LUẬN VĂN: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo công tác phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2005 potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo
công tác phát triển khoa học và công nghệ
từ năm 1996 đến năm 2005 MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đang có tác động ngày
càng sâu sắc và rộng khắp trên thế giới. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nắm bắt các thành tựu khoa học và
công nghệ chuyển giao vào Việt Nam. Bước đầu phát triển một số lĩnh vực
công nghệ cao về điện tử, thông tin, sinh học, vật liệu mới và tự động hoá.
Nâng tỉ lệ đổi mới thiết bị trong các ngành sản xuất mỗi năm từ 10% trở lên.
Tranh thủ tối đa công nghệ tiến bộ, từng bước đưa công nghệ nước ta đạt tới
trung bình của khu vực. Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ và cải thiện
môi trường sinh thái [19, tr.37-38].
Nhận thức được vai trò to lớn của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất
nước, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhiều
Nghị quyết chuyên đề nhằm tăng cường và phát triển công tác khoa học và công nghệ
như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX)…
Hải Phòng là thành phố Cảng, là đô thị loại 1 – trung tâm cấp quốc gia. Trong nhiều
năm qua, thành phố không ngừng vươn lên phát triển về mọi lĩnh vực. Thực hiện đường
lối phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành
phố lần thứ XII xác định mục tiêu phát triển của thành phố đến năm 2010 là:
xây dựng Hải Phòng trở thành một thành phố Cảng văn minh, hiện đại,
cửa chính thông ra biển và trung tâm công nghiệp, dịch vụ, thuỷ sản ở
miền Bắc, có kinh tế, văn hoá, giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ,
cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng an ninh vững chắc, không ngừng
nâng cao đời sống nhân dân [51, tr.223].
Như vậy, song song với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc
phòng, công tác khoa học và công nghệ cũng được Đảng bộ thành phố chú trọng.

Với vị trí địa lý và đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân số, nguồn lực, Hải Phòng có lợi
thế đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và dịch vụ. Đặc
biệt với ưu thế cảng biển hiện nay và trong tương lai, thành phố giữ vai trò to lớn đối với
xuất khẩu của vùng Bắc Bộ, có điều kiện tiếp nhận và ứng dụng nhanh các thành tựu
khoa học và công nghệ hiện đại. Như vậy, do có sự quan tâm phát triển khoa học và
công nghệ của Đảng bộ thành phố, cùng với ưu thế sẵn có, ngành khoa học và công

trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1999.v.v…
Bên cạnh đó, đã có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về khoa học và công nghệ, trong
đó các tác giả tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ đối với
các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, một số công trình nghiên cứu về sự lãnh
đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ của cả nước và một số tỉnh như: Luận án
Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Lợi nghiên cứu về "Vận dụng tiến bộ khoa học – công
nghệ trong sự phát triển nông nghiệp nước ta", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2000; Luận văn thạc sĩ kinh tế của Cao Quang Xứng: "Tiến bộ khoa học
và công nghệ và tiến trình hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam", Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003; Luận Văn Thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Văn Vinh:
"Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo phát triển khoa học và công nghệ từ 1986 đến
2002", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003; Gần đây nhất là Luận
văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Bích Liên nghiên cứu đề tài: "Đảng Cộng Sản Việt
Nam lãnh đạo phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2006", Học viện
Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008.
Cùng với các sách, luận văn, luận án nghiên cứu về khoa học và công nghệ, các tạp chí
nghiên cứu khoa học cũng có nhiều bài viết bàn về vấn đề này như: "Tạo lập và phát
triển thị trường khoa học – công nghệ ở nước ta" của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí
Lý luận Chính trị, số 11-2004; "Đóng góp của khoa học – công nghệ vào nuôi trồng
thuỷ sản ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp" của Nguyễn Thị Hường, Tạp chí Lý luận
Chính trị, số 2-2005; "Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của khoa học đối
với sự phát triển kinh tế – xã hội" của Ngô Ngọc Thắng, Tạp chí Lý luận Chính trị, số

11-2007; "Khoa học và công nghệ đang thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế –
xã hội" của tác giả Minh Đường, Tạp chí Cộng Sản số 789 (tháng 7-2008).
Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về vai trò của khoa học và
công nghệ cũng như việc nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ đối
với sản xuất ở Hải Phòng: "Kỷ yếu hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học và công
nghệ thành phố Hải Phòng giai đoạn 1996 – 2000" của Sở Khoa học, công nghệ và Môi

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trương,
chính sách của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với công tác phát triển khoa học và
công nghệ.
+ Các đề tài nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực: khoa học xã hội và nhân văn, khoa
học tự nhiên; khoa học kỹ thuật và công nghệ ở Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình Đảng bộ thành phố Hải
Phòng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn từ năm 1996
đến năm 2005.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận:
- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đường lối, chính sách của Đảng về công tác khoa học và công nghệ.
* Nguồn tài liệu:
- Các tác phẩm kinh điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh bàn về vấn đề
khoa học.
- Các văn kiện, các Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết Hội nghị, các Chỉ thị, các Chương
trình hành động của Trung ương Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước.
- Các Nghị quyết, Chương trình hành động, Chỉ thị của Thành uỷ, các báo cáo tổng kết
của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Sở Khoa học và công nghệ Hải Phòng.

- Các công trình nghiên cứu, luận án, luận văn của tập thể, cá nhân đã được công bố liên
quan đến đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và lôgic
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá toàn bộ những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng bộ thành phố

Hải Phòng nằm ở toạ độ địa lý: 20
0
30’39” – 21
0
01’15” vĩ độ Bắc và 106
0
23’39” –
107
0
08’39” kinh tuyến đông. Ranh giới hành chính Hải Phòng giáp 3 tỉnh thuộc vùng
Đông Bắc Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng. Phía Bắc giáp Quảng Ninh – khu công
nghiệp than lớn nổi tiếng của cả nước; Phía Tây giáp Hải Dương; Phía Nam giáp Thái
Bình gần 40 km theo dòng sông Hoá - một nhánh của sông Luộc. Phía Đông là 125 km
đường bờ biển chạy hướng Đông Bắc - Tây Nam từ cửa Lạch Huyền đến cửa Thái Bình,
mở rộng đón gió Vịnh Bắc Bộ.
Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua
hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng
không.
* Về địa hình, địa mạo: Địa hình Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá
trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp. Phía Bắc Hải phòng có dáng dấp của một vùng

trung du với những đồng bằng xen đồi trong khi phần phía nam thành phố lại có địa
hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển.
Ở Hải Phòng, đồi núi chiếm 15% diện tích của thành phố, chủ yếu là các dải đồi núi sót
lại, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt
võng với cường độ nhỏ. Cấu tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có
tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng tây bắc - đông nam từ
đất liền ra biển.
* Biển, bờ biển và đảo Hải Phòng:
Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi. Bờ biển

km
2
. Với 16 sông chính tỏa rộng khắp địa bàn thành phố với tổng độ dài 300 km, trong
đó bao gồm sông Thái Bình, dài 35 km, Sông Cấm dài trên 30 km, Sông Đá Bạch - Bạch
Đằng, dài hơn 32 km, sông Hàn nằm ở phía Đông Bắc huyện Thuỷ Nguyên, … Từ Phả
Lại - nơi hợp lưu giữa sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam (sông Thương và sông
Lục Nam là nguồn của sông Thái Bình), các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ
và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh Môn, Lạch Tray,
Kinh Thầy, Văn Úc, Đa Độ… đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính.
* Về tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản:
Do đặc điểm lịch sử địa chất Hải Phòng ít có dấu vết hoạt động macma nên cho đến nay
chưa phát hiện thấy những mỏ khoáng sản lớn ở Hải Phòng. Tuy nhiên, cũng có một số
mỏ cỡ vừa và nhỏ có giá trị phục vụ cho nhu cầu công nghiệp địa phương.
Các loại khoáng sản kim loại: Sa khoáng ven biển là nét đặc trưng cho sắc thái biển, được
phát hiện ở khu bờ biển Cát Hải và Tiên Lãng, thuộc loại hình sa khoáng tổng hợp của các
nguyên tố biển, chủ yếu là Titan và Ziacôn. Ngoài ra còn có những biểu hiện khoáng hoá
trên đảo Bạch Long Vĩ gặp dưới dạng kết hạch Xiđêrit, mỏ sắt ở Dưỡng Chính thuộc xã
Chính Mỹ, Thuỷ Nguyên.
Khoáng sản phi kim loại có mỏ Cao Lanh ở Doãn Lại (Thuỷ Nguyên); Mỏ sét ở Tiên Hội,
Chiến Thắng (Tiên Lãng); Đá vôi phân bố chủ yếu ở Cát Bà, Tràng Kênh, Phi Liệt, phà
Đụn; Mỏ quaczit và tectit ở một số núi thuộc Đồ Sơn; phốt phát ở đảo Bạch Long Vĩ; Nước
khoáng ở xã Bạch Đằng (Tiên Lãng)…

Tài nguyên biển là một trong những nguồn tài nguyên quý hiếm của Hải Phòng với gần
1000 loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển có giá trị kinh tế cao như tôm rang, tôm
he, cua bể, đồi mồi, sò huyết, cá heo, ngọc trai, tu hài, bào ngư… là những hải sản được
thị trường thế giới ưa chuộng. Nguồn nước biển mặn cao và ổn định ở một số vùng biển
Cát Hải, Đồ Sơn dùng để sản xuất muối phục vụ cho công nghiệp hoá chất địa phương
và Trung ương cũng như đời sống của nhân dân. Biển Hải Phòng có nhiều bãi cá, lớn
nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ với độ rộng trên 10.000 hải lý vuông, trữ lượng

nước. Đây là một văn kiện có tính cương lĩnh, định hướng bước đi của thành phố Hải
Phòng trong thế kỷ XXI.
Ngay từ đầu những năm 1990, Hải Phòng được Trung ương xác định là một cực tăng
trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Nền kinh tế Hải Phòng chuyển dịch theo
hướng lấy kinh tế đối ngoại làm mũi nhọn đã vượt qua khó khăn và có những khởi sắc
về công nghiệp, nông nghiệp, đầu tư và xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng
được tăng cao, lạm phát được đẩy lùi. Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an
ninh, trật tự, trị an được đảm bảo. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được thay thế bằng
cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó,
thành phố sắp xếp lại sản xuất, đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất và chất
lượng sản phẩm; các lĩnh vực: công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng được ưu tiên đầu tư. Từ năm 1996 đến năm 2000, giá trị sản xuất
công nghiệp tăng bình quân 23,45%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm
tới 50% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố. Bên cạnh đó, nông nghiệp, thuỷ sản
cũng bắt đầu có bước phát triển khá. Nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Hải Phòng phát triển hơn trước. Đến năm
2000 có 87 dự án có hiệu lực, với số vốn đăng ký trên 1,3 tỷ đô la Mỹ. Hoạt động sản
xuất tăng gấp 3 lần thời kỳ 1991 – 1995. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10
năm 1996 – 2000 đạt 10,3%, cơ cấu kinh tế của thành phố đã chuyển dịch đúng hướng.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, thế mạnh của công nghiệp, thương mại, du lịch ngày

càng được phát huy, hoạt động hướng vào xuất khẩu. Cơ sở hạ tầng, đô thị, nông thôn
và hải đảo được xây dựng và cải tạo rõ rệt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam
đề ra phương hướng phát triển kinh tế – xã hội đất nước, đây là bước mở đầu quan trọng
trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm – Chiến lược đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền
tảng đến năm 2010 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đồng thời, thực
hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ thành phố Hải Phòng, Đảng bộ, quân

Công tác quản lý và phát triển đô thị có những chuyển biến rõ nét. Sự nghiệp phát triển
văn hóa – xã hội, đào tạo nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm,
phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm thực hiện các chính sách xã hội
được quan tâm. Trong 5 năm 2001 – 2005, thành phố giải quyết cho gần 19 vạn lao
động, giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống còn 5,9% vào năm 2005. Tỉ lệ sử dụng thời gian lao
động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn đạt gần 80%, hạ tỉ lệ đói nghèo xuống còn
3%, vượt kế hoạch 0,5%, xây dựng 6.500 nhà tranh vách đất. Mặt bằng dân trí, đời sống
vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước, bộ mặt nông thôn ngoại thành
và hải đảo có nhiều khởi sắc.
Chính trị xã hội ổn định, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, thế trận quốc
phòng toàn dân, an ninh nhân dân và việc xây dựng phòng thủ được củng cố một bước
vững chắc.
Công tác giáo dục – đào tạo có những chuyển biến tích cực. Quy mô giáo dục – đào tạo
tiếp tục ổn định và phát triển, số học sinh các cấp, các bậc học đều tăng. Ngoài trường
quốc lập, thành phố mở rộng các mô hình đào tạo: bán công, dân lập, tư thục. Năm
2001, thành phố đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Cơ sở vật chất phục vụ cho
công tác giáo dục ngày càng được tăng cường, gần 100% số xã có trường học cao tầng,
trên 30% số trường đạt chuẩn quốc gia, không còn tình trạng học 3 ca. Công tác đào tạo,
bồi dưỡng giáo viên được triển khai mạnh mẽ ở các cấp học, bậc học đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tính đến năm
2005, thành phố có gần 3 vạn giáo viên, trong đó có trên 100 tiến sĩ, trên 1000 thạc sĩ,

20 giáo sư, phó giáo sư. Công tác đào tạo nghề được đầu tư phát triển, chất lượng nguồn
nhân lực không ngừng nâng lên. Công tác xã hội hoá phát triển mạnh và đúng hướng.
Các hoạt động văn hoá, y tế, thể dục thể thao phát triển khá vững về quy mô và chất
lượng. Các chương trình y tế quốc gia phát huy tác dụng, công tác y tế cơ sở được tăng
cường đầu tư, chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân được cải thiện.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được coi trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ và các tổ chức cơ sở đảng được
củng cố và nâng cao; công tác kiểm tra, công tác tổ chức và công tác cán bộ có tiến bộ;

Năm 1986, Ủy ban khoa học và kỹ thuật (nay được đổi tên thành Sở Khoa học và công
nghệ) đã hình thành 3 tổ chuyên viên quản lý các hoạt động nghiên cứu, triển khai khoa
học và kỹ thuật, trong đó có một tổ chuyên quản lý các hoạt động về khoa học xã hội.
Do vậy, từ năm 1987, nhiều Ban, ngành, bộ phận trong cơ quan Đảng và Chính quyền
thành phố như Hội đồng Lịch sử, Cục Thống kê, Sở Tư pháp, Sở Văn hóa, Ban Tổ chức
Thành ủy, đều tham gia đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học với nội dung phong
phú hơn, chuyên sâu hơn.
Năm 1988, Ủy ban khoa học và kỹ thuật thành phố được đổi tên thành Ban Khoa học và
kỹ thuật và thành lập phòng Khoa học xã hội với chức năng giúp Trưởng Ban Khoa học
và kỹ thuật quản lý các hoạt động khoa học xã hội toàn thành phố. Trong đó tập trung
nghiên cứu đề xuất phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp đẩy mạnh công tác khoa học xã
hội, hướng dẫn xây dựng, tổng hợp và quản lý các hoạt động khoa học xã hội về các
mặt, đóng góp ý kiến và đôn đốc thực hiện các biện pháp nhằm củng cố, phát triển đội
ngũ cán bộ và tổ chức quản lý công tác khoa học xã hội ở các ngành, tham gia quản lý,
quy hoạch đội ngũ cán bộ khoa học xã hội.
Các hoạt động khoa học xã hội và nhân văn ngày càng khởi sắc và có bước tiến rõ rệt.
Các đề tài nghiên cứu, thực nghiệm khoa học xã hội đã được nâng lên về quy mô, phạm
vi tác động với nhiều nội dung như: Xây dựng mô hình phòng thủ vững chắc về quốc
phòng và an ninh, mô hình tổ chức và hoạt động văn hóa trên địa bàn xã. Cùng nhiều
sách được xuất bản về khoa học xã hội nhân văn: Địa chí Hải Phòng (tập I), Lược khảo
đường phố Hải Phòng

Về khoa học tự nhiên: thành phố tổ chức nghiên cứu, điều tra về điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên và môi trường Hải Phòng, góp phần tạo cơ sở khoa học, cung cấp dữ
liệu xây dựng chiến lược, quy hoạch và các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Công tác
nghiên cứu khoa học và công nghệ trong 10 năm 1986 - 1996 chú trọng vào việc nghiên
cứu ứng dụng, tập trung giải quyết một số vấn đề do thực tế đặt ra, góp phần quan trọng
vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thủy sản, năng lượng, bưu chính – viễn thông và y tế.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhiều đề tài khoa học nghiên cứu hiện trạng môi

Đạt được kết quả trên, trước hết là do đường lối đúng đắn của Đảng và việc triển khai có
kết quả một số chủ trương, chính sách của Trung ương về phát triển khoa học và công
nghệ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố. Cơ chế quản lý kinh tế, quản lý
khoa học và công nghệ bước đầu được đổi mới tạo nhu cầu bức thiết phải triển khai, ứng
dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống. Các nguồn lực khoa
học – công nghệ tuy nhỏ bé và còn nhiều hạn chế nhưng đã bước đầu phát huy tác dụng
tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.
Tuy nhiên, khoa học và công nghệ ở Hải Phòng trong 10 năm 1986 – 1996 còn những
yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của địa phương, đó là trình độ công nghệ
thấp, tốc độ đổi mới chậm, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ còn mang nặng tính
tự phát, công tác kiểm tra, giám sát, giám định công nghệ nhập bất cập, ảnh hưởng
không tốt đến năng suất, chất lượng sản phẩm và môi trường. Nhiều vấn đề nảy sinh
trong công cuộc đổi mới ở địa phương chưa có luận cứ khoa học vững chắc để giải đáp.
Còn thiếu những dự báo khoa học cho nhiều vấn đề kinh tế – xã hội bức xúc. Công tác
quản lý môi trường yếu kém cả về năng lực lẫn điều kiện triển khai. Ý thức bảo vệ môi
trường chung của các tầng lớp nhân dân còn thấp; Đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ
còn nhiều bất cập về kiến thức năng lực thực tiễn, nhất là phương pháp luận khoa học,
thông tin công nghệ, ngoại ngữ chuyên ngành, còn thiếu nhiều cán bộ đầu ngành,
chuyên gia giỏi về khoa học quản lý, về lập và thẩm định dự án, về pháp luật, công nghệ
và nhiều lĩnh vực khác. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học – công nghệ còn
nhiều mặt yếu kém, tình trạng hẫng hụt là phổ biến. Cơ cấu và phân bố cán bộ khoa học

– công nghệ còn mất cân đối và chưa hợp lý. Đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu cả về số
lượng và chất lượng, nhất là trước yêu cầu phát triển các khu công nghiệp mới và các
liên doanh với nước ngoài.
Lý giải về nguyên nhân yếu kém, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ thành
phố lần thứ 4 (khóa XI) thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 (khóa VIII) về phát
triển khoa học - công nghệ thành phố đến năm 2000 ban hành ngày 18 tháng 3 năm
1997 nêu rõ:
Nhiều cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của

1.2.1. Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển khoa học và
công nghệ từ năm 1996 đến 2000
Theo quan điểm của các nhà kinh điển: khoa học, kỹ thuật và công nghệ bắt nguồn từ
sản xuất, từ đấu tranh xã hội, từ nhu cầu khám phá và cải tạo thế giới của con người.
Khoa học chân chính bắt nguồn từ những nhu cầu của đời sống xã hội và có sứ mệnh
phục vụ con người, phục vụ xã hội. Nhu cầu thực tiễn chính là động lực thúc đẩy khoa
học phát triển. Mục tiêu của khoa học là đi tìm chân lý khách quan, tìm ra bản chất của
sự vật, chỉ ra những thuộc tính, bản chất bên trong của sự vật. Trong tác phẩm "Lược
thảo phê phán khoa học kinh tế chính trị” viết năm 1843 – 1844, Ph.Ăngghen cho rằng:
"khoa học thì ngày càng lại càng làm cho các lực lượng tự nhiên phải phục tùng loài
người” [38,tr.774]. V.I.Lênin chỉ rõ: phải làm cho những người có kiến thức khoa học
hiểu hết được sự đê tiện của việc dùng khoa học để làm giàu cho cá nhân, để bóc lột
người khác và hiểu được rằng còn có một nhiệm vụ cao cả hơn, tức nhiệm vụ dùng khoa
học để cho tất cả quần chúng lao động hiểu biết khoa học [35,tr.121-122].
Kế thừa và phát huy những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời xuất phát từ
kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức
một cách sâu sắc về ý nghĩa và vai trò to lớn của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển của
đất nước, Người cho rằng: thời đại của chúng ta là thời đại của khoa học phát triển. Khoa
học là tài sản chung của toàn dân chứ không phải của riêng một nhóm người nào. Sự tiến bộ
của khoa học và kỹ thuật hướng tới mục đích là giải phóng con người, những thành tựu của
khoa học, kỹ thuật được sử dụng vì sự tiến bộ xã hội và vì lợi ích của nhân dân lao động:

"Chủ nghĩa xã hội gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật, với sự phát triển của văn hóa
của nhân dân. Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh
phúc vô tận" [45,tr.456].
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã vạch ra đường lối phát triển khoa học và công nghệ một cách toàn diện
và sâu sắc. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) xác định: "Giai đoạn từ nay
đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hoá đất nước. Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh

- Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy
mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học ở trong và ngoài nước. Gấp rút đào tạo lớp
chuyên gia đầu đàn. Sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ hiện có; bổ sung cán bộ cho
các cơ quan nghiên cứu triển khai, các trường đại học. Bố trí lại lực lượng khoa học và
công nghệ theo hướng gắn khoa học và công nghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu
triển khai với sản xuất và dịch vụ.
Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành khoa học và công nghệ; chú trọng xây
dựng hệ thống các phòng thí nghiệm hiện đại ở các trường đại học và các viện nghiên
cứu; xây dựng và nâng cấp mạng lưới dịch vụ kỹ thuật như đo lường, tiêu chuẩn, thẩm
định công nghệ, thông tin khoa học và công nghệ.
- Xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển khoa
học và công nghệ, đó là phát huy sự tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu, đồng thời đề cao
trách hiệm xã hội của những người làm công tác khoa học và công nghệ đối với đất
nước. Tạo lập thị trường cho các hoạt động khoa học và công nghệ. Kiểm soát các công
nghệ nhập. Thúc đẩy các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp lớn của Nhà nướcđổi
mới công nghệ, thu hút lực lượng nghiên cứu – triển khai về các doanh nghiệp.
+ Có chính sách chăm lo điều kiện làm việc, lợi ích vật chất và tinh thần của người
nghiên cứu, phát minh và ứng dụng khoa học, công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;
ưu đãi nhân tài có cống hiến quan trọng; khuyến khích cán bộ khoa học làm việc ở vùng
sâu, vùng xa. Ngăn chặn tình trạng ”chảy chất xám”.

+ Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động khoa học và công nghệ. Xây
dựng quỹ tín dụng và ngân hàng đầu tư phát triển khoa học và công nghệ. Nâng dần
mức đầu tư của ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ.
+ Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người
Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công
nghệ.
Các quan điểm của Đảng về khoa học và công nghệ là cơ sở và tạo tiền đề thúc đẩy khoa
học và công nghệ phát triển, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.

Nghị quyết khẳng định nguyên nhân dẫn đến những yếu kém là do: Các cấp uỷ đảng,
các cấp chính quyền chưa thực sự coi phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, chưa tập trung trí tuệ, công sức cho sự lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động khoa
học và công nghệ. Nhiều chủ trương đúng đắn về khoa học và công nghệ chậm được thể
chế hoá về mặt Nhà nước và chưa thực hiện nghiêm túc. Bên cạnh đó, quản lý khoa học
và công nghệ trong cơ chế thị trường còn lúng túng, bất cập. Việc tổ chức phân bổ lực
lượng còn phân tán.Việc quản lý các chương trình nghiên cứu còn mang nặng tính hành
chính Công tác đảng, công tác chính trị – tư tưởng trong một số viện nghiên cứu và
các trường đại học còn yếu. Việc phát triển đảng trong trí thức chưa được quan tâm đầy
đủ.
Để khắc phục những yếu kém, và thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết đề ra định hướng chung của
chiến lược khoa học và công nghệ đến năm 2020:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế
thừa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân
loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước. Xây
dựng không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung hoàn
thiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trích đoạn Chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2005 2.1.1 Đường lối phát triển khoa học và công nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hải Phòng về công tác phát triển khoa học và công nghệ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001 –
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status