xã
hội, đến sự thay đổi thể chế và công nghệ và làm biến đổi con người và các nhóm xã hội
về tư duy, về hành vi kinh tế và xã hội, về tác phong làm việc... hay tác động trực tiếp đến
quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các tổ chức kinh tế và xã hội, đến bất bình đẳng xã
hội, cũng như đến xóa đói giảm nghèo, đến quan hệ xã hộ
i về lao động như làm tăng sự
hợp tác cũng như nguy cơ xung đột giữa lao động Việt nam với giới sử dụng lao động
nước ngoài, tăng cơ hội tiếp cận với y tế, giáo dục chất lượng cao, tăng khả năng di cư và
di chuyển lao động hay tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc duy trì và bảo vệ các giá trị
và di sản văn hóa truyền thống…
HNKTQT thúc đẩy sự gia tăng mức sống, giảm nghèo, nhưng cũng làm gia tăng
ứng
khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
vấn đề quan trọng này. Trong khuôn khổ báo cáo này, một số
tác động xã hội của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập
WTO được tập trung phân tích:
1) Hội nhập KTQT đã và đang góp phần đổi mới thể chế và nâng cao hiệu lực của bộ máy
nhà nước và trở
thành một động lực cho quá trình phát triển đất nước
2) HNKTQT làm gia tăng mức sống của các nhóm dân cư và hỗ trợ công cuộc giảm nghèo
3) HNKTQT đang làm gia tăng sự phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã hội
4) Vấn đề việc làm, quan hệ lao động, di cư trong quá trình HNKTQT
5) Vấn đề phát triển con người trong quá trình HNKTQT
Dưới đây là những tác động xã hội của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được lầ
n
lượt phân tích, trong đó, những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho những nghiên cứu
sâu hơn về các tác động xã hội này:
TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ GIA
NHẬP WTO Ở VIỆT NAM.
1.1. Hội nhập KTQT đã và đang góp phần đổi mới thể chế và nâng
cao hiệu lực của bộ máy nhà nước và trở thành một động lực cho
quá trình phát triển đất nước :
Trên tầm vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách đã xây dựng những đường hướng
chiến lược quan trọng để giải quyết các tác động xã hội của hội nhập kinh tế quốc tế như
5/23
Chiến lược toàn diện tăng trưởng và giảm nghèo, Kế hoạch phát triển KTXH 2006-2010,
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững, Chương trình hành động của Chính phủ
hậu WTO...
Quá trình đổi mới thể chế, với sự hỗ trợ của các đối tác song phương, đa phương và
tổ chức quốc tế, đã tạo động lực quan trọng để Việt nam có được nhiều tiến b
pháp và chính đáng của người lao động. Cơ chế thương lượng tập thể chưa tỏ ra hữu
hiệu và phù hợp với cơ chế thị trường. Điều này khó có thể giúp hoá giải những nguyên
nhân cơ bản dẫn đến những xung đột trong quan hệ lao động, phản ánh tập trung ở các
cu
ộc đình công.
Những chính sách an sinh xã hội và bảo hiểm sản xuất chưa được chú trọng đầy đủ
nhằm bảo vệ những nhóm xã hội yếu thế trước những rủi ro ngày càng tăng trong sản
xuất, kinh doanh khi thị trường ngày càng mở, trong đời sống, trong việc đối phó với thiên
tai, dịch bệnh có xu hướng tác động trên diện rộng.
Chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện tại dường như ch
ưa đem lại lợi
ích tương xứng cho người lao động, hay những nhà đầu tư nhỏ so với các cổ đông giầu
có và nhóm quản lý. Việc thiếu minh bạch, công khai trong quá trình cổ phần hóa dường
như đang làm thiệt hại cả cho nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp và cả những
nhà đầu tư nhỏ.
Các chính sách liên quan đến di cư và quản lý cư trú tập trung nhiều vào khía cạnh
quản lý xã hội và trật tự
xã hội hơn là tạo điều kiện thuận lợi cho người di cư như một lực
lượng sản xuất, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế ở các vùng nhập cư, và
cũng là một nhóm yếu thế trong xã hội.
Việc tổ chức thực hiện các chính sách, qui định pháp luật ở nhiều cơ quan chức năng
ở các địa phương còn chưa có chuyển biến lớn, chư
a thể hiện là một nhà nước phục vụ,
6/23
chưa giúp cho việc giải quyết những vấn đề xã hội của các nhóm xã hội yếu thế như lao
động làm thuê, nông dân mất đất canh tác, người nghèo, người di cư... .
Câu hỏi thảo luân:
Những giải pháp chủ yếu nào có thể giúp đẩy nhanh quá trình đổi mới thể chế và
Nông thôn 1114 1472 1649 1945
Thành thị 2124 3280 3884 4359
Nguồn: Tính toán trên cơ sở số liệu của các cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình 1993, 1998, 2002,
2004 của TCTK. Trích trong (3, 2007)
7/23
38
22
35
49
31
44
47
34
47
54
60
62
50
60
50
49
55
42
8
18
3
2
9
6
Hồng
Đông
Bắc
TÕY
BẮC
BẮC
TRUN
G BỘ
NAM
TRUN
G BỘ
TÕY
NGUY
ỜN
Đông
Nam
Bộ
ĐB
sông
Cửu
Long
Hộ đánh giá sự thay đổi mức sống so với 3 năm trước (%)
* Như cũ, ít thay
đổi
37,9 22,1 35,0 48,5 30,6 43,5 46,7 34,2 47,2
* Khá hơn 53,8 59,5 61,9 49,9 60,0 50,1 49,0 54,8 42,4
* Kém hơn 8,3 18,4 3,1 1,5 9,4 6,4 4,3 11,0 10,4
Nguồn: 2, 2007
Khi so sánh sự thay đổi mức sống so với 3 năm trước thời điểm điều tra, khoảng
trên 50% số HGĐ cho là “khá hơn trước”, gần 40% cho là “không thay đổi nhiều” và gần
như năm 2004 con số này là 8% và 2005 là 9,5% thỠ đến 2006 đÓ VỌT
LỜN 12,3%. Điều đáng chú ý nữa là nếu như trong các năm 2004, 2005,
chỉ số tăng lương so với chỉ số lạm phát và GDP chỉ ở mức một chín một
mười thỠ TỚI 2006 CHỈ SỐ Tăng lương đÓ Vượt gần gấp đôi mức lạm
phát và hơn gấp rưỡi mức tăng GDP. Theo phân tích của ông Mikkel
Schônherr Thøgersen, Trưởng phŨNg Dự án khảo sát tiền lương 2007,
chính làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và số lượng các doanh
nghiệp tăng mạnh trong thời gian gần đây dẫn đến cung cầu lao động mất
cân đối đÓ GÚP PHẦN LàM CUỘC đua tăng lương “nóng” lên. ỄNG
THỨGERSEN CŨNG CHO RẰNG mặc dù mức trả lương bỠNH QUÕN
CHO NHÕN VIỜN TRONG CỎC CỤNG TY Tư nhân trong nước cŨN
THUA XA CỎC DOANH NGHIỆP CÚ VỐN đầu tư nước ngoài (thấp hơn
14%) nhưng tốc độ tăng lương lại đang rất nhanh. Với đà này có thể trong
5-7 năm tới họ sẽ đuổi kịp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.2. Giảm nghèo là một TRONG SỐ NHỮNG thành công nổi BẬT nhất
của Việt Nam trong quá trình Đổi mới. Hội nhập quốc tế là yếu tố
quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và trỞ thành động
lực chính để giảm nghèo ở Việt Nam.
Trong vòng 11 năm (1993-2004) đã có khoảng 24 triệu người thoát nghèo đói,
trong đó một nửa thoát đói nghèo trong giai đoạn 1993-1998 và nửa còn lại trong giai
đoạn 1998-2004. Tỷ lệ nghèo năm 2004 (19,5%) chỉ bằng một phần ba so với năm 1993
(58,1%). Giảm nghèo trong giai đoạn 1993-2004 là rất rõ ràng và không phụ thuộc vào
chuẩn nghèo. Mức thiếu hụt của những người nghèo trong chi tiêu dùng của họ so với
chuẩn nghèo cũng giảm đi đáng kể trong giai đo
ạn này. Các chỉ số phi thu nhập, phản ánh
các mặt xã hội của cuộc sống trong các hộ gia đình cũng được cải thiện đáng kể trong giai
đoạn trên. Thành tựu giảm nghèo đó có được phần lớn nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao: ”một phần trăm tăng trưởng của GDP tính trên đầu người đã giúp giảm tỷ lệ nghèo
xuống 0,55 và 0,49 điểm phần trăm t
Đương nhiên, cũng như bất kỳ lĩnh vực nào khác, thành tựu giảm nghèo của Việt
Nam là do một tổ hợp các nhân tố tác động tạo thành. Trong đó, hội nhậ
p kinh tế quốc tế
như là một tác nhân xuyên suốt, trực tiếp và gián tiếp tạo nên kết quả chủ yếu của tăng
trưởng, giảm nghèo và phát triển xã hội nói chung ở Việt Nam trong suốt 2 thập kỷ qua.
1.3. HNKTQT đang làm gia tăng sự phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã
hội
Phân tầng xã hội phản ánh cấu trúc xã hội bất bình đẳng trong quá trình vận động
và phát triển của xã hội. Đối với một xã hội có nền kinh tế chuyển đổi và đang trong quá
trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như nước ta, với tốc độ tăng trưởng kinh tế
tương đối cao, liên tục trong thời gian dài, thì nhiều khả năng phân tầng xã hội ngày càng
gia tăng, trở thành một vấn đề xã h
ội có tính cấp thiết, thu hút sự quan tâm rộng rãi của
toàn xã hội, từ giới lãnh đạo đến những người dân nghèo khổ nhất. Vấn đề này lại càng
quan trọng khi nước ta xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, mà công bằng xã hội là mục tiêu hàng đầu.
Phân tầng xã hội trong quá trình Đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng,
dù rằng xã hội Việt Nam đang phát tri
ển tương đối công bằng, so với các nước khác có
cùng trình độ phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế (với những đóng góp quan trọng của
FDI và ODA) đã chia sẻ lợi ích cho đông đảo các tầng lớp xã hội, cho đa số người dân ở
mọi vùng đất nước, trong đó có cả người nghèo, các nhóm xã hội yếu thế. Nhưng vẫn còn
những khác biệt, sự không công bằng, khi có những nhóm xã hội được hưởng lợ
i nhiều
hơn và những nhóm hửơng lợi ít hơn, thậm chí bị rủi ro, mất mát. Hệ số Gini tăng tương
đối ít trong một thời gian dài (từ 0,34 năm 1993, tăng lên 0,35 năm 1998 và 0,37 năm
2004) và dường như bất bình đẳng tương đối ở Việt nam không khác nhiều với các nước
có cùng mức thu nhập bỡnh quõn đầu người dựa trên sức mua tương đương.
Tuy nhiên, bất bình đẳng tuyệt đối đang tăng, n
ếu so sánh khoảng cách chi tiêu