đảng bộ huyện mỹ đức lãnh đạo kinh tế nông nghiệp tu nam 1996 den nam 2008 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------

NGUYỄN THỊ THOA

ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC (TỈNH HÀ TÂY)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

NGUYỄN THỊ THOA

ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC (TỈNH HÀ TÂY)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


ĐHKHXH & NV

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã

KHXH

Khoa học xã hội

Nxb

Nhà xuất bản

NN & PTNT

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TW

Trung ương

UBND


82

4


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 3
Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1996 – 2000. ......................................................... 14
1.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996 ............ 14
1.1.1. Các điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Mỹ Đức ...... 14
1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996 ....... 22
1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Mỹ Đức
giai đoạn 1996 - 2000 .................................................................................. 27
1.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ
huyện Mỹ Đức giai đoạn 1996 - 2000 ......................................................... 34
1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ........................................... 34
1.3.2. Tiếp tục đổi mới mô hình quản lý kinh tế nông nghiệp ...................... 43
1.3.3. Thực hiện chính sách khuyến nông, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
.................................................................................................................... 48
1.3.4. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ......................... 52
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN THÁNG 7 – 2008. ..... 56
2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Mỹ Đức về phát triển kinh tế nông
nghiệp ......................................................................................................... 56
2.1.1. Đường lối chung của Đảng và chủ trương phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ tỉnh Hà Tây ................................................................. 56
2.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Mỹ Đức
.................................................................................................................... 60

nông nghiệp. Trong thời kỳ đổi mới, phát triển nông nghiệp luôn được Đảng
và Nhà nước xem “là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu”. Đặc
biệt trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, được Đảng
xác định khởi điểm là từ năm 1996, cần phải tiếp tục đổi mới đường lối phát
triển nông nghiệp theo hướng phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế. Trải qua quá trình hoàn thiện và đổi mới từng bước,
nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa
nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tạo
tiền đề và cơ sở bước đầu cho công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Mỹ Đức là một huyện nông nghiệp thuộc tỉnh Hà Tây (cũ). Từ khi
thành lập đến nay, Đảng bộ Mỹ Đức đã lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến
lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Những thành
quả mà Mỹ Đức đạt được hôm nay là một minh chứng về vai trò lãnh đạo
toàn diện của Đảng bộ Mỹ Đức, đặc biệt trong xây dựng và phát triển kinh tế.
Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, những năm trước đổi mới, Mỹ
Đức lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội: lương thực, thực phẩm thiếu thốn
không đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân, sản xuất đình đốn, hàng hóa khan
hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.

7


Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới do Đại hội VI (1986) của Đảng
khởi xướng, Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã tích cực triển khai cụ thể hóa thành
các chương trình, mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế địa phương,
bước đầu tháo gỡ được những khó khăn trong phát triển kinh tế. Mặc dù còn
nhiều những hạn chế, nhưng công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế nông
nghiệp đã góp phần đưa Mỹ Đức từng bước khởi sắc và phát triển. Thu nhập
và đời sống của nông dân được cải thiện và ngày càng nâng cao.
Tuy nhiên, một loạt vấn đề kinh tế đang nảy sinh đòi hỏi Đảng bộ Mỹ

Với tất cả những lí do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn,
tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Mỹ Đức (tỉnh Hà Tây) lãnh đạo kinh tế
nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với nước ta, kinh tế nông nghiệp là ngành kinh tế có vị trí quan
trọng trong quá trình cách mạng XHCN cũng như trong sự nghiệp đổi mới.
Đảng ta cũng xác định chúng ta phải tiến hành CNH – HĐH đất nước từ
ngành kinh tế này. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng trên mặt trận nông
nghiệp là đề tài có tính chất chiến lược, được các nhà lý luận, các nhà lãnh
đạo, các ngành chức năng và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trên phạm vi cả
nước đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề ở những
góc độ khác nhau. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu như:
Các cuốn sách: “Một số vấn đề kinh tế HTX nông nghiệp Việt Nam”,
tập thể tác giả Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 1991; “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thành tựu,
vấn đề và triển vọng”, Nguyễn Văn Bính (chủ biên), Nxb Thống kê, Hà Nội,
1995; “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam”, Trương Thị
Tiến, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999; “Thực trạng nông nghiệp, nông
thôn và nông dân ở nước ta”, Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội,
1999; “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam”, Lê Huy Ngọ (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002;

9


“Nông nghiệp nông thôn thời kỳ đổi mới 1986 – 2002” của Nguyễn Sinh Cúc,
Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003; “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt
Nam” của Bùi Tất Thắng (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006…
Một số Khóa luận cử nhân, Luận văn thạc sỹ, Luận án tiến sỹ như:

Nguyễn Quang Thục, Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Lịch sử, trường
ĐHKHXH và NV, Hà Nội, 2001; “Mỹ Đức trên con đường hội nhập”, Nxb
Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2007…Tuy nhiên đó chỉ là những nghiên cứu,
tìm hiểu mang tính chất kinh tế, lịch sử mà chưa đề cập đến vai trò và quá
trình lãnh đạo của Đảng bộ Mỹ Đức đối với những thành tựu trong phát triển
kinh tế nông nghiệp. Hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về Đảng bộ
huyện Mỹ Đức lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm 1996 – 2008.
Song, đây là những tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo, tiếp cận các sự
kiện lịch sử, là cơ sở để phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế của
Đảng bộ huyện Mỹ Đức trong quá trình lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ
trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
- Khôi phục chân thực quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo kinh
tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008.
- Nêu được những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế cần
khắc phục và rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ phát triển kinh tế
nông nghiệp của huyện hiện nay.
Nhiệm vụ
- Tập hợp và lựa chọn các tài liệu lịch sử liên quan đến đề tài.
- Từ những thông tin lịch sử khai thác được, kết cấu và phân chia giai
đoạn để làm sáng rõ quá trình lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Mỹ
Đức trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp những năm từ năm 1996 đến năm
2008.

11


- Bước đầu phân tích, tổng kết, đánh giá và rút ra những kinh nghiệm từ
quá trình đó.

- Góp phần tái tạo lịch sử lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ
huyện Mỹ Đức.
- Khẳng định thành tựu, hạn chế và bước đầu rút ra những bài học kinh
nghiệm phục vụ quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện
Mỹ Đức trong những năm tiếp theo.
- Là tài liệu tham khảo để nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo kinh tế nông nghiệp giai đoạn
1996 – 2000.
Chương 2: Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
từ năm 2001 đến tháng 7 - 2008.
Chương 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu.

13


Chương 1:
ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
GIAI ĐOẠN 1996 – 2000.
1.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996
1.1.1. Các điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Mỹ
Đức
* Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý
Mỹ Đức là huyện nằm phía Tây Nam tỉnh Hà Tây, trung tâm huyện lỵ
cách thị xã Hà Đông 38 km, cách Thủ đô Hà Nội 54 km về phía Tây Nam.
Toạ độ địa lý từ 20035’40’’ đến 20043’40’’ vỹ độ Bắc và từ 105038’44’’ đến
105049’33’’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ (Hà Tây); phía

các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, hồ Cầu Dậm, Bán Nguyệt,
Ngái Lạng, Đồng Suối với diện tích hàng ngàn ha…Vùng này giàu tiềm năng
về phát triển du lịch, ngư nghiệp, chăn nuôi gia cầm, kết hợp với trồng một số
cây ăn quả, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi phát triển mô hình kết hợp
nuôi thuỷ sản – trồng cây ăn quả - phát triển du lịch sinh thái nghỉ
dưỡng…phục vụ nhu cầu ngày càng cao của các đô thị xung quanh.
Khí hậu, thời tiết
Mỹ Đức nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ bình quân
trong năm là 23,10C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 13,6 0C, cao
nhất vào tháng 7 khoảng 33,20C. Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.630,6
giờ. Lượng mưa trung bình năm là 1.520,7mm, phân bố không đều trong năm.
Mùa mưa tập trung vào tháng 4 – 10, chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô bắt đầu từ cuối tháng 10, đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng
mưa ít nhất trong năm là tháng 12 – tháng 2. Độ ẩm không khí trung bình năm
là 85%.
Về sông ngòi

15


Hệ thống sông ngòi huyện Mỹ Đức rất đa dạng và phong phú, bao gồm:
- Hệ thống sông Đáy: là một phân lưu của sông Hồng, phần sông chảy
qua địa phận huyện Mỹ Đức dài 40 km. Độ uốn khúc của sông lớn, sông bị
bồi lấp mạnh. Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ. Tuy nhiên,
lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
- Sông Thanh Hà: là một nhánh của sông Đáy, bắt nguồn từ vùng núi
đá huyện Kim Bôi (Hoà Bình) và chảy vào sông Đáy tại cửa Đục Khê. Sông
có chiều dài 28 km và diện tích lưu vực 390 km2.
- Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có sông Mỹ Hà ở phía tây dài trên
30m và các kênh lớn như kênh tiêu 7 xã, kênh dọc trục huyện…;các hồ chứa

trong đó, có 92 loài hạt kín, 50 loài dương sỉ, còn lại là các họ hạt trần như
thông đất, tháp bút…Đặc biệt, có nhiều loài quý hiếm, cây làm thuốc, cây đặc
sản và cây phong cảnh như lành vanh, cây xưa, lát hoa, cỏ roi ngựa, cam thảo
nam, kim ngân, mơ, rau sắng, củ mài…
Động vật cũng có 88 loài chim thuộc 37 họ và 15 bộ, 35 loại bò sát
thuộc 16 họ và 3 bộ, 32 loại thú thuộc 17 họ và 3 bộ…Hệ động vật nhìn
chung nghèo về số loài và số lượng cá thể từng loài nhưng rất độc đáo với
nhiều loài quý hiếm như gà lôi trắng, rái cá…
Khoáng sản:
Huyện Mỹ Đức tập trung 2 khoáng sản chính là than bùn và đá vôi:
Than bùn phân bố rải rác ở 10 xã miền núi, tập trung lớn nhất ở xã
Đồng Tâm, Thượng Lâm và vùng Hương Sơn. Tổng trữ lượng khoảng 100
triệu tấn nhưng hiện chưa được khai thác nhiều.
Đá vôi phân bố thành dải kéo dài từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn
với chiều dài trên 40km, rộng 1 – 2km, cao trung bình 50 – 100m, trữ lượng
ước tính khoảng 600 triệu m3. Đáng chú ý là, ở nhiều dãy núi có xen đá đỏ, đá

17


xanh đen, đá đen granit. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cho công nghiệp
xây dựng, đặc biệt là xi măng.
Tiềm năng du lịch:
Mỹ Đức là huyện có nhiều di tích lịch sử - tôn giáo, danh thắng thiên
nhiên đẹp. Đặc biệt là khu vực Hương Sơn vừa là khu danh thắng, vừa là khu
bảo tồn thiên nhiên, đồng thời đây còn là một vùng văn hóa đặc sắc với các lễ
hội và phong tục tập quán đặc trưng. Trong đó, lễ hội Chùa Hương là lễ hội
dài nhất, kéo dài từ mùng 6 tháng giêng đến cuối tháng 3 âm lịch. Bên cạnh
đó, khu vực Quan Sơn được ví như “Hạ Long cạn” có tổng diện tích gần 3000
ha. Ngoài ra, với cảnh quan sơn thủy hữu tình, Mỹ Đức còn có: Thung Cấm,

nhân dân trong vùng. Hơn nữa, cần có chiến lược đầu tư cho giáo dục – đào
tạo nghề nhằm hình thành lực lượng lao động đáp ứng được yêu cầu phát triển
của Mỹ Đức trong tương lai.
Truyền thống lịch sử:
Là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, trải nhiều thăng trầm của lịch
sử đã tạo cho mảnh đất và con người nơi đây những giá trị văn hoá truyền
thống tốt đẹp. Cư trú trên vùng đất cổ, nhân dân Mỹ Đức đã xây dựng nên
những ngôi đình, chùa, miếu, quán có tiếng trong vùng. Đặc biệt hệ thống
chùa chiền được tạo dựng trong các hang động ở vùng núi Hương Sơn đã tạo
nên một thắng cảnh nổi tiếng của đất Việt, được mệnh danh là “Nam thiên đệ
nhất động”. Bên cạnh đó, Mỹ Đức còn là vùng đất hiếu học, là cái nôi xuất
thân của nhiều người học cao, biết rộng. Đó là niềm tự hào của vùng đất và
con người huyện Mỹ Đức.
Mỹ Đức là vùng đất giữ vị trí cửa ngõ nên thời kỳ lịch sử nào của đất
nước, nhân dân Mỹ Đức cũng sát cánh cùng cả dân tộc kiên cường đấu tranh
chống giặc ngoại xâm. Đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với
Cương lĩnh đầu tiên khẳng định: làm cách mạng tư sản dân quyền, tiến lên
làm cách mạng XHCN, các tầng lớp nhân dân Mỹ Đức đoàn kết một lòng
dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân

19


Mỹ Đức đã kiên cường bất khuất cùng cả nước đấu tranh giành chính quyền
và tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Mỹ Đức đã đóng góp xứng đáng vào công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, vinh dự được Nhà nước phong tặng
danh hiệu cao quý “Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân”. Trong sự
nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Mỹ Đức đã

giao thông hướng tâm chính (đi vào khoảng 40km so với trục Quốc lộ 6 nối
Hà Nội – Xuân Mai – Hoà Bình và cách khoảng 37km so với thị xã Phủ Lý),
vì vậy, điều kiện thu hút đầu tư kém lợi thế hơn hẳn so với những huyện xung
quanh như Chương Mỹ, Thanh Oai, Phú Xuyên, Ứng Hoà.
- Do nằm trong phạm vi vùng phân lũ của Hà Nội, địa hình lại kẹp giữa
sông Đáy ở phía Đông và dãy núi đá vôi ở phía Tây, nên diện tích đất bị úng
trũng của Mỹ Đức khá lớn (diện tích đất bị úng trũng và bị biến đổi do chịu
ngập úng thường xuyên như bị glây hoá, than bùn hoá…chiếm 26,04% tổng
diện tích đất tự nhiên). Đây là một thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản, nhưng
lại gây khó khăn cho phát triển trồng trọt, đòi hỏi sự đầu tư lớn về thuỷ lợi và
khoa học kỹ thuật.
- Tài nguyên nước dồi dào, nhưng phân hoá theo mùa quá rõ rệt và bị
bồi lấp mạnh (đặc biệt là sông Đáy), dẫn đến tình trạng ngập úng trong mùa lũ
và thiếu nước trong mùa khô. Điều này đòi hỏi huyện phải có sự đầu tư thoả
đáng cho hệ thống thuỷ lợi để vừa đảm bảo duy trì vai trò là vùng phân lũ cho
Thủ đô, vừa tạo điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện.
- Mỹ Đức có tỷ lệ dân nông thôn lớn (96,05%). Sự chuyển biến về cơ
cấu lao động gần như không đáng kể, tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn chiếm
hơn 70% tổng số lao động của huyện. Đây là một khó khăn của huyện trong
định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá và
phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Vì vậy, cần có chiến lược phát

21


triển giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho người lao động một cách
hiệu quả và kịp thời.
1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm
1996
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, tháng 9/1991,

tấn, bình quân 430 – 450 kg/người. Thu nhập ngành nghề vượt 1 triệu
đồng/hộ/năm; phát triển dân số 1,7%; trồng từ 400 – 500 ha dâu nuôi tằm, để
có 400 – 500 tấn kén.
Để khai thác tối đa tiềm năng thế mạnh của địa phương trong công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ Mỹ Đức đã xác định rõ trọng tâm
kinh tế của huyện chính là sản xuất nông nghiệp, lấy sự phát triển của sản
xuất nông nghiệp làm tiền đề thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Gắn
phát triển kinh tế nông nghiệp với phát triển kinh tế nông thôn, hướng cơ bản
là coi trọng sản xuất lương thực, với mục tiêu trước mắt là xoá đói, giảm
nghèo, đảm bảo nhu cầu lương thực cho người dân, căn bản khắc phục tình
trạng đói giáp hạt và có tích luỹ, vươn lên khá, làm giàu trong nông thôn.
Thực hiện mục tiêu này, ngoài việc đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo vững chắc
vấn đề lương thực, phải đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản
phẩm hàng hoá. Một mặt tăng đàn, mặt khác chú trọng cải tạo con giống, từng
bước đưa con giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào thay thế giống cũ đã
thoái hoá, năng suất thấp.
Huyện uỷ đã có kế hoạch chỉ đạo đối với phòng NN & PTNT và các
HTX hướng dẫn, vận động nhân dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, đổi mới cơ cấu giống cây trồng,
vật nuôi, tận dụng tối đa hệ số sử dụng đất, sử dụng có hiệu quả hơn các loại
đất trồng trọt nhằm tăng nhanh giá trị nông sản hàng hoá trên đơn vị diện tích.
Toàn huyện mở rộng diện tích vụ đông trên đất canh tác để trồng các loại rau
màu thực phẩm. Ưu tiên dành diện tích đất bãi ven sông, đất đồi gò để phát
triển mạnh cây dâu tằm, cây chè…,phát triển chăn nuôi đàn trâu, bò, lợn, gia
cầm, nuôi thuỷ sản…Chú trọng giống mới và từng bước nuôi theo phương

23


pháp công nghiệp. Mặt khác, để sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định,


Nhờ vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng trên cơ sở thực tiễn
địa phương, từ năm 1991 - 1995, Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã cơ bản hoàn
thành các chủ trương, giải pháp lớn, đẩy mạnh công cuộc đổi mới trên tất cả
các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, thu được những kết quả quan trọng.
Qua 5 năm (1991 - 1995), sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tiến bộ, từng bước khắc phục sản xuất độc
canh, bước đầu đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa. Nhịp độ tăng
bình quân hàng năm là 5,8%. Cơ cấu kinh tế nông thôn đạt một bước chuyển
dịch quan trọng. Năm 1991, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 78,8%, tiểu thủ công
nghiệp chiếm 12,4%, dịch vụ du lịch chiếm 8,8%, đến năm 1995, nông nghiệp
chiếm 68,7%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 15,6%, dịch vụ du lịch chiếm
15,7%. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện
[41; 1].
Về trồng trọt, đã mạnh dạn ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật
phục vụ phát triển sản xuất, giúp nhân dân đưa các giống cây trồng có năng
suất cao, chất lượng tốt, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở địa phương.
Năm 1995, năng suất lúa đạt 8,6 tấn/ha. Sản lượng lương thực đạt 71.500 tấn
(vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra 1.500 tấn), đưa bình quân lương thực đầu người từ
381kg lên 446kg/người/năm. Cơ bản đã khắc phục được nạn đói giáp hạt.
Diện tích cây vụ đông được mở rộng. Các loại rau đậu, cây nông sản
thực phẩm đều phát triển. Cây ngô đã từng bước đưa giống lai đơn ĐK888,
ĐK999 vào sản xuất có hiệu quả cao. Năng suất ngô bình quân đạt 23,7 tạ/ha.
Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày nhìn chung ổn định. Cây đậu
tương tăng nhanh từ 10,4 ha (năm 1991) lên 500 ha (năm 1995). Cây lạc ổn
định 220ha. Cây dâu có xu hướng giảm do không chủ động được giống và nơi
tiêu thụ. Cây chè trồng mới được 60 ha. Giá trị 1 sào dâu, 1 sào chè thu được
gấp 2,5 lần trồng cây lương thực.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status