HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
-----------
TRẦN THỊ THU HẰNG
Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, từ 1996 đến 2005
Chuyên ngành
: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60.22.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thành tựu của công cuộc đổi mới là một trong ba thắng lợi vĩ đại của cách
mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, hoàn thành chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
khoa học và bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Việt Nam đã phá được thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tăng
cường mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững ổn định
chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh. Kinh tế tăng tưởng, đời sống của nhân
cụ thể hoá đường lối của Đảng đối với từng địa phương, trong đó có Thành phố
Hà Nội.
Vì thế, tôi chọn đề tài "Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến
2005" làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
chuyển dịch CCKT ở Việt Nam như: GS. Đỗ Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, NXB
Chính trị Quốc gia, H, 1994; PGS. Đỗ Hoài Nam: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành và phát triển mũi nhọn, NXB KHXH, H, 1996; Lê Du Phong: Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và
triển vọng, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2003; Trần Ngọc Hiên: Mối quan hệ
công - nông nghiệp - dịch vụ trong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước
ta, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, H, 1997; PGS.TS. Nguyễn Văn Khanh: Biến
đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong
thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia, H, 2003; Ban Tư tưởng - Văn hoá
Trung ương và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị
Quốc gia, H, 2003; Davit Dapice: Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng
bay, NXB Chính trị Quốc gia, H, 1994…
Ở Trung ương và địa phương có nhiều đề tài nghiên cứu, về chuyển dịch
CCKT: Đề tài KX- 08 “Phát triển tổng thể kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam”,
1995. Thành uỷ Hà Nội có Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm
01X13 và kết quả nghiên cứu đã in thành sách: Hai mươi năm đổi mới ở Thủ đô
4
Hà Nội định hướng phát triển đến năm 2010, NXB Hà Nội, 2005. Cuốn sách là
+ Làm rõ quá trình vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối, chủ trương
của Trung ương trong lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa
phương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, từ 1996 đến 2005.
+ Đánh giá bước đầu thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở Hà Nội, từ 1996 đến 2005.
+ Nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, từ 1996 đến 2005.
- Nhiệm vụ:
+ Trình bày một cách có hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về phát
triển kinh tế, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 1996 đến 2005.
+ Trình bày quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội vận dụng đường lối,
chủ trương của Trung ương, lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
Thủ đô Hà Nội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến 2005.
+ Phân tích kết quả quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của Đảng bộ Hà Nội.
+ Tổng kết những kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của Đảng bộ Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Là sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội, là nghiên cứu những chủ trương,
giải pháp của Đảng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ 1996 đến 2005.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa bàn nghiên cứu là Thành phố Hà Nội. Thời gian nghiên cứu từ
tháng 5 - 1996 (Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XII) đến tháng 12 2005 (Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV)
+ Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một số nội dung chính: chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế vùng, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế. Luận văn tập trung nghiên
cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội ngành.
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng tham khảo trong nghiên
cứu và giảng dạy lịch sử Đảng bộ Thành phố Hà Nội thời kỳ đổi mới.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn gồm 2 chương, 7 tiết.
8
CHƯƠNG I. NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA
ĐẢNG BỘ HÀ NỘI THỰC HIỆN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
(1996 - 2000)
1.1. ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ
1.1.1.Một số khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế, đặc biệt trong đường lối đổi
mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc việc chuyển dịch
CCKT, và coi đây là một trong những nội dung cốt lõi quan trọng nhất trong
chiến lược phát triển kinh tế theo định hướng XHCN. Vì thế, việc xác định được
một CCKT hợp lý sẽ thúc đẩy việc xây dựng cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu
đầu tư, cơ cấu lao động, tạo cơ sở vững chắc cho quá trình phân công lao động,
xã hội hóa lực lượng sản xuất, đổi mới quan hệ sản xuất, đẩy mạnh phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo động lực to lớn thúc đẩy nhằm đạt
mục tiêu kinh tế - xã hội. Mặt khác, chuyển dịch CCKT còn có vai trò đặc biệt
quan trọng để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. Vì vậy, trong
CCKT có các loại khác nhau; có thể nghiên cứu chuyển dịch CCKT dưới
nhiều trình độ, lĩnh vực nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: cơ cấu nền kinh tế
quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo
đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế.
Trong những nội dung chủ yếu của CCKT, CCKT ngành là nội dung cơ
bản nhất quyết định phản ánh sự phát triển theo quan hệ cung cầu của thị trường,
theo tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Cơ cấu các thành phần kinh tế chỉ rõ
thành phần quan trọng thực hiện CCKT ngành, theo hướng của cơ cấu ngành,
các thành phần kinh tế được tổ chức thực hiện. Nhưng cơ cấu ngành và cơ cấu
thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ, địa
phương dựa trên cơ sở sự phân bố lãnh thổ một cách hợp lý để phát triển các
ngành và các thành phần kinh tế, đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Để có CCKT hợp lý phải thỏa mãn được một số tiêu chí cơ bản sau: Thứ
nhất, CCKT phải phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, trước hết là quy luật
10
kinh tế cơ bản. Thứ hai, CCKT phải khai thác hợp lý và phát huy được nguồn
lực, tiềm năng của đất nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Thứ ba, CCKT phải tạo nên sự phát
triển cân đối, phát huy lợi thế của các vùng các ngành kinh tế. Thứ tư, CCKT
phải tạo lên sự gắn kết giữa các loại thị trường trong nước và ngoài nước, mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Thứ năm, CCKT phải tạo được tích lũy
ngày càng tăng cho nền kinh tế quốc dân, cùng với xã hội phát triển lành mạnh,
giữ vững quốc phòng an ninh.
Những nội dung chủ yếu của CCKT quốc dân có thể nghiên cứu dưới
nhiều góc độ, lĩnh vực, nhưng về cơ bản gồm: CCKT ngành kinh tế, CCKT
thành phần kinh tế, CCKT theo đơn vị hành chính lãnh thổ:
Cơ cấu kinh tế theo ngành kinh tế:
(số lượng, tỷ trọng…) mà điều quan trọng phải phân tích cho được mặt chất của
cơ cấu ngành: vị trí, vai trò, xu hướng vận động, sự tương tác giữa các ngành
hoặc phân ngành trong mối liên hệ phát triển chung với toàn bộ nền kinh tế, khả
năng hướng ngoại, khả năng chiếm lĩnh thị trường và đáp ứng nhu cầu xã hội,
quan hệ giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế v.v.
Cơ cấu ngành luôn vận động và biến đổi phát triển không ngừng, nhất là
trong điều kiện cơ chế thị trường. Do vậy, khi phân tích cơ cấu ngành, phải làm
rõ tính quy luật của sự vận động, tìm ra phương hướng chuyển dịch CCKT
ngành phù hợp với CCKT khác và đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh
tế quốc dân trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Thông thường, một nền
kinh tế có ba ngành kinh tế cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Việc sắp
xếp thứ tự ưu tiên như thế nào là phụ thuộc vào lợi thế của từng ngành và của
mỗi nước trong từng thời kỳ khác nhau của đất nước. Cơ cấu ngành còn quyết
định cơ cấu đầu tư vào mỗi ngành trong từng thời kỳ để từ đó đánh giá được
hiệu quả đầu tư cho mỗi ngành, tính toán được cơ cấu sản phẩm và khả năng
thỏa mãn nhu cầu thị trường của từng loại sản phẩm.
Chuyển dịch CCKT ngành là quá trình làm thay đổi cấu trúc các mối liên
hệ của các ngành hoặc các phân ngành trong một ngành theo xu hướng, mục tiêu
và phương hướng nhất định. Đó là sự thay đổi có mục đích, có định hướng và
lựa chọn trên cơ sở phân tích đầy đủ, có cơ sở lý luận và thực tiễn, cùng với việc
12
áp dụng đồng bộ các giải pháp để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này
sang trạng thái khác một cách hợp lý và có hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH là quá trình
làm thay đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc
hậu, sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại, đó là quá trình
làm tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp trong nền kinh tế gắn với sự biến
đổi của công nghệ và năng suất lao động, tạo lên sự phát triển nhanh và bền
cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh, cho nền kinh tế nói
chung. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm việc chuyển biến cơ cấu kinh tế
theo ngành, theo vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế [108, tr.535].
Việt Nam là một nước có nền kinh tế kém phát triển so với các nước trên
thế giới và khu vực. Vì thế, việc chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH
vừa là vấn đề mang tính tất yếu khách quan, đồng thời là quá trình đi lên từng
bước dựa trên sự kết hợp mật thiết của các điều kiện chủ quan, các lợi thế kinh
tế - xã hội tự nhiên trong nước, trong vùng, đơn vị kinh tế với các khả năng đầu
tư, hợp tác liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm của các
nước, các vùng, đơn vị kinh tế khác nhau.
Chuyển dịch CCKT phải được coi là điểm chủ yếu, nội dung cơ bản lâu
dài trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Nếu xác định được phương hướng và
phương pháp chuyển dịch CCKT đúng, sẽ có hiệu quả kinh tế xã hội cao trong
sự phát triển; ngược lại, sẽ phải trả giá đắt cho tương lai. Trong thời đại ngày
nay - thời đại của sự bùng nổ cách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng
quốc tế hóa sản xuất - không nước nào không phải tính đến sự chuyển dịch
CCKT.
Do điều kiện thực tế của nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế nông
nghiệp nghèo nàn lạc hậu, cùng với sự tàn phá khốc liệt của nhiều năm chiến
tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc, vì thế, để đưa nền kinh tế Việt Nam phát
triển kịp và bằng nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, không
bị tụt hậu, đói nghèo, điều tất yếu phải thực hiện CNH, HĐH. Trên cơ sở đó
ĐCS Việt Nam đã khẳng định quan điểm nhất quán CNH, HĐH là nhiệm vụ
trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH.
Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
14
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa VII (7-1994), đã
xác định rõ: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động
Quá trình chuyển dịch CCKT trong thời kỳ quá độ là quá trình chuyển từ
nền kinh tế có cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công
nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch là
giá trị sản xuất của ba ngành trên đều tăng qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng của
ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tăng, tỷ trọng
lao động trong nông nghiệp giảm, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ
ngày càng tăng.
Ở nước ta quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá
trình phức tạp kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ, điều đó đòi hỏi Đảng và nhà
nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở từng địa phương phải quan tâm lãnh
đạo, tìm tòi, sáng tạo, năng động để xây dựng một CCKT hợp lý theo hướng
CNH, HĐH.
Để đẩy mạnh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH, cần dựa vào
một số quan điểm sau:
- Chuyển dịch CCKT phải nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, phù
hợp với mô hình định hướng XHCN.
- Chuyển dịch CCKT phải khai thác được tối ưu khả năng và thế mạnh
của từng vùng kinh tế trong cả nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành
phần kinh tế, tập trung đầu tư đúng mức cho một số vùng kinh tế trọng điểm, có
khả năng thu hồi vốn nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế.
- Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo các quy mô và bước đi thích hợp, chú
trọng quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư ít, tạo được nhiều việc làm cho người lao
động, đặc biệt chú ý hình thành và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm,
ngành kinh tế mũi nhọn có công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại.
- Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo được nền kinh tế có hiệu quả, có môi
trường sinh thái bền vững, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, gắn tăng cường
ổn định chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng.
- Chuyển dịch CCKT phải phù hợp với xu hướng mở rộng quan hệ hợp
tác kinh tế trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tranh thủ khả năng thu hút vốn
những yêu cầu đòi hỏi lớn hơn để các yếu tố thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Để phát triển kinh tế đất nước, ở nước ta có thể đẩy mạnh chuyển dịch
CCKT theo hướng CNH, HĐH mới có thể khắc phục được nguy cơ tụt hậu xa
17
hơn về kinh tế so với các nước trên thế giới và khu vực, tạo điều kiện mở rộng
thị trường trong và ngoài nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút các
nguồn vốn đầu tư, kế thừa có chọn lọc kinh niệm quản lý, chuyển giao công
nghệ tiên tiến trên thế giới.
Sự chuyển dịch CCKT từ lạc hậu, ít hiệu quả sang cơ cấu hợp lý tối ưu,
có hiệu quả cao gắn với bước tăng trưởng cơ sở vật chất kỹ thuật do quá trình
CNH, HĐH tạo ra sẽ góp phần quan trọng tăng cường sức mạnh của hệ thống
chính trị XHCN, từ đó thúc đẩy sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học công
nghệ, phát triển văn hóa xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững
an ninh quốc phòng, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa các vùng
miền, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nông thôn với thành thị, tạo động lực
cho phát triển toàn diện đất nước.
Do vậy, có thể thấy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là một
trong những nội dung kinh tế cốt lõi trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của
Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
1.1.2. Đường lối của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo lý luận cách mạng của chủ
nghĩa Mác-Lênin về CNXH và con đường tiến lên CNXH. Người chỉ rõ mối
quan hệ gắn bó hữu cơ, tác đông biện chứng thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển
giữa hai ngành kinh tế cơ bản: công nghiệp và nông nghiệp. Tháng 4-1962,
trong bài nói chuyện tại hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng Lao Động
Việt Nam (khóa III), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Công nghiệp và nông nghiệp
là hai chân của nền kinh tế. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ
lẫn nhau và cùng phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiếp bước sẽ
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH ở miền Bắc từ năm 1954 1975 và trên cả nước từ 1975 - 1985, căn cứ vào tình hình lịch sử cụ thể, Đảng
ta đã có nhiều chủ trương để phát triển kinh tế, trong đó nhấn mạnh vai trò và
mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Tuy nhiên do nhiều lý do khách
quan, chủ quan, có lúc còn nóng vội trong việc xác định mô hình kinh tế, vì thế
việc xác định CCKT, chuyển dịch CCKT có những yếu tố không hợp lý. CCKT
của cả nước và các địa phương suốt trong một thời gian dài chuyển dịch không
đáng kể, kinh tế tăng trưởng chậm, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã
hội, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn.
19
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986) đã tổng kết nêu lên bốn bài học
kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế
và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng” [26, tr.20]. Bài học này có ý nghĩa to lớn, nhưng quan trọng nhất là trên
lĩnh vực kinh tế.
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, quan điểm, chủ trương về
CCKT và chuyển dịch CCKT của Đảng là nhất quán, xuyên suốt và ngày càng
hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, các Hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị các khóa
VI, VII, VIII, IX, X.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986), với tinh thần đổi mới toàn
diện, bắt đầu đổi mới từ tư duy kinh tế, để phát triển kinh tế Đảng ta chỉ rõ:
Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải
dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các
ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại sản xuất có quy mô và trình độ
kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều
kiện thực tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định [26, tr.47].
Trong bố trí lại CCKT, Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp lên mặt
trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn; ra sức
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế quốc dân sẽ gồm nhiều ngành, nghề,
nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ. Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu. Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, đẩy
mạnh kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ
tầng. Xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là ngành
trực tiếp phục vụ nông nghiệp. Thực hiện chuyên môn hóa và liên kết kinh tế
giữa các vùng, các địa phương. Xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng
để tạo điều kiện liên kết giữa công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông
thôn.
Đến năm 1996, con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác
định rõ hơn. Trên thế giới cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ngày càng phát
triển cao, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa nền kinh tế. Nước ta cũng như
những nước đang phát triển khác trên thế giới đều có thời cơ và vận hội mới để
21
đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước. Trên cơ sở đánh giá thực tế thành tựu
đạt được sau 10 năm đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (6-1996), đã
khẳng định những nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là
chuẩn bị tiền đề cho CNH, HĐH đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước ta chuyển
sang một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với những nhiệm vụ và
mục tiêu cụ thể. Đại hội khẳng định:
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn
đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp [34, tr.80].
Đại hội VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt coi trọng Công nghiệp hóa, hiện đại
sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau,
làm cho tất cả các vùng đều phất triển. Đầu tư ở mức cần thiết cho các vùng
kinh tế trọng điểm để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế [34, tr.89].
Mở rông và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu, coi
xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tạo thêm các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Nâng mức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị
trường. Chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ
chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc, với bước đi thích hợp [34,
tr.91].
Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VIII (12-1997), chỉ rõ: Đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải mở rộng kinh tế đối ngoại, tranh thủ vốn,
công nghệ và ra nhập thị trường quốc tế. Nhưng trên cơ sở độc lập tự chủ, phát
huy đầy đủ các yếu tố nội lực, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, bao gồm
nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống lịch sử [37, tr.8].
Hội nghị đã ra nghị quyết “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2000” [37, tr.27].
23
Hội nghị nhấn mạnh cần tập trung thực hiện tốt chủ trương: “Thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đầu tư”. Nâng cao hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền kinh tế là định hướng cơ bản cho sự chuyển dịch CCKT,
điều chỉnh cơ cấu đầu tư. Muốn vậy phải phát triển nhanh, mạnh, vững chắc các
ngành công nghiệp, trước hết là ngành công nghiệp chế biến có khả năng cạnh
tranh cao [37, tr.54-55]. Nghị quyết xác định những việc cần tập trung thực hiện
là “Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động
ở nông thôn” [37, tr.62]. “Giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản” [37,
tr.66]. “Phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các
cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các cơ sở quốc
trên phạm vi cả nước, gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới;
gắn công nghiệp hóa với thực hiện dân chủ hóa và nâng cao dân trí đào tạo nhân
lực ở nông thôn, tạo ra sự phân công lao động xã hội mới, giải quyết việc làm
nâng cao đời sống, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống
giữa thành thị và nông thôn.
Ba là, phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các tiến
bộ khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng
ngày càng cao nhu cầu nông sản thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, hướng
mạnh ra xuất khẩu.
Bốn là, phát triển nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế HTX dần trở thành nền tảng
hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật.Tiếp tục
phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác; các loại hình HTX dịch vụ cho kinh tế
hộ nông dân, từng bước xây dựng hợp tác xã nông nghiệp theo luật hợp tác xã;
chú trọng liên kết kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác. Tạo điều
kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những người có khả năng đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông
thôn.
Tuy nhiên, chuyển dịch CCKT nông nghiệp trước hết phải giữ vững mục
tiêu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống. Nghị quyết đề
ra một số biện pháp để chuyển dịch CCKT nông nghiệp: đẩy mạnh thâm canh
lúa, từng bước hình thành các vùng tập trung sản xuất lúa năng suất, chất lượng
cao gắn với chế biến; hình thành các vùng sản xuất tập trung cây công nghiệp,
25