Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt nam - Pdf 24

MỤC LỤC

Lời mở đầu ..................................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG QUA ĐÀO
TẠO NGHỀ.................................................................................................................7
1.1. Một số khái niệm về Việc làm và việc làm của lao động qua đào tạo nghề ........7
1.2. Kết cấu việc làm và cung cầu việc làm của lao động qua đào tạo nghề............14
1.3. Vai trò và đặc điểm của lao động qua đào tạo nghề .........................................25
1.4. Mối quan hệ giữa đào tạo và việc làm của lao động qua đào tạo nghề .............30
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động qua đào tạo nghề ..............37
1.6. Kinh nghiệm của một số quốc gia về việc làm của LĐĐTN ...........................51
Tóm tắt chương 1 ..................................................................................................56

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG QUA
ĐÀO TẠO NGHỀ Ở VIỆT NAM ..............................................................................57
2.1. Phát triển kinh tế và vấn đề việc làm ...............................................................57
2.2. Phân tích thực trạng việc làm của lao động qua đào tạo nghề ..........................64
2.3. Các chính sách giải quyết việc làm của lao động qua đào tạo nghề................109
2.4. Chính sách và hoạt động dạy nghề ...............................................................121
Tóm tắt chương 2.................................................................................................125

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM CỦA
LAO ĐỘNG QUA ĐÀO TẠO NGHỀ Ở VIỆT NAM..............................................126
3.1. Bối cảnh và định hướng phát triển việc làm...................................................126
3.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển việc làm của LĐĐTN ............................137
Tóm tắt chương 3.................................................................................................176

Kết luận ..................................................................................................................178
Danh mục một số công trình của tác giả
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Bảng 2.28 Chuyển biến cơ cấu trong khu vực nông nghiệp 112
Bảng 3.1 Kết quả dự báo việc làm giai đoạn 2010-2020 129
Bảng 3.2 Kết quả dự báo số lượng lao động qua đào tạo nghề 129
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Stt Tên biểu đồ Trang

Biểu đồ 1.1 Quyết định số lượng việc làm của doanh nghiệp 20
Biểu đồ 1.2 Cung cầu kỹ năng trên thị trường lao động 23
Biểu đồ 1.3 Học nghề để có thu nhập cao hơn 34
Biểu đồ 2.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động 67
Biểu đồ 2.2 Lao động bị thất nghiệp phân theo trình độ CMKT 75
Biểu đồ 2.3 Xu hướng dãn cách tiền lương giờ 103
Biểu đồ 2.4 Phân bố tiền lương theo tuổi 105
Biểu đồ 3.1 Xu hướng tăng lao động qua đào tạo nghề các cấp trình độ 130
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Stt Tên sơ đồ Trang

Sơ đồ 1.1 Minh họa phạm vi lao động qua đào tạo nghề 13
Sơ đồ 1.2 Kết cấu một việc làm 17
Sơ đồ 1.3 Chu trình phát triển nguồn nhân lực và tích lũy vốn nhân lực 31
Sơ đồ 3.1 Giải pháp phát triển việc làm của lao động qua đào tạo nghề 137

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Xin đọc là :
CĐ Cao đẳng
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CN Công nghiệp
CNKT Công nhân kỹ thuật
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNTB Chủ nghĩa tư bản

Vận động của nền kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay làm cho lực
lượng lao động bị xáo trộn để thích nghi với những yêu cầu mới. Những thay đổi
nhanh chóng này làm thay đổi hình thức, nội dung và ngay cả tên gọi của việc làm.
Việc làm của lao động qua đào tạo nghề (LĐĐTN) là một bộ phận trong tổng việc
làm của nền kinh tế nó góp phần vào nhóm lao động có CMKT và là nguồn nhân
lực cơ bản để hiện thực hóa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sự thay đổi trên thị trường lao động cùng với việc đổi mới các hoạt động đào
tạo đang làm cho sự phù hợp của đào tạo và việc làm trở thành vấn đề gây tranh
cãi. Đào tạo để làm việc, nếu đào tạo không có việc làm thì là đầu tư lãng phí,
ngược lại việc làm mà không được đào tạo, không "học suốt đời" để nâng cao thì
việc làm sẽ kém đóng góp và năng suất lao động không cao. Đào tạo và việc làm
tương đồng với ý nghĩa của đầu tư cho giáo dục, đào tạo và sử dụng là hai mặt của
quá trình phát triển nguồn nhân lực và nâng cao vốn nhân lực của nền kinh tế.
Thực tiễn của hoạt động đào tạo nghề hiện nay đang là tâm điểm của nhiều ý
kiến liên quan đến vấn đề làm thế nào để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế.
Việc sử dụng lao động kỹ thuật, lao động qua đào tạo nghề hiện nay cũng còn nhiều

2
bất cập, chưa thể hiện vai trò là 'cầu kéo' , 'sức hút', đầu ra 'hấp dẫn' cho đào tạo.
Vấn đề việc làm của lao động qua đạo nghề không chỉ đơn thuần là việc làm hay
đào tạo hoặc sử dụng, mà cả ba yếu tố này đều góp phần tạo nên.
Vấn đề đặt ra là phải tạo ra và giải quyết việc làm, vừa phải phát triển đội ngũ
lao động cũng như có những chính sách sử dụng và tạo môi trường cho phát triển
việc làm của lao động qua đào tạo nghề. Vừa giải quyết việc làm cho đối tượng này
trong sự cân đối dài hạn vừa phải đổi mới sử dụng sao cho hiệu quả đồng thời vừa
thúc đẩy phát triển đào tạo đáp ứng đủ, phù hợp nhu cầu là một câu hỏi lớn đặt ra
cho cả vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt nam.
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu nghiên cứu
thực trạng và đề xuất các giải pháp để phát triển việc làm cho lao động qua đào tạo
nghề. Xuất phát từ nhu cầu lý luận và thực tiễn trên, đặt ra sự cần thiết để lựa chọn

thuật và Dạy nghề" [115] xuất bản năm 1990, về các vấn đề đào tạo nghề cho người
lao động, kinh nghiệm của các nước. Trong ấn phẩm này nội dung chủ yếu đi sâu
vào các chức năng, đặc điểm của hệ thống dạy nghề, các chính sách của các quốc
gia trong việc đào tạo nghề. Ngoài ra có đi sâu vào việc đào tạo nghề đáp ứng các
nhu cầu của các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Đặc điểm cơ bản của
nội dung ấn phẩm này khác với các ấn phẩm khác là đi sâu vào phân tích kết cấu hệ
thống giáo dục và dạy nghề với kinh nghiệm của nhiều nước có mô hình đào tạo
nghề khác nhau.
Nghiên cứu của nước ngoài còn rất nhiều ấn phẩm và công trình khác đề cập
đến những tính toán hiệu quả cá nhân thu được từ việc đi học và tìm việc làm đối
với đối tượng theo học các chương trình giáo dục kỹ thuật và dạy nghề. Đồng thời
có những nghiên cứu sâu liên quan đến cơ hội việc làm cho lao động và phân tích
lựa chọn cơ hội học nghề cho người học. Tuy nhiên đến nay, chưa có công trình
nào nghiên cứu sâu về việc làm của nhóm đối tượng là lao động qua đào tạo nghề.
4.2. Một số nghiên cứu trong nước
Một số nghiên cứu trong nước có liên quan trực tiếp đến vấn đề lao động kỹ
thuật đó là nghiên cứu của PGS.TS. Đỗ Minh Cương có tựa đề: “Phát triển lao

4
động kỹ thuật ở Việt Nam- Lý luận và thực tiễn” [30]. Nghiên cứu này đã đi sâu
vào phân tích lực lượng lao động kỹ thuật nói chung trong đó có đề cập sâu đến hệ
thống đào tạo nghề hiện nay và sản phẩm, kết quả của quá trình đào tạo. Nghiên
cứu này tập trung vào khía cạnh cung lao động kỹ thuật trong nền kinh tế và các
giải pháp chủ yếu để phát triển đào tạo nghề thúc đẩy cung lao động kỹ thuật cho
nền kinh tế, trong đó đã đề cập đến việc làm như kết quả của quá trình đào tạo
nhưng không tập trung vào LĐĐTN mà toàn bộ nhóm lao động kỹ thuật.
Nghiên cứu thứ hai có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu trên đó là đề tài
KX-05-10 do GS.TSKH. Nguyễn Minh Đường làm chủ nhiệm: "Thực trạng và giải
pháp đào tạo lao động kỹ thuật (Từ sơ cấp đến trên đại học) đáp ứng yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội

Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu khác cũng gần gũi với chủ đề việc
làm của lao động qua đào tạo nghề là công trình "Về xu hướng công nhân hóa ở
nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn An Ninh [60] đặt ra và giải quyết các vấn đề
phát triển mang tính giai cấp của đội ngũ công nhân công nghiệp ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu có đề cập đến số lượng, chất lượng, đào tạo, và sử
dụng lao động là đội ngũ công nhân kỹ thuật nhưng chủ yếu trên giác độ phát triển
và củng cố đội ngũ để giai cấp công nhân trở nên đội tiền phong vững mạnh.
Có thể khẳng định, cho đến thời điểm này chưa có công trình nào, gồm cả
quốc tế và trong nước, đề cập cụ thể đến vấn đề việc làm của lao động qua đào tạo
nghề. Những nghiên cứu đã có có thể hoặc là tập trung vào giải quyết vấn đề việc
làm nói chung hoặc là giải quyết vấn đề đào tạo nghề. Sự khác biệt của nghiên cứu
này với các nghiên cứu trước đây và đang có hiện nay ở hai đặc điểm chính: (i) tiếp
cận sâu về đặc điểm và cấu trúc việc làm của nhóm đối tượng lao động qua đào tạo
nghề và (ii) nghiên cứu vấn đề việc làm như một kết quả đầu ra của đào tạo nghề.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt nam.
- Không gian: Trên phạm vi cả nước, có sử dụng kết quả khảo sát thực tiễn tại
một số tỉnh/thành phố, Bộ/ngành, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp.
- Thời gian: Thực trạng hiện nay và đề xuất giải pháp cho thời kỳ 2011-2020.

6
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng.
- Phương pháp thống kê, hồi cứu tài liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu trong
và ngoài nước về việc làm, đào tạo, thị trường lao động, nguồn nhân lực;
- Phương pháp khái quát hóa, quy nạp, nội suy, so sánh đối chiếu v.v..
- Phương pháp mô hình kinh tế lượng.
7. Đóng góp của luận án
7.1. Về lý luận, luận án:

không cần phải ai giao việc cho.
Theo giáo trình Kinh tế lao động của Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà
nội, khái niệm việc làm được hiểu là: "trạng thái phù hợp về mặt số lượng và chất
lượng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, để tạo ra hàng hóa theo nhu cầu của
thị trường". Hiểu rộng ra có thể gọi việc làm là hoạt động có ích (sản xuất, dịch vụ,
nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật quản lý v.v..) tạo ra/có thu nhập [71,
tr.19].
Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường: "Việc làm là hành vi của nhân viên, có
năng lực lao động thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để
được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh"[71]. Thực chất là người lao động và tư liệu
sản xuất kết hợp. Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa, người lao động là chủ tư liệu sản
xuất, việc làm có nghĩa là thực hiện quyền làm chủ, vừa là lao động cho cá nhân
người lao động, cũng lại là lao động xã hội. Khu vực làm việc có thể là các cơ sở
sản xuất kinh doanh Nhà nước, tập thể, tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài v.v…
Phân theo tính chất công việc có thể chia ra nhân công ổn định, nhân công hợp
đồng, tạm thời.
Theo một quan điểm khá tổng quát về việc làm: "…Việc làm là một phạm trù
kinh tế, tồn tại ở tất cả mọi hình thái xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ

8
kinh tế giữa con người về việc đảm bảo chỗ làm việc và tham gia của họ vào hoạt
động kinh tế…." [26, tr.313]. Việc làm cũng là một phạm trù của thị trường khi
thuê một chỗ làm việc nhất định và chuyển người thất nghiệp thành người lao động.
Theo Bộ Luật lao động nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam thì việc
làm được xác định là: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".
Từ các quan điểm trên, tác giả thống nhất với khái niệm: Việc làm là hoạt
động lao động của các cá nhân trong xã hội nhằm mục đích tạo ra thu nhập
(được trả công bằng tiền, hiện vật, trao đổi công; tự làm để tạo thu nhập, tạo lợi
ích cho gia đình không hưởng tiền công/lương).

làm chính và phụ có thời gian bằng nhau thì việc làm nào có thu nhập cao hơn được
xem là việc làm chính. Xét về tính chất việc làm, việc làm có thể mang tính chất ổn
định hay tạm thời. Việc làm ổn định trong một năm đối với người lao động có thời
gian làm việc từ 6 tháng trở lên. Việc làm tạm thời là những công việc dưới 6 tháng.
Việc làm cũng có thể phân loại theo nhiều hình thức như làm công ăn lương,
tự tạo việc làm. Ở nước ta, thống kê lao động có việc làm phân ra thành 5 nhóm:
Việc làm được trả công khu vực công và khu vực tư nhân (người đang làm việc và
người học việc hiện đang làm việc được trả công bằng tiền mặt hoặc hiện vật); việc
làm tự tạo (tự tạo việc làm cho mình); những người làm việc trong gia đình không
được trả công; những người tham gia sản xuất cho tiêu dùng của bản thân.
Các nền kinh tế khác nhau có hình thức tổ chức khác nhau, nhưng thông
thường phân theo các tổ chức thuộc khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh, khu vực các tổ chức cộng đồng và khu vực có yếu tố nước ngoài.
Theo phân loại của cuộc điều tra thực trạng việc làm và thất nghiệp hàng năm của
Bộ LĐ-TB&XH phân ra, việc làm trong [18, tr.27]:
+ Khu vực hành chính: cơ quan tổ chức hành chính nhà nước (các cấp
Bộ/Ban/Ngành ở trung ương, tỉnh, huyện, xã…),
+ Khu vực sự nghiệp: các đơn vị sự nghiệp (Giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin,
truyền hình, thể thao v.v..) gồm cả công lập, bán công, tư thục và dân lập;

10
+ Khu vực cộng đồng: các cơ quan đảng, đoàn, tổ chức chính trị, các hiệp hội;
+ Khu vực sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp trong nước: các doanh nghiệp
Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh
và doanh nghiệp tư nhân;
+ Khu vực hợp tác xã: hiện đang hoạt động theo luật hợp tác xã;
+ Khu vực kinh tế hộ: kinh tế cá thể, hộ gia đình;
+ Khu vực có yếu tố nước ngoài: việc làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài và trong các cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài khác.
1.1.2. Lao động qua đào tạo nghề

Luật Dạy nghề đưa ra khái niệm như sau: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học
nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa
học." [70, tr.9]. Luật cũng qui định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung
cấp nghề, cao đẳng nghề và về hình thức của hoạt động dạy nghề bao gồm cả dạy
nghề chính qui và dạy nghề thường xuyên.
Theo tác giả thì khái niệm đào tạo nghề như sau: "Đào tạo nghề là hoạt động
trang bị năng lực (tri thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động để
người lao động có thể hành nghề hoặc tự tạo việc làm".
b. Lao động qua đào tạo nghề
Theo khái niệm đào tạo nghề nói trên thì một lao động được tính là lao động
đã qua đào tạo nghề khi lao động đó đã hoàn thành/trải qua ít nhất một hoạt động
đào tạo nghề. Khi xem xét việc lao động đã từng được đào tạo (đã từng trải qua),
thì không xem xét về mặt năng lực thực tế, không xem nặng vấn đề văn bằng chứng
chỉ, mà chủ yếu trên góc độ người đó đã từng được/tham gia học nghề. Thông
thường lao động qua đào tạo nghề là người đã trải qua (được học) lớp/khóa/chương
trình đào tạo nghề với nghề thuộc danh mục nghề đào tạo được ban hành.
Để đảm bảo đạt được kiến thức và kỹ năng nghề cần thiết cần qui định thời
gian tối thiếu đối với một khóa đào tạo nghề để được coi là đã qua đào tạo nghề.
Qua ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý thì thời gian để có thể truyền đạt
kiến thức và kỹ năng nghề đơn giản phải cần tối thiểu một tháng. Kết thúc khóa

12
học, người học được thi hoặc kiểm tra đánh giá về kiến thức và kỹ năng nghề và
được cấp văn bằng, chứng chỉ nghề theo qui định.
Thông thường có ba nhóm cung cấp lao động qua đào tạo nghề đó là đào tạo
chính thức trong các trường thuộc hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, đào tạo
nghề nghiệp trước khi làm việc và đào tạo tại chức (tại chỗ) cho công nhân [128,
tr.15]. Việc xác định các khóa học, chương trình đào tạo không chỉ loại hình đào
tạo chính thức, mà tất cả các loại hình đào tạo khác nhau (Luật dạy nghề công nhận

khác như trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học thì xếp vào
nhóm `cán bộ chuyên môn’. Cán bộ chuyên môn là những người được đào tạo ở
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, có trình độ học vấn cao,
có khả năng lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo một chuyên môn, nghiệp vụ nào đó.
Khi thống kê lao động, việc làm thường phân ra làm hai nhóm lớn là lao động
chưa qua đào tạo (không có CMKT) và lao động đã qua đào tạo (đồng nghĩa với có
CMKT). Lao động có chuyên môn kỹ thuật là cách gọi chung trên thị trường lao
động đối với lao động đã qua đào tạo bao gồm lao động qua đào tạo nghề và lao
động là cán bộ chuyên môn. Lao động có chuyên môn kỹ thuật không trùng với cán
bộ chuyên môn mà rộng hơn và lao động qua đào tạo nghề không trùng với công
nhân kỹ thuật mà rộng hơn.
Lao động phổ thông
Trung cấp nghề
Cao đẳng nghề
Cao đẳng

THCN
LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG

LAO

ĐỘNG



CMKT


qua
Đào

Khi xem xét quan hệ cung - cầu và sự biến động của lực lượng lao động nói
chung và lao động qua đào tạo nghề nói riêng có thể vận dụng các mô hình việc
làm, cung cầu, dịch chuyển lao động, gia tăng và biến động việc làm. Các mô hình
kinh tế có liên quan đến việc làm, thất nghiệp nổi tiếng như trường phái cổ điển (A.
Smith và D. Ricardo), lý thuyết việc làm và thất nghiệp của C. Mác, lý thuyết việc
làm của J.M. Keynes mà ngày nay còn ảnh hưởng đến các chính sách việc làm của
các nền kinh tế.
A. Smith cho rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh tự do, bàn tay vô hình
đảm bảo quân bình và hoàn hảo trong xã hội, đạt được phúc lợi cá nhân và phúc lợi
chung. Ricardo và A. Marshall cũng cùng quan điểm khi cho rằng nền kinh tế thị
trường là nền kinh tế tự điều tiết và không thấy sự cần thiết điều tiết của Nhà nước
[26, tr.256]. Mô hình cổ điển có 4 hướng để làm tăng việc làm, đó là (i) cải tiến tổ
chức, dự báo tốt để tránh thất nghiệp cơ cấu; (ii) hạ thấp độ phi thỏa dụng biên của
lao động qua tiền lương thực tế; (iii) tăng thêm năng suất biên vật chất của lao động
trong các ngành sản xuất hàng hóa cho người ăn lương; và (iv) tăng giá hàng hóa
không giành cho người ăn lương so với giá các hàng hóa khác [51, tr.43].

15
Việc làm chiếm vị trí quan trọng và đầy ý nghĩa trong tác phẩm "Tư bản" của
Các Mác. C.Mác dựa trên các lý luận căn bản về giá trị thặng dư, qui luật dân số và
đặc biệt là cấu trúc hữu cơ của vốn. Công thức cơ bản về giá trị hàng hóa (c + v +
m), được cấu thành từ tư bản cố định (c), tư bản lưu động (v) và giá trị thặng dư
(m). C.Mác cho rằng cấu trúc hữu cơ của tư bản thay đổi trong quá trình tích lũy là
nguyên nhân căn bản của gia tăng hay giảm dần việc làm tương đối (tư bản lưu
động), so với tư bản cố định. Trong quá trình làm thay đổi cấu trúc hữu cơ của tư
bản, người công nhân vô hình dung đang làm giảm việc làm và đang tự biến mình
thành nhân khẩu thừa tương đối.
Jonh Meynard Keynes được biết đến như một nhà kinh tế lỗi lạc với công
trình nổi tiếng là Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, xuất bản năm
1936 [51]. Keynes cho rằng tăng đầu tư làm tăng tổng cầu tăng và việc làm và Nhà

nghiệp và dịch vụ, hai mô hình cùng mang đến những chính sách phát triển kinh tế
dựa căn bản trên hai khu vực. Xuất phát từ mô hình Lewis với khu vực công nghiệp
là 'đầu kéo' hút lao động từ nông nghiệp sang, đến mô hình Oshima với giai đoạn
đầu lấy nông nghiệp là 'đầu đẩy' làm cho lao động dư thừa ở khu vực này dẫn đến
sự dịch chuyển sang khu vực công nghiệp, khu vực dịch vụ.
Kinh tế học hiện đại sau này xuất hiện khái niệm mới về nguồn vốn nhân lực.
Vốn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người lao động tích lũy được.
Nó được đánh giá cao vì có tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai [31,
tr.282]. Cung lao động không chỉ đơn thuần là việc người lao động có mặt trên thị
trường lao động mà còn bao gồm các kỹ năng mà họ có. Những kỹ năng này người
lao động thu được từ khả năng bẩm sinh, những gì người lao động được đào tạo và
kinh nghiệm họ đã trải qua.
Vốn nhân lực giả thiết rằng các mức chênh lệch của tiền lương phản ảnh sự
chênh lệch về năng suất lao động. Người có năng suất lao động cao hơn sẽ có được
thu nhập và tiền lương cao hơn. Và một lý luận cơ bản là giáo dục, đào tạo tạo ra
năng suất lao động cao hơn. Thu nhập và tiền lương phụ thuộc vào hai nhân tố
chính là tuổi tác và trình độ đào tạo. Những người có trình độ cao hơn có mức thu
nhập cao hơn và mức chênh lệch này càng lớn cùng với tuổi tác và kinh nghiệm.

17
1.2.2. Kết cấu việc làm và việc làm của lao động qua đào tạo nghề
Việc làm là phạm trù chỉ sự phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất
bao gồm cả về số lượng, chất lượng và các đặc điểm. Một đơn vị sức lao động có
thể vận hành/thực hiện bao nhiêu đơn vị tư liệu sản xuất hay còn được phản ảnh
bằng quan hệ hữu cơ C/V. Quan hệ hữu cơ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến
dưới sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật dẫn đến sự thay đổi trạng thái và
mức độ phù hợp giữa trang bị vốn, công nghệ, máy móc thiết bị cho một chỗ làm
việc, ngoài ra còn phụ thuộc vào việc tổ chức lao động.
Theo quan điểm và giả thuyết của Keynes khi tính số lượng việc làm: việc
làm tương đương với đơn vị việc làm được chia nhỏ bằng các đơn vị công việc của

5. Tổ chức SX
6. Môi trường,
điều kiện làm
việc
1
việc làm18
Thống kê việc làm nếu tính theo chỗ làm việc, trong trường hợp một chỗ làm
việc có 2 lao động trở lên làm thay ca. Nếu thống kê theo người lao động có việc
làm có thể dẫn đến thiếu việc làm nếu một lao động làm từ 2 công việc trở lên (tính
cả số việc làm bán thời gian). Tuy nhiên, các thống kê đều tính đủ theo người lao
động dù họ làm 2 công việc cùng một lúc vì chủ yếu thống kê theo lao động chứ
không thống kê theo chỗ làm việc. Do đó, tính số lượng việc làm theo lao động
đảm bảo được các yêu cầu (i) chính xác hơn khi so với tính theo chỗ làm việc, (ii)
phù hợp hơn vì nghiên cứu chủ yếu về nhóm đối tượng có kỹ năng cụ thể và (iii)
thuận lợi hơn vì đo theo người lao động với các đặc tính kèm theo không phức tạp
như tính các chỗ làm việc.
Chất lượng việc làm dưới giác độ xã hội, yếu tố quan trọng là việc toàn dụng
nhân công, mọi người đều có việc làm và có được việc làm phù hợp với luật pháp,
việc làm nhân văn, việc làm tử tế v.v.... Chất lượng việc làm dưới góc độ người lao
động gồm các yếu tố cơ bản là có thu nhập/tiền lương/tiền công cao (lợi ích từ việc
làm lớn); các chế độ bảo đảm việc làm và linh hoạt việc làm (an ninh việc làm); sự
phù hợp với năng lực và sở thích cá nhân; và có các điều kiện phát triển (đào tạo,
thăng tiến nghề nghiệp).
Cụ thể với một chỗ việc làm, vốn đầu tư thấp đòi hỏi người lao động phải có
sức khỏe, trình độ CMKT phù hợp. Vốn đầu tư lớn, công nghệ cao, máy móc thiết
bị hiện đại đòi hỏi người lao động phải có CMKT cao tương ứng. Trong ngắn hạn
sự phù hợp là tương đối, có thể có những điểm chưa phù hợp hoặc từ phía chỗ việc

+ Số lượng/cơ cấu theo cấp trình độ, theo ngành nghề, vùng, khu vực sở hữu
+ Cơ hội việc làm và việc làm phù hợp.
+ Chính sách và các vấn đề trong sử dụng lao động qua đào tạo nghề.
+ Chất lượng việc làm: tiền lương, thu nhập, điều kiện làm việc,
+ Đào tạo, phát triển lực lượng lao động qua đào tạo nghề;
1.2.3. Cung – cầu việc làm của lao động qua đào tạo nghề
Về bản chất, cung cầu việc làm của lao động qua đào tạo nghề biểu hiện trên
thị trường lao động là cung cầu kỹ năng. Sự vận động của các yếu tố cung và cầu
kỹ năng cũng phải tuân theo qui luật vận động chung của thị trường.

20
a) Cung việc làm hay cầu lao động kỹ năng và các nhân tố ảnh hưởng
Trên giác độ đầu tư sản xuất kinh doanh (tạo chỗ làm việc): đầu tư và tổ chức
tạo ra các vị trí, chỗ làm việc. Biểu hiện là số vốn/máymóc thiết bị và các điều kiện
cho một chỗ làm việc và các điều kiện khác như môi trường, tổ chức, không gian
và các yếu tố điều kiện xã hội (hội, công đoàn v.v..). Trong đó yếu tố vốn đầu tư để
tạo nên một chỗ làm việc (công việc) thường được quan tâm và làm cơ sở tính toán.
Khi đó các biểu hiện, thông số để xem xét về việc làm sẽ là: (i) lượng vốn đầu tư
tạo 1 chỗ việc làm (suất đầu tư); (ii) các điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh; (iii)
điều kiện cần thiết để có thể thuê lao động.
Điều kiện quan trọng là các yếu tố tạo nên sự kích thích đầu tư tạo chỗ làm
việc đó là lợi ích của người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp). Việc làm tạo ra
trên cơ sở theo đuổi mục tiêu lợi nhuận của người chủ thu lại được từ đầu tư và sự
kết hợp với lao động (không tính toán các yếu tố thương mại để bán sản phẩm).
Quyết định tạo thêm một chỗ việc làm của doanh nghiệp khi sự kết hợp tối ưu
giữa C và V và khi chi phí biên cho sức lao động bằng doanh thu biên của sản
phẩm đồng thời khi đó tiền công bằng sản phẩm giá trị biên của lao động.
Tiền công
Tiền công
Wo E

nhập (S) và các điều kiện làm việc khác (O) (điều kiện học tập, thăng tiến, môi
trường làm việc, tổ chức xã hội và các quyền của người lao động). Khi đó tập hợp
cầu việc làm có thể được biểu diễn dưới dạng hàm sau: Y = f (L, T, S, O....).
Cầu việc làm của lao động qua đào tạo nghề về cơ bản không có sự khác biệt
vì cũng là cầu việc làm, nhưng chỉ khác nhóm đối tượng lao động có CMKT cụ thể
là đã qua đào tạo nghề. Trong dài hạn, cầu việc làm sẽ tương ứng với lao động có
việc làm với các đặc điểm việc làm hiện tại của lao động qua đào tạo nghề tương
đương cung lao động qua đào tạo nghề (không tính thất nghiệp).
Về cơ bản cung lao động qua đào tạo nghề do ba bộ phận chủ yếu trong nền
kinh tế (gồm cả hệ thống giáo dục và khu vực sản xuất kinh doanh) đảm nhận, đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status