TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------
LÊ THỊ LAN ANH
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH
ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH TỪ
NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
ThS NINH THỊ HẠNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo kinh tế du
lịch từ năm 2000 đến năm 2010” được hoàn thành tại Khoa Lịch sử, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Ninh Thị Hạnh.
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới
Thạc sĩ Ninh Thị Hạnh, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và góp ý cho
tôi trong suốt thời gian làm khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Lịch sử đã giảng
dạy tôi suốt thời gian qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến thư viện tỉnh Ninh Bình, Ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy Ninh Bình đã giúp tôi hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, thầy cô trong
TẾ DU LỊCH ..................................................................................................... 7
1.1. Khái quát về tỉnh Ninh Bình ................................................................... 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................. 7
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................ 10
1.1.3. Một số điểm du lịch nổi bật ở Ninh Bình ........................................ 13
1.2. Chủ trương của Đảng ............................................................................ 17
1.3. Tình hình kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình trước năm 2000 ................ 26
1.3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng về kinh tế du lịch trước
năm 2000 .................................................................................................. 26
1.3.2. Kết quả thực hiện ............................................................................ 29
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 32
Chương 2. ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 ................................................................... 33
2.1. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo kinh tế du lịch từ năm 2000 đến
năm 2005 ...................................................................................................... 33
2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về kinh tế du lịch từ năm
2000 đến năm 2005 ................................................................................... 33
2.1.2. Quá trình đẩy mạnh kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2000
đến năm 2005 ............................................................................................ 36
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch ............................................ 42
2.2. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo kinh tế du lịch từ năm 2006 đến
năm 2010 ...................................................................................................... 44
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về kinh tế du lịch từ năm
2006 đến năm 2010 ................................................................................... 44
2.2.2. Quá trình đẩy mạnh kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2006
đến năm 2010 ............................................................................................ 48
2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch ............................................ 56
2.3. Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu............................................. 59
Tuy nhiên, đến nay du lịch Ninh Bình vẫn chưa phát triển xứng đáng
với tiềm năng của mình. Điều đó đã đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh Ninh
Bình phải đánh giá đúng thực trạng của ngành, góp phần thúc đẩy hoạt động
du lịch phát triển bền vững, thực hiện đúng vai trò của ngành du lịch trong
xây dựng và phát triển của tỉnh trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
1
Nghiên cứu làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch của tỉnh Ninh Bình thực sự là vấn đề rất cần thiết. Xuất phát từ
những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển
kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2010” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học
chuyên nghành Lịch sử Đảng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch luôn là đề tài nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở
các góc độ khác nhau.
Thứ nhất, sách chuyên khảo
Tác giả Đinh Trung Kiên trong cuốn sách “Một số vấn đề về du lịch
Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004, đã trình bày tổng quan giải
pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa trong giáo trình “ Kinh
tế du lịch”, Nxb Đại học Kinh Tế Quốc dân, Hà Nội, năm 2008, đã trình bày
những vấn đề cơ bản về du lịch, về kinh tế du lịch và vấn đề quản lí ngành du
lịch ở Việt Nam.
Tác giả Trần Đức Thanh trong “Nhập môn khoa học du lịch”, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2005, đã trìnhbày những vấn đề về du lịch một
cách ngắn gọn và tổng quát nhằm phục vụ cho công việc học tập và giảng dạy
cho giáo viên và sinh viên trong ngành du lịch.
Thứ hai, luận văn, luận án
thiện với thiên nhiên.
Trên đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu giúp tôi có thể hoàn
thành được khóa luận của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến việc làm sáng tỏ một cách toàn diện và khách quan
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối với sự phát triển
kinh tế du lịch của tỉnh.
3
Nêu lên những thành tựu, kết quả đạt được của du lịch Ninh Bình từ
năm 2000 đền năm 2010.
Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo và chỉ đạo
của Đảng bộ tỉnh trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch thành
ngành kinh tế mũi nhọn trong những giai đoạn tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng đến giải quyết những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày đường lối, chủ trương phát triển du lịch của Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 đến 2010.
Thứ hai, trình bày quá trình thực hiện đường lối phát triển du lịch ở
địa phương.
Thứ ba, đánh giá, phân tích những thành tựu, hạn chế của Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch.
Thứ tư, phân tích những nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế từ
đó tổng kết, rút ra một số kinh nghiệm lịch sử có liên quan đến sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: khóa luận nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh
tìm hiểu sự phát triển kinh tế du lịch, từ đó so sánh sự tăng trưởng kinh tế du
lịch qua các năm…
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận khái quát những tiềm năng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh
Ninh Bình và trình bày quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình về phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến 2010. Rút ra những thành
tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện.
Khóa luận rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch, đề xuất một số phương hướng và giải
pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của du lịch Ninh Bình
một cách bền vững trong tương lai.
Khóa luận còn là nguồn tài liệu phục vụ trong việc học tập, nghiên cứu
của học sinh, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng.
5
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Cơ sở để Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo kinh tế du lịch.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo kinh tế du lịch từ năm
2000 đến năm 2010.
6
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
KINH TẾ DU LỊCH
đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có nhiều tiềm năng phát triển đặc biệt là phát
triển du lịch. Vùng đồng bằng trung tâm là vùng đất đai màu mỡ, bãi bồi ven
sông, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương
thực tại chỗ và sản xuất hàng hóa xuất khẩu.Vùng ven biển và biển có nhiều
điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản, điều kiện phát triển một nền kinh tế
tổng hợp.
Với tiềm năng đó đã tạo cho Ninh Bình một tiền đề vững chắc để phát
triển các loại hình du lịch.
Về thổ nhưỡng
Ninh Bình có tổng diện tích tự nhiên là 139.011 ha, trong đó đất nông
nghiệp chiếm 44,57 , đất lâm nghiệp chiếm 19,89 , đất chuyên dùng chiếm
10,93 , đất khu dân cư chiếm 3,85% và đất chưa sử dụng chiếm 12,3%. Tài
nguyên đất ở Ninh Bình nhìn chung có độ phì trung bình với ba loại địa hình
ven biển, đồng bằng và bán sơn địa nên có thể bố trí được nhiều loại cây
trồng, nuôi trồng thủy sản, đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng. Đây là
một lợi thế của Ninh Bình so với một số tỉnh đồng bằng sông Hồng để phát
triển kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng.
Về khí hậu
Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoài
ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam, còn chịu ảnh hưởng
của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi. Thời tiết trong năm
chia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm
sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình năm là 23,40C và
8
có sự chênh lệch không nhiều giữa các vùng. Tổng nhiệt độ năm đạt tới trị số
trên 8.5000C, có tới 8 đến 9 tháng trong năm có nhiệt độ trung bình trên 200C.
Độ ẩm trung bình hằng năm là 86%. Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh đạt từ
Nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình là đá vôi với trữ
lượng hàng chục tỷ m3, chất lượng tốt và đôlômit (hàng chục triệu tấn) phân
bố chủ yếu ở các huyện miền núi. Ngoài ra còn một số khoáng sản khác như:
đất sét, than bùn, cát xây dựng, sét gốm xứ, sét ximăng… trữ lượng nhỏ.
Như vậy, Ninh Bình là tỉnh có vị trí địa lý khá thuận lợi, lại có nguồn
tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú đặc biệt là tài nguyên du lịch.
Đây là một thế mạnh để Ninh Bình phát triển kinh tế - xã hội nhất là kinh tế
du lịch.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Về truyền thống - lịch sử
Ninh Bình là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, nhân dân
đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động; anh dũng, kiên cường trong đấu
tranh dựng nước và giữ nước.
Ngay từ thế kỷ X, khi đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, Đinh Bộ Lĩnh người con của quê hương Ninh Bình đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy dẹp loạn
12 xứ quân, thu non sông về một mối. Sau khi lên ngôi, ông đóng đô ở Hoa
Lư, xây dựng triều chính. Hoa Lư (nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư)
trở thành kinh đô đầu tiên của nền phong kiến tập quyền ở nước ta.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống Cách mạng hào
hùng của cha ông tiếp tục được các thế hệ con cháu trên mảnh đất Ninh Bình
tô thắm. Sau khi có lệnh Tổng khởi nghĩa, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân
tiến hành khởi nghĩa đập tan chính quyền đế quốc phong kiến. Thắng lợi này
đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử Đảng bộ và nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhân dân
Ninh Bình đã cùng với nhân dân cả nước đồng lòng, đồng sức, kiên cường
chiến đấu, góp sức người, sức của vào thắng lợi chung của cả dân tộc.
10
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa
tốc Pháp Vân được hoàn thành cho phép giảm thời gian từ Hà Nội, nơi có cửa
khẩu hàng không quốc tế Nội Bài, với Ninh Bình xuống còn 1 giờ 45 phút.
Yếu tố hạ tầng này tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội nhất là kinh tế du
lịch của Ninh Bình trong mối quan hệ phát triển với thủ đô Hà Nội. Bên cạnh
đó, là một địa phương có hệ thống sông ngòi tương đối phát triển, giao thông
đường thủy cũng là thế mạnh của Ninh Bình. Nhiều điểm du lịch Ninh Bình
có thể tiếp cận bằng đường thủy và đây là thế mạnh cần phát huy nhằm tạo
các tour du lịch hấp dẫn với việc xây dựng các bến thuyền du lịch ở những
điểm thích hợp.
Mạng lưới điện trong tỉnh đã được xây dựng với tổng chiều dài các
đoạn dây trung cao áp là 770km. Hiện nay, tỉnh có một nhà máy nhiệt điện
Ninh Bình và 4 trạm điện phân phối. Nguồn điện hiện nay, bao gồm cả mạng
lưới điện phân phối về cơ bản có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
Như vậy, qua phân tích những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh, có thể thấy Ninh Bình là tỉnh có vị trí địa lý
tương đối thuận lợi so với các tỉnh khác của khu vực đồng bằng Sông Hồng.
Nằm trên tuyến giao thông đường sắt và đường bộ xuyên Việt, Ninh Bình trở
thành một cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai miền Nam - Bắc. Với hệ
thống giao thông thuận lợi này, nếu biết liên kết với các tỉnh, thành phố thuộc
vùng đồng bằng Sông Hồng (Hà Nội, Hải Phòng) và các tỉnh thuộc miền núi
Tây Bắc và Trung Bô, Nam Bộ, Ninh Bình sẽ tạo được những tuyến du lịch
hết sức hấp dẫn, có khả năng đón tiếp khách du lịch nội địa lẫn quốc tế.
Về điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn lao động dồi dào là một trong
những nguồn lực quan trọng với Ninh Bình trong quá trình phát triển đi lên.
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, cùng với sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế,
Ninh Bình đã có nhiều biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, tạo điều
kiện để xây dựng và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật
12
thung Khống… và các hang xuyên thủy dài và đẹp mới được khai thác sẽ làm
cho du khách ngỡ ngàng.
Nằm trong quần thể khu du lịch sinh thái Tràng An còn có động sinh
Dược (thôn Xuân Trì, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn) là động xuyên thủy dài
gần 2 km và đặc biệt là núi Bái Đính (xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn). Núi Bái
Đính đứng độc lập, cao đến hơn 200m, quay hướng Đông, có dáng vòng cung
hai bên khép lại tựa tay ngai tạo thành một thung ở dưới rộng khoảng 3 ha gọi
là thung Chùa. Chùa ở vị trí đẹp, sơn thủy hữu tình với năm cái nhất: Chùa
lớn nhất, tượng to nhất (100 tấn đồng), nhiều tượng nhất (500 pho tượng La
Hán), chuông to nhất, giếng ngọc lớn nhất.
Vườn quốc gia Cúc Phương
Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập vào ngày 7/7/1962, có diện
tích 22.200 ha, trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 m đến 648m so với
mặt biển.
Vườn quốc gia Cúc Phương có địa hình phức tạp, rừng ở dạng nguyên
sinh chứa nhiều bí ẩn và cảnh quan độc đáo. Trong vườn có suối nước nóng
380C. Hệ thực vật phong phú với 1.994 loài thuộc 908 chi và 299 họ. Đặc biệt
có cây chò xanh, cây sấu thụt cổ đều trên 1.000 năm tuổi, cao từ 50 - 70 m.
Riêng hoa phong lan có tới 50 loài, có loài cho hoa và hương thơm quanh
năm. Hệ động vật đa dạng bao gồm 71 loài thú, hơn 300 loài chim, 33 loài bò
sát và 16 loài lưỡng cư. Nhiều loài thú quý như gấu, ngựa, lợn lòi, hổ, báo…
Với những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái,
các giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời, Cúc Phương trở thành điểm du lịch sinh
thái nổi tiếng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long
Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặc
trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước có diện tích lớn nhất vùng đồng bằng
sồng Hồng (khoảng 2.463 ha), nằm trên địa phận 7 xã thuộc huyện Gia Viễn.
xã Trường Yên, huyện Hoa Lư) đều là những công trình tiêu biểu cho nghệ
thuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam thế kỉ 17 - 19.
15
Nhà thờ đá Phát Diệm
Nhà thờ đá Phát Diệm thuộc thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, được
xây dựng từ năm 1875 đến năm 1898. Với trình độ kĩ thuật và điều kiện giao
thông của những năm cuối thế kỉ 19. Đây là một quần thể kiến trúc gồm có:
Ao hồ, Phương Đình, Nhà thờ lớn và Nhà thờ đá. Trong đó, Nhà thờ đá - Nhà
thờ dâng kính trái tim Đức Mẹ, tất cả từ nền, tường, chấn song, cột, xà đều
làm bằng đá. Vì thế người ta đã lấy tên gọi của nó để gọi chung cho cả khu
nhà thờ xứ Phát Diệm. Nhà thờ đá Phát Diệm phản ánh một nền kiến trúc điêu
khắc, đặc biệt là điêu khắc đá của Việt Nam, là sự hài hòa về nghệ thuật kiến
trúc Châu Âu và Á Đông.
Đền Thái Vy
Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tông
(thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư). Đền Thái Vi được xây dựng
theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Đền có giếng ngọc xây bằng đá xanh. Qua
nghi môn phía bên phải là gác chuông 2 tầng, 8 mái, xây theo kiểu chồng
diêm, trên treo một quả chuông đúc từ năm Chính Hòa thứ 19 (1689). Phía
trong đền có nhiều cột đá chạm khắc nổi: long, ly, quy, phượng, cá chép hóa
long… vô cùng tinh xảo.
Đặc biệt, du khách đến với Ninh Bình sau khi thăm các di tích lịch sử
văn hóa, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên có thể lưu lại và hưởng thụ
nhiều món ăn đặc sắc, đậm hương vị của vùng đất Ninh Bình như: tái dê, cơm
cháy, rượu Lai Thành, nem Yên Mạc… Đây có thể coi là nguồn tài nguyên du
lịch vô tận của Ninh Bình trong sự nghiệp phát triển du lịch.
Với tính đa dạng về tài nguyên du lịch, trong đó có nhiều tài nguyên
trước năm 2000 là tiền đề vô cùng quan trọng và là cơ sở để Đảng đề ra Chủ
trương đúng đắn, thích hợp cho sự phát triển của ngành giai đoạn tới.
Nếu như Đại hội VIII (1996), Đảng ta mới chỉ chủ trương triển khai về
bản quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trên phạm vi cả nước thì đến Đại hội
17
IX (2001), vấn đề phát triển kinh tế du lịch được quan tâm một cách đầy đủ
và sâu sắc hơn. Trên cơ sở đã hoàn thành quy hoạch phát triển du lịch tổng
thể, trong những năm tiếp theo, bên cạnh việc “nâng cao chất lượng, quy mô
và hiệu quả hoạt động du lịch, liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt
động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm”,
Đảng ta chủ trương: “đưa ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn” [5,
tr. 805]. Đây là một chủ trương vô cùng đúng đắn, phù hợp với việc khai thác
tiềm năng, thế mạnh của đất nước cũng như xu thế phát triển chung của nền
kinh tế thế giới trong thế kỉ mới. Thế kỉ XXI đã được nhiều nhà kinh tế trên thế
giới đưa ra dự đoán là “thế kỉ của ngành dịch vụ”, trong đó du lịch được coi là
“ngành công nghiệp không khói” đóng vai trò hết sức to lớn. Giá trị kinh tế mà
ngành du lịch đem lại sẽ không thua kém gì ngành dầu lửa và ô tô.
Đại hội Đảng IX cũng nhấn mạnh, để hoạt động kinh doanh đạt hiệu
quả cao nhất, ngành du lịch phải “phát triển và đa dạng các loại hình và các
điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách
trong và ngoài nước. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp
tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch” [5, tr.805].
Ngoài việc đưa ra đường lối phát triển chung cho ngành du lịch trên
phạm vi cả nước, trong “Định hướng phát triển các vùng lãnh thổ”, Văn kiện
Đại hội Đảng IX cũng nêu lên chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng
đối với điều kiện kinh tế - xã hội và tiềm năng du lịch cụ thể của từng vùng
lãnh thổ. Ở Trung du và miền núi Bắc Bộ; “Phát triển mạnh du lịch, chú
phát triển kinh tế du lịch trên phạm vi cả nước nói chung và trong “Định
hướng phát triển các vùng lãnh thổ” nói riêng đã thể hiện nhận thức đầy đủ,
sâu sắc của Đảng về vai trò to lớn của kinh tế du lịch trong nền kinh tế quốc
dân. So với giai đoạn trước năm 2000, thì đây là một bước tiến đáng ghi nhận.
Những định hướng chiến lược này là cơ sở cho việc xác định mục tiêu của du
lịch Việt Nam trước thềm thế kỉ mới; tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy mạnh
19
sự phát triển của ngành; đồng thời là căn cứ để mỗi địa phương trong đó có
tỉnh Ninh Bình có phương hướng phát triển du lịch đúng đắn và phù hợp.
Với tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, để khẳng định hơn
nữa việc đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, ngày 22/7/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 97/2002/QĐTTg phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010”.
Nhằm thực hiện những mục tiêu được đề ra trong “Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam 2001 - 2010”, ngày 30/9/2002, Tổng cục du lịch tổ chức hội
Nghị triển khai Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2002 2005. Chủ đề mới được chọn là “Việt Nam - Điểm đến thân thiện và an toàn”.
Theo đó, du lịch Việt Nam sẽ đột phá theo hai hướng: tập hợp nguồn lực xây
dựng những khu du lịch hoàn chỉnh để có nhiều sản phẩm độc đáo, có thể cạnh
tranh trong khu vực; đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch để Việt Nam trở thành
một điểm đến hấp dẫn, luôn mới lạ trên bản đồ thế giới.
Chương trình hành động quốc gia mới này sẽ là cơ sở để các địa
phương tính toán, quy hoạch lại phương hướng đầu tư của từng tỉnh thành.
Tuy nhiên, Tổng cục Du lịch khuyến cáo, cần hạn chế các sản phẩm trùng lặp
dẫn đến tình trạng cạnh tranh phá giá nhau; cảnh báo về hiện tượng bùng nổ
cáp treo, công viên nước làm lãng phí đầu tư. Riêng năm 2002, ngân sách Nhà
nước dành cho chương trình khoảng 42 tỷ đồng, sẽ phân bổ 28 tỷ cho hoạt
động quảng bá, xúc tiến, còn lại đầu tư cho hạ tầng và đào tạo nhân lực.
Những năm 2001 - 2005, nhằm thực hiện tốt Chủ trương của Đảng về