ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
CHIẾN TRANH DU KÍCH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
CHIẾN TRANH DU KÍCH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. VŨ QUANG HIỂN
2.2.3. Trong Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ......... 64
Chương 3. NHỮNG ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
LỊCH SỬ ......................................................................................... 68
3.1. Ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ .............................................................. 68
3.1.1. Ưu điểm.......................................................................................... 68
3.1.2. Hạn chế........................................................................................... 73
3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử ....................................................................... 75
3.2.1. Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự của các lực lượng
vũ trang địa phương với các cuộc đấu tranh khác của nhân
dân trong cuộc kháng chiến toàn diện ............................................. 75
3.2.2. Đảng bộ đã biết vận dụng chủ trương kháng chiến của Đảng
vào hoàn cảnh cụ thể một cách thích hợp........................................ 77
3.2.3. Kiên trì bám đất bám dân, dựa vào dân để xây dựng lực
lượng kháng chiến lâu dài ............................................................... 78
3.2.4. Tăng cường xây dựng lực lượng dân quân du kích, một lực
lượng chiến lược ............................................................................ 80
3.2.5. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, coi trọng công tác chính
trị trong quá trình tiến hành chiến tranh du kích ............................. 81
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 88
PHỤ LỤC
....................................................................................................... 94
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
tiêu diệt địch, kết thúc chiến tranh.
Ở Việt Nam, chiến tranh du kích không những có tầm quan trọng về
chiến lược quân sự mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng: chiến tranh du kích là một phương thức của quần
chúng cách mạng để thực hành khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở cơ
sở về tay nhân dân.
Khác với nhiều cuộc chiến tranh cách mạng, ở Việt Nam, trong những
năm đầu, không có và không thể có chiến tranh chính quy, mà chỉ có chiến
tranh du kích. Chiến tranh du kích gian khổ và anh dũng đó đã phát triển dần
lên, từ nhỏ đến lớn, tiến dần lên đến hình thức vận động chiến quy mô ngày
một lớn.
Chiến tranh du kích chống Pháp của ta kế thừa truyền thống đánh giặc
cứu nước từ ngàn xưa của tổ tiên, phát triển kinh nghiệm hoạt động du kích
trong những năm tiền khởi nghĩa của Cách mạng Tháng Tám. Nó chịu sự chỉ
đạo của đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện của Đảng và tuân theo quy
luật phát triển của chiến tranh toàn dân. Đảng ta tích cực học tập và vận dụng
kinh nghiệm đánh du kích của cả Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, song không bắt
chước, rập khuôn mà rất nhiều điều không giống như chiến tranh du kích ở
các nước đó.
Nói về vai trò của chiến tranh du kích, đồng chí Lê Duẩn cho rằng đó
không phải là một chiến thuật quân sự, cũng không phải chỉ là một chiến lược
quân sự. Chiến tranh du kích ở nước ta là một hình thức vũ trang khởi nghĩa
của nông dân trong một cuộc cách mạng lâu dài, trong một tương quan lực
lượng nhất định giữa cách mạng và phản cách mạng ở một nước nông nghiệp
lạc hậu đang bị chủ nghĩa thực dân thống trị.
Trong quá trình phát triển từ thấp đến cao của chiến tranh cách mạng,
các lực lượng dân quân tự vệ và bộ đội địa phương của ta lúc đầu còn ở vào
2
3
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, nghệ thuật
quân sự của ta đã phát triển từng bước từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh
đến hoàn chỉnh và trở thành một nền nghệ thuật quân sự tiên tiến của chiến
tranh nhân dân. Đó là nghệ thuật quân sự của chiến tranh yêu nước, chính
nghĩa của một dân tộc có sở trường lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu chống mạnh về
vật chất, kỹ thuật, lấy ít địch nhiều về lực lượng vũ trang tập trung. Trong đó,
tiến hành chiến tranh du kích là một nội dung quan trọng của chiến tranh cách
mạng. Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, Đảng ta
đã phát động một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, huy động toàn dân
đánh giặc với lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, trong đó, lực
lượng dân quân du kích và chiến tranh du kích giữ một vị trí rất quan trọng.
Chính vì vậy, đề tài nghệ thuật chiến tranh du kích đã được rất nhiều các nhà
nghiên cứu và tác giả quan tâm và nghiên cứu. Về cơ bản, tình hình nghiên
cứu đề tài này được chia thành 2 nhóm chính như sau:
- Nhóm 1: Các báo cáo tổng kết, biên bản được thông qua tại các Hội
nghị, đại hội về vấn đề chiến tranh du kích.
- Nhóm 2: Những tác phẩm, bài viết, công trình nghiên cứu, các bài
khoá luận, luận văn về chiến tranh du kích được công bố và xuất bản trong
thời gian vừa qua:
1. Cuốn sách “Hải Phòng - lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược - Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hải Phòng - Nxb Quân đội nhân
dân, 1986” đã nêu lên một cách toàn diện cuộc đấu tranh của quân dân thành
Lãng - Đảng bộ ĐCSVN huyện Tiên Lãng, 1995”, “Lịch sử Đảng bộ huyện
An Lão - Đảng bộ ĐCSVN huyện An Lão, 1992”, “Kiến Thụy xưa và nay Đảng bộ ĐCSVN huyện Kiến Thụy, Nxb Hải Phòng, 2001”; các cuốn Lịch sử
5
Đảng bộ các xã… đã nêu lên vai trò lãnh đạo của Đảng bộ các huyện và xã
đối với cuộc kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tái hiện được cuộc
chiến đấu trên địa bàn các huyện diễn ra vô cùng gian khổ, quyết liệt đầy anh
dũng hy sinh, thể hiện cụ thể và sáng tạo đường lối cách mạng, đường lối
quân sự, nghệ thuật quân sự trong điều kiện cụ thể của từng địa phương dưới
sự lãnh đạo của Đảng và đã giành những thắng lợi to lớn. Xen kẽ những nội
dung nêu trên, các cuốn sách đã đề cập tới phong trào chiến tranh du kích ở
địa phương diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức đấu tranh gắn với từng giai
đoạn phát triển của cuộc kháng chiến, tuy nhiên, mới dừng lại ở những nét
lớn, các cuốn sách chưa có điều kiện khái quát và có hệ thống về phong trào
chiến tranh du kích ở địa phương.
4. Cuốn sách “Quân khu ba những trận đánh trong kháng chiến chống
Pháp (1945 - 1954) - Bộ Tư lệnh Quân khu ba, Nxb Quân đội nhân dân, HN,
1991” đã tái hiện lại những trận đánh, những chiến thắng vang dội của lực
lượng dân quân du kích kết hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương
thuộc địa bàn Quân khu 3; cuốn sách đã nêu lên tinh thần đoàn kết chiến đấu
của quân và dân Quân khu 3, đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại, góp phần
cùng cả nước tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài,
dựa vào sức mình là chính. Tuy nhiên, cuốn sách mới dừng lại ở việc tái hiện
những trận đánh của quân và dân Quân khu 3, chưa có điều kiện làm rõ về
phong trào chiến tranh du kích ở từng địa phương.
Và rất nhiều các sách chuyên khảo, một số luận văn thạc sĩ, tiến sĩ,
những công trình nghiên cứu về vấn đề chiến tranh nhân dân và chiến tranh
du kích.
- Không gian: diễn ra trên địa bàn Hải Phòng thời kỳ kháng chiến
chống Pháp.
- Nội dung:
+ Đường lối chiến tranh du kích của Đảng.
+ Âm mưu thủ đoạn của giặc Pháp trong việc chiếm đóng Hải Phòng.
7
+ Những hoạt động của bộ đội địa phương và dân quân du kích trên địa
bàn Hải Phòng.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Các văn kiện của Đảng, Chính phủ về cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Các văn kiện của Đảng bộ, chính quyền thành phố Hải Phòng trong
thời kỳ 1945 - 1954.
- Những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh
đạo Đảng, Nhà nước, quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
- Các sách đã xuất bản về lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Phòng, lịch sử
Hải Phòng, lịch sử kháng chiến chống Pháp ở Hải Phòng...
- Những tài liệu lưu trữ ở các cơ quan Thành ủy, UBND, Bộ chỉ huy
quân sự thành phố Hải Phòng.
- Một số tài liệu khai thác qua cán bộ đảng viên, quần chúng nhân dân
đã trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến diễn biến lịch sử ở Hải Phòng.
- Những bài viết của các nhà nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Kết hợp
phương pháp lịch sử, phương pháp logic với các phương pháp khác: phân
tích, tổng hợp, so sánh...
ở cửa ngõ chiến lược quan trọng của phía Đông Bắc đồng bằng Bắc bộ. Hải
Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông
qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và
đường hàng không.
Địa hình Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử
địa chất lâu dài và phức tạp. Phần bắc Hải Phòng có dáng dấp của một vùng
trung du với những đồng bằng xen đồi trong khi phần phía nam thành phố lại
có địa hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồng bằng thuần tuý
nghiêng ra biển. Đồi núi của Hải Phòng tuy chỉ chiếm 15% diện tích chung
của thành phố nhưng lại rải ra hơn nửa phần bắc thành phố thành từng dải liên
tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có quá trình phát sinh gắn liền với hệ
núi Quảng Ninh thuộc khu đông bắc Bắc bộ về phía Nam. Đồi núi của Hải
Phòng hiện nay là các dải đồi núi còn sót lại, di tích của nền móng uốn nếp cổ
bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ. Cấu
tạo địa chất gồm các loại đá cát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau
được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất
liền ra biển.
10
Diện tích Hải Phòng rộng 1503 km2, hình thành hai vùng rõ rệt: vùng
đồi núi và vùng đồng bằng, có sông, biển, hải đảo và thềm lục địa rộng lớn, có
thành phố và vùng nông thôn.
Với sự kiến tạo đó, Hải Phòng có địa thế vừa đa dạng, phong phú, vừa
phức tạp, có nhiều thế hiểm về mặt quân sự. Địa phận của thành phố Hải
Phòng có nhiều sông ngòi chảy qua, như sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông
Văn Úc, sông Thái Bình, sông Hóa, sông Chanh, sông Giá... Các sông đều
chảy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đổ ra biển qua các cửa sông
Thái Bình, Văn Úc, Cửa Cấm, Nam Triệu, rất thuận lợi cho giao thông vận tải
Hải Nam (Trung Quốc); đảo Long Châu cách bờ 50 km; đảo Cát Bà địa thế
hiểm trở, rừng núi trùng điệp, có rừng nguyên sinh đã trở thành vườn quốc
gia, cùng Đồ Sơn là những nơi du lịch nổi tiếng.
Về giao thông đường bộ, Hải Phòng có đường quốc lộ 5 nối với Hải
Dương, Hà Nội; đường 10 nối với Thái Bình, Quảng Ninh. Song song với
đường 5 có đường xe lửa. Đường 5 và đường xe lửa đi Hà Nội là những con
đường có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng. Ngoài ra có các
đường tỉnh lộ nối trung tâm thành phố với các huyện, thị trấn.
Đường hàng không Hải Phòng có 3 sân bay: Cát Bi, Kiến An, Đồ Sơn.
Sân bay Cát Bi ngoài chức năng chuyên dụng, nó còn là đường bay dân dụng
nối với các nước vùng Đông Nam Á.
Về giao thông đường biển, từ Hải Phòng, tàu biển các loại có thể đi
khắp các cảng trong nước và trên thế giới. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Hải Phòng đã từng là nơi tiếp nhận phần lớn hàng hóa của các nước anh
em và nhân dân tiến bộ trên thế giới giúp đỡ Việt Nam. Hải Phòng còn là nơi
xuất phát bí mật của những con tàu vỏ gỗ, vỏ sắt tạo nên “Đường mòn Hồ Chí
Minh trên biển” chi viện có hiệu quả sức người, sức của cho quân dân miền
Nam đánh Mỹ.
Do vị trí và địa thế tự nhiên như vậy, cho nên Hải Phòng có vị trí chiến
lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng. Nó thường là
12
một trong những nơi đi trước về sau trong nhiều cuộc chiến tranh chống xâm
lược của dân tộc ta.
Địa bàn thành phố Hải Phòng ngày nay đã xuất hiện trên bản đồ hành
chính nước ta liên tục từ Nhà nước cổ sơ Văn Lang đến Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau và nhiều lần điều
chỉnh địa giới, địa danh. Riêng địa bàn đô thị Hải Phòng lúc đầu được hình
Thời Pháp thuộc, Hải Phòng cũng trải qua nhiều biến đổi. Ngày 11
tháng 9 năm 1887, thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định thành lập tỉnh Hải Phòng.
Ngày 19 tháng 7 năm 1888, toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập
Hải Phòng và ép vua Đồng Khánh nhượng khu vực này cho thực dân Pháp.
Thành phố Hải Phòng trở thành nhượng địa, hưởng quy chế thành phố cấp 1
như Sài Gòn và Hà Nội. Ngày 31 tháng 8 năm 1889, toàn quyền Đông Dương
tách thành phố Hải Phòng ra khỏi tỉnh Hải Phòng, thành đơn vị hành chính
riêng, chuyển tỉnh lỵ về Phù Liễn, đổi tên là tỉnh Phù Liễn. Ngày 17 tháng 2
năm 1906 lại đổi tên thành tỉnh Kiến An.
Cách mạng Tháng Tám thành công, thành phố Hải Phòng được giải
phóng. Trước yêu cầu của tình hình mới, ngày 26 tháng 11 năm 1946, Chính
phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sáp nhập Hải Phòng, Kiến An thành liên tỉnh
Hải - Kiến, và do điều kiện của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng
12 năm 1948 lại tách ra. Đến 20 tháng 10 năm 1962, Nghị quyết Quốc hội
khóa 2 quyết định hợp nhất tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng lấy tên là
thành phố Hải Phòng gồm địa bàn liên tỉnh Hải - Kiến cũ, cộng thêm huyện
Vĩnh Bảo sáp nhập vào tỉnh Kiến An năm 1952 và hai huyện Cát Bà, Cát Hải,
đảo Bạch Long Vĩ sáp nhập vào thành phố Hải Phòng từ năm 1956.
Hải Phòng là một thành phố ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XIX.
Trên địa bàn miền Bắc, Hải Phòng là một đô thị có tuổi đời trẻ nhất so với
nhiều đô thị cổ có quá trình tồn tại lâu dài như Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình,
Hải Dương.
Hải Phòng phát triển thành đô thị xuất phát từ một làng chài nhỏ gần
cửa sông, cửa biển có bến tàu thuyền, trạm thuế quan và đồn canh cửa biển,
14
với hai chức năng kinh tế và quốc phòng. Sau khi ra đời, do vị trí thuận lợi và
trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, Hải Phòng đã mau chóng trở thành thành phố hải cảng có tầm quan trọng lớn cả về mặt kinh tế - chính trị lẫn quân sự trong
làng thành quốc sách để mở mang, giữ gìn bờ cõi. Trên vùng đất Hải Phòng,
từ thượng huyện Thủy Nguyên đến cửa Văn Úc, từ vùng đảo Cát Bà - Cát Hải
đến cửa Ngãi Am (Vĩnh Bảo) nhiều làng được lập thêm, dân cư đông đúc.
Những vùng đất mới được hình thành, người từ khắp vùng đồng bằng sông
Hồng kéo đến, đời nọ tiếp đời kia, cộng đồng làng xã ngày càng bền vững,
hình thành một sắc thái riêng của những cư dân vùng biển. Cuộc hội cư lớn
thứ hai diễn ra vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 trong quá trình đô thị hoá
Hải Phòng và chủ yếu đưa đến sự hình thành khối cư dân nội thành.
Đến đầu thế kỷ 19, đã có nhiều thuyền bè nước ngoài thường qua lại
trao đổi hàng hoá và buôn bán ở vùng cảng Hải Phòng ngày nay. Sau khi thực
dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng tập trung xây dựng Hải Phòng ở thành
một hải cảng lớn, được khởi công vào năm 1883 và hoàn thành năm 1888.
Quá trình xây dựng là quá trình thành phố Hải Phòng được kiến trúc một cách
quy mô phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.
Hải Phòng là một vùng đất ven biển, cư dân từ khắp nơi tụ hội đến, chủ
yếu là những nông dân ở đồng bằng Bắc bộ, do đói kém, do bị áp bức bóc lột,
họ phải dời làng quê gốc phiêu bạt tới đây tìm một cuộc sống mới. Sinh sống
lâu đời trên một vùng đất chua mặn, luôn luôn phải đối phó với biển khơi và
bão tố để tồn tại và phát triển... nên trước hết cư dân Hải Phòng là những
người lao động cần cù và dũng cảm, không chịu khuất phục trước thiên tai
cũng như những bất công xã hội. Mặt khác, những con người tứ xứ khi phiêu
bạt đến đây và trụ lại được ở mảnh đất này phải là những con người kiên nghị,
năng động và sáng tạo trong lao động. Đó là tính cách của những người thợ đá
ở Tràng Kênh đã làm nên những chiếc vòng đá quý đẹp, là những người thợ
đúc đồng Việt Khê.... Truyền thống đó của ông cha sẽ được những người
16
công nhân thời hiện đại ở đây tiếp thu và phát huy trong những điều kiện lao
Hải Phòng. Năm 1925. Nguyễn Ái Quốc đã cử đồng chí Hồ Tùng Mậu về Hải
Phòng tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Từ đây, công nhân và
nhân dân lao động Hải Phòng đã có tổ chức cách mạng lãnh đạo, tổ chức
Cộng sản và Công hội đỏ ra đời. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cử đồng chí
Nguyễn Lương Bằng, đồng chí Bùi Lâm xây dựng trạm thông tin liên lạc ở
Hải Phòng. Qua các thủy thủ người Việt, thủy thủ người Pháp đã đưa sách
kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, tác phẩm Đường Kách Mệnh và các tác
phẩm khác của Nguyễn Ái Quốc đến nhân dân lao động Hải Phòng. Luồng tư
tưởng mới, tiến bộ của thời đại đã thổi vào quần chúng nhân dân Hải Phòng.
Quá trình cách mạng hoá của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của các chiến sỹ cách mạng đã dấy lên phong trào cách mạng của Hải Phòng.
Nhân dân Hải Phòng đã cùng nhân dân cả nước giành thắng lợi vĩ đại trong
cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 .
Sau chín năm cùng cả nước kháng chiến, Hải Phòng giải phóng hoàn toàn
vào ngày 13/5/1955. Đảng và Nhà nước đầu tư cho thành phố Cảng thành khu
trung tâm công nghiệp của cả nước để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Một
loạt nhà máy xây dựng tiếp thêm nguồn lực cho nhân dân Hải Phòng. Điển hình
như Nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng - nhà máy đầu tiên của ngành đóng tàu Việt
Nam, các nhà máy khác mọc lên như: nhà máy Nhựa Tiền Phong, nhà máy sắt
tráng men, nhà máy Thủy tinh… đã tạo nên một thành phố công nghiệp của cả
nước. Hải Phòng vinh dự được 9 lần Bác về thăm.
18
1.1.2. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ
Sau khi Hiệp ước Pháp - Hoa được ký kết, ngày 3/3/1946, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Tình hình và chủ trương”. Chỉ thị nhận định
Hiệp ước Pháp - Hoa là biểu hiện sự thoả hiệp giữa bọn đế quốc với nhau; chỉ
Chỉ thị Toàn dân kháng chiến là Cương lĩnh cách mạng của Đảng và dân tộc
ta trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược. Tiếp đó,
tháng 2/1947, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng đã viết một
loạt bài giải thích đường lối kháng chiến, đăng liên tiếp trên 11 số báo Sự
thật: “Chúng ta đánh ai?”; “Đánh để làm gì?”; “Tính chất cuộc kháng chiến
của ta”; “Những khó khăn của ta và của Pháp”; “Phát động phong trào dân
quân”; “Động viên toàn dân”... Trong dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Nam bộ
kháng chiến (23/9/1947), những bài báo này được bổ sung và in thành sách
phát hành rộng rãi khắp cả nước. Tên sách nói lên niềm tin sắt đá: “Kháng
chiến nhất định thắng lợi”.
Với phương pháp phân tích khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, với
nội dung súc tích, lời văn hùng tráng, tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng
lợi” đã góp phần quan trọng vào việc tổ chức, giáo dục, động viên quân và
dân ta bền gan vững chí, kiên quyết chiến đấu đến toàn thắng.
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, Chỉ thị Toàn dân
kháng chiến của Trung ương Đảng và tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng
lợi ” của đồng chí Trường Chinh là những văn kiện lịch sử, trong đó, đường
lối kháng chiến của Đảng đã được đề ra. Đó là đường lối tiến hành chiến tranh
cách mạng trên cơ sở động viên và tổ chức quần chúng sâu rộng, chiến đấu vì
những mục tiêu dân tộc dân chủ, tiếp tục sự nghiệp cách mạng Tháng Tám,
xây dựng một nước Việt Nam mới, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu
mạnh. Đó cũng là đường lối kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành
độc lập và dân chủ của nhân dân ta với cuộc đấu tranh chung của giai cấp vô
sản và nhân dân các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc trong trào lưu
cách mạng thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
20
Đường lối kháng chiến ấy bên ngoài thì đoàn kết với hai dân tộc Miên,