đảng bộ huyện hoài đức lãnh đạo kinh tế nông nghiệp tu nam 1996 den nam 2008 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

NGUYỄN THỊ TUYẾT
Mau mận chin, 1 quyển 110 trang
(Màu mận chín , 150 trang, 5quyển)

ĐẢNG BỘ HUYỆN HOÀI ĐỨC ( TỈNH HÀ TÂY) LÃNH ĐẠO
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

: 60.22.03.15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trƣơng Thị Tiến
Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------

NGUYỄN THỊ TUYẾT
Mau mận chin, 1 quyển 110 trang
(Màu mận chín , 150 trang, 5quyển)

ĐẢNG BỘ HUYỆN HOÀI ĐỨC ( TỈNH HÀ TÂY) LÃNH ĐẠO
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008

phòng Thống kế, phòng Kinh tế huyện Hoài Đức và một số xã trong huyện,
các chủ trang trại đã nhiệt tình cung cấp dữ liệu để tôi hoàn thành luận văn
này.
Luận văn của tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong được sự
góp ý của các thầy cô, bạn bè, những người quan tâm đến vấn đề này để luận
văn được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyết


BẢNG VIẾT TẮT

BHYT: Bảo hiểm y tế
BKT: Ban Kiểm toán
BNN: Bộ Nông nghiệp
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
GCĐ: Giá cố định
HĐND: Hội đồng nhân dân
HTX: Hợp tác xã
KH-CN: Khoa học công nghệ
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NQ: Nghị quyết
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
TCTK: Tổng cục Thống kê
TNHH: Trách nhiêm hữu hạn
TTLT: Thông tư liên tịch


2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Hoài Đức về phát triển kinh tế
nông nghiệp .......................................................................................... 50
2.2. Chỉ đạo thực hiện và kết quả đạt được....................................................................... 55
2.2.1. Chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ............................. 55
2.2.2 Tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức sản xuất............................................................. 64
2.2.3 Tiếp tục thực hiện công tác khuyến nông, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ
thuật.......................................................................................................................................... 69
2.2.4. Gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới ............... 71
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................................. 78
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ........................ 80
3.1. Nhận xét chung .............................................................................................................. 80
3.1.1. Ưu điểm ........................................................................................................................ 80
3.1.2. Hạn chế......................................................................................................................... 88
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu........................................................................................ 90
KẾT LUẬN............................................................................................................................. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................100


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng của mọi quốc gia, dân
tộc. Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp không chỉ cần thiết để tăng thêm
nguồn lương thực, thực phẩm để nuôi sống xã hội, mà còn cung cấp nguyên
liệu cho phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ, các lĩnh vực chính trị - xã
hội khác, là yêu cầu không thể thiếu tạo ra sự ổn định trong đời sống chính trị,
xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, là yếu tố quan trọng để bảo đảm
môi trường sinh thái.
Nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, đi lên CNXH, bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa. Do đó, nông nghiệp càng có vị trí vai trò hết sức quan trọng.

hạn chế, yếu kém cả về cơ sở vật chất kỹ thuật lẫn cơ chế quản lý, điều kiện
thời tiết thiên tai còn có nhiều ảnh hưởng xấu…
Trong bối cảnh đó, vấn đề tổng kết, đánh giá một cách khách quan
khoa học vai trò của đảng bộ địa phương trong việc thực hiện đường lối phát
triển nông nghiệp của Đảng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, đúc kết những
bài học kinh nghiệm nhằm giúp cho Đảng bộ huyện Hoài Đức đẩy mạnh lãnh
đạo phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH trong những năm tới là
việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng.
Với lí do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, tác giả chọn
đề tài: “Đảng bộ huyện Hoài Đức (tỉnh Hà Tây) lãnh đạo kinh tế nông
nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đối với nước ta, kinh tế nông nghiệp là ngành kinh tế có vị trí quan
trọng trong quá trình cách mạng XHCN cũng như trong sự nghiệp đổi mới.
Đảng ta cũng xác định chúng ta phải tiến hành CNH, HĐH đất nước từ ngành
kinh tế này. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng trên mặt trận nông nghiệp
2


là đề tài có tính chất chiến lược, được các nhà lý luận, các nhà lãnh đạo, các
ngành chức năng và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trên phạm vi cả nước đã
có nhiều công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề ở những góc độ
khác nhau. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu như:
Một là, các công trình khoa học, sách nghiên cứu về vấn đề kinh tế
nông nghiệp như: Nguyễn Văn Bính (chủ biên) (1995), Đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội: Nguyễn Sinh Cúc
(2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Thống kê, Hà
Nội; Vũ Năng Dũng (Chủ biên) (2001), Nông nghiệp Việt Nam 61 tỉnh và
thành phố, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Lê Huy Ngọ (chủ biên) (2002), Con

thống vai trò của Đảng bộ huyện Hoài Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp trong những năm 1996 – 2008.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Góp phần làm rõ đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế
nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH và quá trình Đảng bộ huyện Hoài Đức
lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008.
Nêu lên những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, đúc rút ra
một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp của huyện Hoài Đức từ năm 1996 đến năm 2008.
Nhiệm vụ
Hệ thống hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Đảng bộ huyện Hoài
Đức về phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008.
Làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, kết quả của quá
trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008 của
Đảng bộ Hoài Đức.
4


Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Hoài Đức
trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo đường lối của Đảng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Hoài Đức
trong phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện.
Nội dung nghiên cứu là chủ trương và các biện pháp của Đảng bộ huyện
Hoài Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ năm 1996 ( thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH) đến

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương1. Đảng bộ huyện Hoài Đức lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2000.
Chương 2. Đảng bộ huyện Hoài Đức lãnh đạo, đẩy mạnh phát
triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2008.
Chương 3. Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu

6


Chương 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN HOÀI ĐỨC LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1.1 Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Hoài Đức về phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Hoài Đức là một huyện đồng bằng nằm ở về phía Tây trung tâm thành
phố Hà Nội, có vị trí địa lý: Phía Bắc giáp huyện Đan Phượng, Phúc Thọ;
phía Nam giáp quận Hà Đông, huyện Chương Mỹ; phía Tây giáp huyện Quốc
Oai, huyện Phúc Thọ; phía Đông giáp huyện Từ Liêm.
Hoài Đức là huyện nằm trong quy hoạch phát triển, là một vành đai bao
quanh phía Tây và Tây Nam Hà Nội lại liền kề với Quận Hà Đông. Với vị trí
đó, địa bàn đó, Hoài Đức trở thành một cửa ngõ quan trọng, là cầu nối Thủ đô
Hà Nội với nhiều miền đất nước là vùng bản lề giữa đồng bằng với miền núi.
Với lợi thế nằm trong khu tam giác trọng điểm phía Bắc lại có hệ thống
đường giao thông thuận lợi và hiện đại nối với vùng trung tâm Hà Nội cũng
như toả đi các tỉnh phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung nên Hoài Đức là

biên độ giao động từ 12 - 130C. Mùa nóng từ tháng 5 - 9 với nhiệt độ nóng
nhất trung bình trên 300C, cao nhất lên tới trên 370C, mùa lạnh kéo dài
khoảng 3-4 tháng (12-2 hoặc 3) tháng lạnh nhất (tháng 12,1) nhiệt độ xuống
thấp
diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 3.917,35 ha; chiếm 47,5% diện
tích tự nhiên, còn lại một diện tích rất nhỏ khoảng 57,3 ha là đất chưa sử dụng.
Đất nông nghiệp: Với diện tích 4.272,12 ha, đất nông nghiệp của Hoài
Đức được chi làm hai vùng (vùng bãi sông Đáy và vùng đồng), trong đó:
+Vùng đồng: Chủ yếu được sử dụng để trồng lúa, cây hàng năm và
nuôi trồng thủy sản. Quá trình đô thị hoá đang được đẩy mạnh trên địa bàn
huyện do vậy diện tích đất vùng đồng mấy năm trở lại đây bị chuyển đổi mục
10


đích sử dụng rất nhiều theo dự tính đến năm 2015 sẽ chỉ còn khoảng 2100 ha
đất nông nghiệp mà chủ yếu là vùng bãi.
+Vùng bãi sông Đáy: Chủ yếu được sử dụng để trồng rau, màu, cây
công nghiệp và cây ăn quả.
Đất phi nông nghiệp: Có thể thấy rằng quỹ đất này của Hoài Đức là
tương đối lớn, chiếm khoảng gần 50% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện.
Hiện tại diện tích này đã được khai thác chủ yếu cho các công trình hạ tầng
văn hóa xã hội và công trình phát triển kinh tế. Diện tích đất chưa sử dụng
hiện nay chỉ còn khoảng 57,3 ha. Do đó quỹ đất này không còn nhiều cho việc
sử dụng trong quy hoạch xây dựng các cơ sở hạ tầng theo đúng yêu cầu về
quy mô của đô thị hiện đại.
Như vậy, xét về quỹ đất Hoài Đức là huyện có diện tích không lớn (chỉ
chiếm có 2,4% tổng quỹ đất của thành phố Hà Nội) thêm vào đó diện tích đất
chưa sử dụng hiện tại còn rất ít do đó việc phát triển Hoài Đức thành một khu
đô thị hiện tại trong tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn và đòi hỏi phải khai thác
sử dụng một cách có hiệu quả.
Điều kiện xã hội
Dân cư
Dân số huyện Hoài Đức năm 2011 khoảng trên 193 nghìn người, mật
độ dân số khoảng 23,3 người/ha, cao hơn mật độ của Hà Nội (19,7

chỉ các di tích lịch sử, Hoài Đức còn thừa hưởng nét văn hóa làng nghề với
các lễ hội đầu xuân được tổ chức hàng năm gắn với làng nghề như lễ hội
xã Yên Sở, Minh Khai, Dương Liễu, An Thượng, An Khánh, Sơn Đồng,
Song Phương, Vân Côn... Ngoài cảnh quan thiên nhiên và lễ hội truyền
thống, trên địa bàn huyện còn có một số nghề truyền thống nổi tiếng từ lâu
đời, là một nét văn hóa đẹp đang được gìn giữ và phát huy như làng nghề
12


tượng gỗ Sơn Đồng, làng nghề sản xuất bánh gai Yên Sở, chụp ảnh ở Lai
Xá - Kim Chung, hay sản xuất chế biến nông sản ở các xã Dương Liễu,
Cát Quế... Những địa chỉ làng nghề này chính là một điều kiện để phát
triển kinh tế địa phương đồng thời cũng là điểm thu hút khách du lịch tham
quan tìm hiểu nghề truyền thống.
Hoài Đức vốn là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và truyền
thống cách mạng kiên cường trong chống giặc ngoại xâm. Con người nơi đây
vốn cần cù năng động, lại chịu thương chịu khó đồng thời luôn có tinh thần
học hỏi, sáng tạo trong lao động sản xuất. Đó là những nhân tố thuận lợi và
quan trọng giúp Đảng bộ và nhân dân huyện Hoài Đức vững tin theo đường
lối của Đảng tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế địa phương theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Kinh tế nông nghiệp huyện Hoài Đức những năm 1991-1995
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, tháng 9/1991,
tỉnh Hà Sơn Bình tách thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Huyện Hoài Đức là
một trong 12 huyện và 2 thị xã tái nhập về tỉnh Hà Tây. Dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Tỉnh ủy Hà Tây, mặc dù tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức
tạp, tình hình kinh tế - xã hội trong nước cũng như của tỉnh còn rất nhiều khó
khăn, nhưng với khí thế và quyết tâm, đặc biệt có Nghị quyết Đại hội Đảng
soi đường, Đảng bộ và nhân dân huyện Hoài Đức đã đẩy mạnh phong trào thi
đua trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội đặc biệt phát triển kinh tế nông

quyết Đại hội”. [1; 315, 316]
Đại hội đề ra một số chỉ tiêu lớn trong đó có phát triển kinh tế nông
nghiệp. Đại hội chỉ rõ: Về sản xuất lương thực phấn đấu năm 1991 đạt 42.000
tấn (thóc 29.572 tấn, mau 12.300 tấn). Năm 1992 đạt 63.000 tấn (thóc 50.000
tấn, màu 10.300 tấn). Đến năm 1995, phấn đấu đạt 65.000 tấn lương thực
(thóc 52.000 tấn, hoa màu 13.000 tấn). Trong chăn nuôi giữ vững phát triển
đàn lợn và các loại gia cầm, phát triển chăn nuôi theo mô hình hộ gia đình.
14


Phấn đấu đạt giá trị thịt lợn hơi: Năm 1991 là 42.000 tấn, hoa màu 13.000 tấn,
năm 1992 là 43.000 tấn, năm 1995 là 45.000 tấn.
Để khai thác tối đa tiềm năng thế mạnh của địa phương trong công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ Hoài Đức đã xác định rõ trọng tâm
kinh tế của huyện chính là sản xuất nông nghiệp, lấy sự phát triển của sản
xuất nông nghiệp làm tiền đề thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Gắn
phát triển kinh tế nông nghiệp với phát triển kinh tế nông thôn, hướng cơ bản
là coi trọng sản xuất lương thực, với mục tiêu trước mắt là xoá đói, giảm
nghèo, đảm bảo nhu cầu lương thực cho người dân, căn bản khắc phục tình
trạng đói giáp hạt và có tích luỹ, vươn lên khá, làm giàu trong nông thôn.
Thực hiện mục tiêu này, ngoài việc đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo vững chắc
vấn đề lương thực, phải đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản
phẩm hàng hoá. Một mặt tăng đàn, mặt khác chú trọng cải tạo con giống, từng
bước đưa con giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào thay thế giống cũ đã
thoái hoá, năng suất thấp.
Huyện uỷ đã có kế hoạch chỉ đạo đối với Phòng NN & PTNT và các
HTX hướng dẫn, vận động nhân dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, đổi mới cơ cấu giống cây trồng,
vật nuôi, tận dụng tối đa hệ số sử dụng đất, sử dụng có hiệu quả hơn các loại
đất trồng trọt nhằm tăng nhanh giá trị nông sản hàng hoá trên đơn vị diện tích.

Qua 5 năm (1991 - 1995), sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tiến bộ, từng bước khắc phục sản xuất độc
canh, bước đầu đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa. Nhịp độ tăng
bình quân hàng năm trong sản xuất nông nghiệp là 5,4%. Cơ cấu kinh tế nông
thôn đạt một bước chuyển dịch quan trọng. Năm 1991, tỷ trọng nông nghiệp
chiếm 50,4%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 30,6%, dịch vụ du lịch chiếm 19%,
đến năm 1995, nông nghiệp chiếm 44,7%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 33,9%,
dịch vụ du lịch chiếm 21,5%. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày
càng được cải thiện [41; 1].
16


Về trồng trọt, Đảng bộ chủ trương mạnh dạn ứng dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất, giúp nhân dân đưa các giống
cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây
trồng ở địa phương. Nhờ đó mà sản lượng lương thực đạt 48.771 tấn (kể cả
hoa màu quy đổi thóc), tăng 14,3% so với mục tiêu Đại hội XV đề ra và đã cơ
bản đã khắc phục được nạn đói giáp hạt.
Bên cạnh đó, diện tích cây vụ đông được mở rộng. Các loại rau đậu,
cây nông sản thực phẩm đều phát triển. Cây ngô đã từng bước đưa giống lai
đơn ĐK888, ĐK999 vào sản xuất có hiệu quả cao. Năng suất ngô bình quân
đạt 20tạ/ha.
Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày nhìn chung ổn định. Cây ăn quả
và kinh tế vườn đang có xu hướng phát triển, diện tích trồng cây đạt 387,1 ha,
cải tạo được 80 ha vườn cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế khá.
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng được phát triển theo hướng đa
dạng, tăng cả chất lượng và chủng loại. Trong những năm 1991-1995 hoạt
động chăn nuôi tăng trưởng khá, tốc độ bình quân hàng năm tăng 9,5%. Tỷ
trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 1991 là 24%, năm 1995 đạt 38,6%.
Đàn trâu ổn định có 1.495 con, đàn bò có 4.712con (trong đó bò lai Sind

cho nông nghiệp còn ít và kém hiệu quả. Trình độ kỹ thuật và trình độ sản
xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đảm bảo tưới tiêu chủ động và hợp lý cho
cây trồng, chưa cung ứng đủ công cụ, vật tư cần thiết cho nông nghiệp. Trong
khi đó, tiềm năng lao động, đất đai, ao hồ …chưa được tận dụng, khai thác
triệt để. Ở HTX sản xuất nông nghiệp, bộ máy quản lý HTX tuy đã được củng
cố nhưng hoạt động còn lúng túng, chậm đổi mới, một số HTX còn buông
lỏng quản lý, không điều hành được kế hoạch sản xuất, chậm chuyển đổi về
cơ cấu cây trồng vật nuôi và hướng dẫn các tiến bộ kỹ thuật để đưa nhanh các
loại cây, con có năng suất cao vào sản xuất nên hạn chế tốc độ tăng trưởng
lương thực, thực phẩm. Thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghiệp nên
đời sống còn gặp nhiều khó khăn.
18


Trích đoạn Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn Chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status