ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN HẢI HÀ
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN HẢI HÀ
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hà
Hà Nội - 2014
góp ý từ thầy cô và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2014
Học viên
Nguyễn Hải Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÃNH ĐẠO
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 ................................ 9
1.1. Các yếu tố tác động và tình hình du lịch Hải Phòng trƣớc năm
2001 ................................................................................................................ 9
1.1.1. Khái niệm du lịch, kinh tế du lịch..................................................... 9
1.1.2. Tiềm năng du lịch Hải Phòng ......................................................... 10
1.1.3. Tình hình du lịch Hải Phòng trƣớc năm 2001 ................................ 16
1.2. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về kinh tế du lịch từ
năm 2001 đến năm 2005 .............................................................................. 18
1.3. Chủ trƣơng và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố
Hải Phòng về kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2005 ........................... 21
1.3.1 Chủ trƣơng và quá trình chỉ đạo thực hiện ...................................... 21
1.3.2. Kết quả hoạt động kinh tế du lịch ................................................... 25
Chương 2. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TĂNG CƢỜNG
LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011 ............. 30
2.1. Những điều kiện mới tác động tới sự phát triển kinh tế du lịch
Hải Phòng .................................................................................................... 30
2.1.1. Những điều kiện mới ...................................................................... 30
2.1.2. Chủ trƣơng, chính sách mới của Đảng ........................................... 32
2.2. Chủ trƣơng và quá trình chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động kinh tế du
và phát triển du lịch trong tình hình mới, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã
xác định: “Phát triển du lịch là một hướng đi chiến lược quan trọng trong
đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước”[1, tr1]. Nhà nƣớc cũng xác định: “Du lịch là
một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có
tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du
lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế
xã hội của đất nước” [3, tr1]
Nhƣ vậy, có thể thấy, du lịch không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao,
tăng thu nhập cho đất nƣớc mà còn có giá trị to lớn trong việc nâng cao đời
sống nhân dân, đảm bảo góp phần tái sản xuất sức lao động cho con ngƣời. Sự
phát triển của du lịch góp phần kích thích sự phát triển của nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Chính vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam
xác định mục tiêu: phát triển du lịch là một hƣớng chiến lƣợc quan trọng
1
trong đƣờng lối phát triển kinh tế, xã hội góp phần vào thực hiện công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất khu vực phía Bắc, là một trong
ba cực tăng trƣởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc cùng với Hà Nội
và Quảng Ninh. Với việc sở hữu nhiều điểm tham quan, khu du lịch chất
lƣợng cao: khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, bãi biển Đồ Sơn, casino, sân golf
Đồ Sơn, khu nghỉ dƣỡng – sinh thái và bể bơi tạo sóng nhân tạo lớn nhất châu
Á tại Hòn Dáu...Thành phố Hải Phòng cũng là địa phƣơng giàu tiềm năng để
phát triển kinh tế du lịch với những sản phẩm du lịch mang tính đặc thù. Xuất
phát từ những tiềm năng to lớn đó, Đảng bộ Hải Phòng đã xác định kinh tế du
lịch là một ngành kinh tế trọng điểm của thành phố. Dƣới sự chỉ đạo của
Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố, ngành du lịch thành phố không ngừng
nguồn lực để phát triển du lịch cũng nhƣ các loại hình du lịch, kinh doanh du
lịch; Công trình “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm
Trung Lƣơng chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001, trình bày một số kiến
thức về tài nguyên môi trƣờng du lịch, sự ảnh hƣởng, tác động của hoạt động
du lịch tới môi trƣờng; Cuốn “Một số vấn đề về du lịch Việt Nam” của Đinh
Trung Kiên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tìm hiểu những
chặng đƣờng du lịch, đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch, tài nguyên du lịch
trƣờng hợp cụ thể ở Hà Nam Ninh; Cuốn “Du lịch ba miền” của Bửu Ngôn,
Nhà xuất bản Thanh niên, 2009; Cuốn “Địa danh du lịch của Việt Nam” của
Nguyễn Thị Thu Hiền, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2009; Cuốn “Quy
hoạch du lịch”, Bùi Thị Hải Yến, Nhà xuất bản Giáo dục, 2009
Hai là, các bài báo, tạp chí: “Du lịch Việt Nam phát triển theo hướng
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, Trần Nguyễn Tuyên, Tạp chí Quản lý nhà
nước số 7, 2005; “Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng
Cộng sản Việt Nam” của Trần Đức Thanh, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2,
2005. Bài viết đã khái quát đƣờng lối phát triển du lịch của Đảng trong thời
kỳ đổi mới và những thành tựu mà du lịch đạt đƣợc dƣới sự lãnh đạo của
Đảng;“Để du lịch Việt Nam không mãi là tiềm ẩn” của Phạm Hạnh, Tạp chí
Tài chính doanh nghiệp, số 3, 2008. Bài viết nêu những đóng góp của du lịch
Việt Nam với các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á, bƣớc tiến của du lịch
Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) và những vấn
3
đề đặt ra với các doanh nghiệp du lịch Việt Nam; “Du lịch sinh thái, thực
trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Hòa ,Tạp chí
Kinh tế và phát triển, số 103, 2009; “Du lịch Việt Nam trước cơ hội mới” của
Thúy Mơ, Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, số 2, 2007. Bài viết
khái quát những thành tựu của du lịch Việt Nam năm 2006 và những mục
tiêu, khó khăn, thách thức của ngành năm 2007; “Du lịch Việt Nam trong tiến
và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn; Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động
trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam” (2002) của Hoàng Văn Hoan, Đại học
Kinh tế quốc dân. Luận án trình bày cơ sở lý luận của nội dung quản lý nhà
nƣớc đối với kinh doanh du lịch, thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với lao động
trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
quản lý nhà nƣớc đối với lao động trong ngành này; Luận án tiến sĩ kinh tế
“Các giải pháp tài chính nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010”,
(2004) của Chu Văn Yêm, Học viện Tài chính. Đề tài nghiên cứu thực trạng
du lịch Việt Nam, thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính đối với hoạt
động du lịch nhằm chỉ ra những tác động tích cực và hạn chế của chúng, qua
đó đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các giải pháp tài chính nhằm
đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010; Luận văn thạc sỹ lịch sử
“Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm
2000 đến năm 2010” (2012) của Ngô Bá Khiêm; Luận án tiến sĩ kinh tế của
Nguyễn Đình Sơn “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng Bắc Bộ và tác động của
nó tới quốc phòng, an ninh” (2007)...
Đối với vấn đề phát triển kinh tế du lịch Hải Phòng, có một số công
trình nghiên cứu nhƣ: “50 năm du lịch Hải Phòng” của câu lạc bộ cán bộ hƣu
trí du lịch, Nhà xuất bản Hải Phòng (2005). Đây là cuốn sách tập hợp các bài
viết nhìn lại quá trình hoạt động và phát triển của du lịch Hải Phòng góp phần
vào sự phát triển chung của thành phố; Luận văn thạc sỹ du lịch “Phát triển
sản phẩm du lịch sinh thái khu dự trữ sinh quyển Cát Bà” (2007) của Trần
Thị Thùy Linh...
5
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới vai trò, vị thế của ngành du
lịch nói chung trong sự phát triển của kinh tế đất nƣớc; phân tích tiềm năng, thực
*Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Nghiên cứu những chủ trƣơng của Đảng bộ thành phố Hải
Phòng về phát triển kinh tế du lịch, quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thành phố
trong phát triển kinh tế du lịch.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2001 đến năm 2011
Không gian nghiên cứu: Thành phố Hải Phòng
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu,
*Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng
về phát triển kinh tế du lịch.
*Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu là phƣơng pháp
lịch sử, phƣơng pháp logic. Ngoài ra, còn sử dụng các phƣơng pháp điều tra,
phân tích, so sánh, thống kê số liệu.
*Nguồn tài liệu
Các văn kiện, tài liệu của Đảng và nhà nƣớc có liên quan: Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII, IX, X
Hệ thống các văn kiện của Thành ủy và các văn bản chỉ đạo, điều hành
của chính quyền Thành phố: Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ
XVII, XVIII, XIX; các Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo hàng năm của Thành ủy,
các chƣơng trình hành động, báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố; các báo
cáo hàng năm của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Hải Phòng...
Các công trình nghiên cứu, tổng kết có liên quan.
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế du
lịch từ năm 2001 đến năm 2011, nêu thực trạng phát triển kinh tế du lịch,
những thành tựu đạt đƣợc và những hạn chế tồn tại, bƣớc đầu rút ra những
kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ Thành
phố trong lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch.
tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Nhƣ
vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham
gia. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm
của ngành văn hóa – xã hội.
Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch là hoạt động kinh doanh
du lịch. Kinh tế du lịch từng bƣớc trở thành một bộ phận hợp thành của hoạt
động kinh tế - xã hội, lấy sự phát triển các loại hình kinh doanh du lịch, biến
các tài nguyên du lịch của một quốc gia, một vùng lãnh thổ thành hàng hóa và
dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu cho du khách. Du lịch dần đƣợc xã hội hóa,
số lƣợng ngƣời đi du lịch ngày càng đông, xuất hiện những nhu cầu cần giải
quyết nhƣ: bảo đảm chỗ ăn, chỗ ngủ cho những ngƣời tạm thời sống ngoài nơi
cƣ trú thƣờng xuyên của họ. Để đáp ứng nhu cầu đó đã xuất hiện các nghề
mới trong dân chúng ở vùng có tài nguyên du lịch nhƣ kinh doanh du lịch,
nhà hàng, môi giới, hƣớng dẫn du lịch…Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ
du lịch nhƣ khách sạn, quán ăn, cửa hàng, tiệm giải khát, dịch vụ giặt là,
massage…cùng các tổ chức du lịch và đội ngũ phục vụ du khách lần lƣợt ra
9
đời. Từng bƣớc hình thành một ngành mới là ngành kinh doanh du lịch và
theo đó xuất hiện một thị trƣờng mới là thị trƣờng du lịch. Theo Từ điển Bách
khoa Việt Nam, “kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù mang
tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có
du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng nhiệm vụ tổ chức việc
khai thác tài nguyên và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên,
phong cảnh kinh tế, văn hóa, lịch sử…) nhằm thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ
cho khách du lịch” [17, tr586].
1.1.2. Tiềm năng du lịch Hải Phòng
Muốn đầu tƣ để phát triển các loại hình kinh doanh du lịch có hiệu quả
Hệ thống sông ngòi Hải Phòng có mật độ trung bình từ 0.6 – 0.8
km/km2, độ dốc nhỏ, chảy chủ yếu theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Các
con sông chính của Hải Phòng: sông Đá Bạc, sông Cấm, sông Lạch Tray,
sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Bạch Đằng, ngoài ra còn có nhiều con
sông nhỏ khác nằm ở khu vực nội thành quận Hồng Bàng.
Với đặc điểm địa hình đa dạng, phong phú, Hải Phòng có điều kiện
phát triển các loại hình du lịch khác nhau: du lịch sinh thái biển đảo, du lịch
điền dã...
Khí hậu là một yếu tố tự nhiên quan trọng đối với quá trình hình thành
và phát triển các loại hình kinh doanh du lịch. Hải Phòng nằm trong vùng có
khí hậu khá đa dạng. Chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong đó,
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của mùa Đông lạnh và khô, từ
tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa Hè, nồm mát và mƣa nhiều. Lƣợng
mƣa trung bình từ 1.600 – 1.800 mm/năm. Do nằm sát biển nên vào mùa
Đông, Hải Phòng ấm hơn 1oC và mùa Hè mát hơn 1oC so với Hà Nội. Với
điều kiện khí hậu nhƣ vậy, Hải Phòng khá thuận lợi cho việc phát triển các
loại hình du lịch kinh doanh theo nhu cầu của khách nghỉ dƣỡng, tham quan
thắng cảnh, lễ hội…vào thời gian có khí hậu mát mẻ, ít mƣa bão nhƣ tháng 2,
3, 4, 10, 11 hoặc khách đi du lịch biển, núi, du lịch đồng quê…vào các tháng
hè nhƣ tháng 5, 6, 7, 8. Nhƣ vậy, với đặc điểm khí hậu đa dạng là điều kiện
11
thuận lợi cho quá trình xây dựng các sản phẩm du lịch quanh năm để tránh
đƣợc yếu tố mùa vụ trong kinh doanh.
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên rừng: Hải Phòng có rừng ngập mặn và rừng cây lấy gỗ, ăn
quả, tre, mây,…với diện tích 17.000 ha. Rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm
thực vật phong phú, đa dạng, nhiều loại thảo mộc quý hiếm; Đồ Sơn là một
bán đảo đồi núi, rừng thông nối tiếp nhau vƣơn ra biển dài đến 5 km, có giá trị
rồng ở Đồ Sơn, lễ hội làng cá Cát Bà, hội vật cầu làng Kim...
Ngoài những tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn kể trên, các điều
kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật cũng góp phần không nhỏ đảm bảo cho du lịch
Hải Phòng phát triển bền vững:
Trƣớc hết là sự phát triển của nền kinh tế thành phố trong những năm gần
đây. Quy mô kinh tế của thành phố từng bƣớc đƣợc mở rộng, duy trì vị trí thứ
hai ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, sau thủ đô Hà Nội. “GDP tăng trưởng
liên tục với tốc độ khá, bình quân 11%/năm, gấp 1,57 lần mức tăng chung cả
nước. Năm 2012 đạt 28.815 tỷ đồng (giá so sánh) gấp 2,8 lần năm 2002. Tỷ
trọng GDP (theo giá so sánh) trong GDP cả nước liên tục tăng qua các năm, từ
3,2% năm 2002 lên 3,9% năm 2007 và 4,7% năm 2012. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo đúng định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng GDP của
các nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng từ 84,1% năm 2002 lên
89,7% năm 2012 (trong đó dịch vụ tăng từ 48,9% lên 53,5%) [38, tr3]
Với vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa ngõ ra biển của toàn
miền Bắc, Hải Phòng hội tụ đủ tất cả các loại hình giao thông là đƣờng bộ,
đƣờng sắt, đƣờng hàng không và hệ thống cảng biển.
Về giao thông đƣờng bộ: Hải Phòng có các tuyến đƣờng huyết mạch
nối với các tỉnh khác: Quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 37 và các tuyến đƣờng
cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đƣờng cao tốc ven biển Quảng Ninh – Hải
Phòng – Ninh Bình. Do có mạng lƣới sông ngòi dày đặc nên Hải Phòng cũng
có một số lƣợng lớn các cầu: cầu Bính bắc qua sông Cấm; cầu Lạc Long bắc
qua sông Tam Bạc, cầu Quay bắc qua sông Tam Bạc…
13
Về đƣờng sắt: Hải Phòng có một tuyến đƣờng sắt là Hà Nội – Hải
Phòng do Pháp xây dựng từ năm 1901 và đƣợc đƣa vào sử dụng từ tháng 6
năm 1902. Tuyến đƣờng sắt này dài 102 km, gần nhƣ song song với quốc lộ
du lịch có vai trò chiến lƣợc trong phát triển kinh tế chung của cả thành phố.
Từ đó, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã và đang tích cực bổ sung, điều chỉnh,
từng bƣớc hệ thống hóa các chính sách về kinh tế - tài chính, đất đai, tạo môi
trƣờng thuận lợi để khuyến khích, kêu gọi đầu tƣ phát triển kinh tế nói chung
và kinh tế du lịch nói riêng.
Nhƣ vậy, từ việc phân tích các nguồn lực kể trên, có thể thấy Hải
Phòng đang có các điều kiện hết sức quan trọng so với nhiều địa phƣơng khác
trong việc phát triển du lịch và kinh tế du lịch:
Một là, Hải Phòng có vị trí thuận lợi, là đầu mối giao thông trọng yếu
của khu vực phía Bắc, có lợi thế về sân bay, đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng
biển, là cửa ngõ quan trọng nối với thế giới và khu vực qua đƣờng biển. Vì
vậy, việc đầu tƣ khai thác đúng mức sẽ giúp cho thành phố phát triển toàn
diện các lĩnh vực trong đó có kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch.
Hai là, với tiềm năng có nhiều tài nguyên thiên nhiên về biển đảo, các
danh lam thắng cảng, các di tích lịch sử văn hóa kiến trúc, đã và đang tạo điều
kiện cho Hải Phòng phát triển du lịch. Nếu đƣợc khai thác một cách đúng
mức, đồng bộ, Hải Phòng sẽ trở thành một điểm du lịch nổi tiếng trong tƣơng
lai với các loại hình du lịch kết hợp.
Ba là, cùng với sự phát triển chung của đất nƣớc, Hải Phòng đang hình
thành nhiều khu vực kinh tế chất lƣợng cao với các khu công nghiệp, dịch vụ lớn,
cơ sở hạ tầng hiện đại có sức lan tỏa mạnh đang tạo ra môi trƣờng phát triển năng
động cho kinh tế du lịch thành phố trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
Với những lợi thế của mình, Hải Phòng đang trở thành một trong
những trung tâm dịch vụ, các nhà hàng đặc sản, các nhà nghỉ dƣỡng dành cho
khách du lịch và nghỉ dƣỡng dài ngày, các khu nhà ở cao cấp cho ngƣời nƣớc
ngoài thuê để lƣu trú lâu dài khi làm việc tại Hải Phòng (Khách sạn Hữu
Nghị, khách sạn Royal Garden, khách sạn Harbor View, khách sạn Tray,
Làng quốc tế Hƣớng Dƣơng…); nhiều khu vui chơi, giải trí và thƣ giãn: sân
tennis, bể bơi, sân golf, câu cá, quán bar, casino Đồ Sơn…
15
thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và nằm trong hệ thống các đơn vị thuộc
16
ngành Du lịch Việt Nam), sau đó đổi thành Liên hiệp Công ty Du lịch Hải
Phòng gồm 16 đơn vị thành viên. Cùng với việc khai thác những tiềm năng du
lịch Đồ Sơn, Công ty Du lịch Hải Phòng còn mở tuyến du lịch biển đảo.
Trên cơ sở những thành công ban đầu của sự nghiệp đổi mới, đánh giá
những mặt làm đƣợc cũng nhƣ chƣa làm đƣợc trong kế hoạch 5 năm (1986 –
1990), Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã biết nắm bắt thời cơ, tranh thủ những
thuận lợi, phát huy tiềm năng, lợi thế của thành phố về nguồn lực, vị trí địa lý,
tài nguyên, lao động, vốn, và kết cấu hạ tầng ổn định, về tình hình kinh tế, văn
hóa – xã hội để đề ra phƣơng hƣớng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5
năm 1991 – 1995 là phấn đấu xây dựng Hải Phòng trở thành “Thành phố
cảng có công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ, văn hóa, khoa học –
công nghệ phát triển, trung tâm thương mại và du lịch vùng, an ninh quốc
phòng vững mạnh”. Sau hơn 5 năm thực hiện mục tiêu trên, du lịch Hải
Phòng đã đạt đƣợc một số thành tựu: “Hoạt động du lịch bước đầu có chuyển
biến, doanh thu và số khách du lịch trong nước, ngoài nước tăng. Công tác
quản lý nhà nước về du lịch có tiến bộ. Toàn thành phố có 35 công ty du lịch
và dịch vụ; 80 khách sạn, nhà nghỉ với hơn 2.500 phòng”[10, tr 54].
Để tiếp tục đổi mới và phát huy những thành tựu thu đƣợc sau 10 năm
đổi mới đất nƣớc, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XI đã định
hƣớng chiến lƣợc phát triển và kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 là: “Đẩy nhanh
quá trình xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng hiện đại, trung tâm
công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ của vùng duyên hải Bắc Bộ, có kinh
tế - văn hóa – xã hội, khoa học, công nghệ, kết cấu hạ tầng phát triển, đảm
bảo quốc phòng – an ninh vững mạnh, nâng cao đời sống nhân dân”. Qua 5
năm thực hiện các chủ trƣơng, biện pháp phát triển kinh tế của thành phố,
hoạt động du lịch – dịch vụ đã có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất ngành du lịch
của nó để phát triển cần có đƣờng lối đúng, chính sách phù hợp, đây là một
trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy ngành kinh tế này phát
triển. Một quốc gia dù có nhiều nguồn lực về tài nguyên du lịch nhƣng nếu hệ
thống đƣờng lối, chính sách phát triển thiếu đồng bộ thì cũng không thể biến
những tiềm năng thành hiện thực về hiệu quả kinh tế đƣợc. Nhận thức sâu sắc
18
vấn đề này, Đảng và Nhà nƣớc ta đã dành sự quan tâm không nhỏ cho ngành
du lịch, đặc biệt kể từ sau công cuộc đổi mới đất nƣớc. Đƣờng lối, chính sách
phát triển du lịch là một bộ phận trong tổng thể của đƣờng lối phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phƣơng. Đƣờng lối, chính sách phát
triển du lịch thể hiện trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, các chƣơng
trình phát triển du lịch trong mỗi thời kỳ, giai đoạn nhất định của mỗi địa
phƣơng, mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, chủ trƣơng phát triển du lịch của Đảng đã hình
thành và phát triển kể từ sau Đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (1986) là Đại hội đặt nền tảng cho việc giải phóng sức sản xuất,
mở đƣờng cho sản xuất phát triển. Tại Đại hội này, Đảng đã chủ trƣơng mở
rộng các loại hoạt động dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất, lƣu thông, đời
sống, du lịch.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua
Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Việc phát triển đất nƣớc đòi hỏi phải xây dựng một cơ cấu ngành dịch vụ
thích hợp, trong đó Đại hội có nhắc tới việc “phát triển du lịch, vận tải hàng
không...[11, tr74]. Nhƣ vậy, phát triển du lịch đã đƣợc Đảng đề cập tới nhƣng
chƣa có chiến lƣợc cụ thể.
Tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng đã xác định:
“Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính viễn
thông...” đồng thời xác định rõ mục tiêu: “Từng bước đưa nước ta trở thành