ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
--------------------------------

ĐẶNG THỊ THẢO

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH
LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ VUI

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa lịch sử trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng giáo viên hướng dẫn TS. Trần Thị Vui đã
giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng em. Các số liệu và kết quả trong khóa luận là trung thực. những kết luận
khoa học của khóa luận chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

Tác giả


2.2. Đảng bộ Quảng Ninh lãnh đạo kinh tế du lịch từ năm 2005 đến
năm 2010 ................................................................................................25
2.2.1. Quan điểm chủ trương của Đảng và Đảng bộ Quảng Ninh về phát
triển kinh tế du lịch ....................................................................................... 25
2.2.2. Đảng bộ Quảng Ninh lãnh đạo phát triển du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn ............................................................................................ 47
Chương 3. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG
BỘ TỈNH QUẢNG NINH TRONG LÃNH ĐẠO KINH TẾ DU
LỊCH TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 ..................................................... 48
3.1. Một số thành tựu và hạn chế .................................................................. 48
3.1.1. Một số thành tựu ................................................................................. 48
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu .................................................................. 58
KẾT LUẬN .................................................................................................. 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 64


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu hướng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ
trọng nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhường cho công nghiệp
và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vị thế thống lĩnh. Vai trò của
du lịch trong ngành dịch vụ ngày càng rõ nét hơn. Được xem là một ngành
công nghiệp không khói, du lịch đem lại những lợi ích to lớn góp phần quan
trọng vào phát triển kinh tế và kết nối văn hóa giữa các nước và khu vực.
Du lịch được hiểu là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội
dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát
triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân
dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa

trung tâm nghỉ dưỡng như các đảo: Hoàng Tân, Tuần Châu, Thẻ Vàng, Soi
Sim, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Bái Tử Long, Cái Bầu, Vĩnh Thực... và các bãi
cát trắng phau, lăn mình không bị lấm...
Theo thống kê, hiện nay vùng biển Quảng Ninh có trên 400 loài hải sản
trong đó có nhiều loại quý như hải sâm, bào ngư, tôm cua, mực, sá sùng, sò,
ngán, rau câu, cùng với một trữ lượng tiềm tàng về các loại san hô, rong, tảo...
Đó là tiền đề cho các hoạt động du lịch tham quan đáy biển, xây dựng bảo
tàng sinh thái, công viên đại dương...
Một dạng tài nguyên nữa cũng được đánh giá cao, tạo ra tiềm năng cho
phát triển du lịch là nước ngọt và nước khoáng, rất phong phú và được phân
bố khắp tỉnh. Ngoài ra, một nguồn tiềm năng phong phú nữa của Quảng Ninh
là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa. Với gần 500 di tích lịch sử văn
hóa các loại, trong đó 30 di tích đã được xếp hạng quốc gia tạo nên những giá

2


trị lịch sử văn hoá quý giá để phát triển các loại hình du lịch tham quan,
nghiên cứu văn hóa và tôn giáo, mà nổi bật là các khu di tích: Yên Tử, đền
Cửa Ông, núi Bài Thơ, chùa Long Tiên, chùa Quỳnh Lâm, đền An Sinh, đình
Trà Cổ, đình Quan Lạn... Đi liền với các di tích đó là những Lễ hội truyền
thống, hầu như tháng nào cũng có và khách thập phương có thể đến tham
quan chiêm ngưỡng quanh năm.
Trong những năm qua dưới sự chỉ đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh đã lãnh đạo quá trình phat triển du lịch của tỉnh và đạt được những thành
tựu to lớn. Đưa Quảng Ninh trở thành một tronh những tỉnh có ngành du lịch
phát triển mạnh nhất cả nước. Nhận thức được tiềm năng to lớn trên, trong
những năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh đang quyết
tâm đưa ngành du lịch phát triển lên một tầm cao mới. Điều đó được thể hiện
trong Nghị quyết của các Đại hội Đảng bộ Quảng Ninh (IX, X, XI, XII, XIII)

luật của Nhà nước về du lịch; chủ trương giải pháp của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh qua hai nhiệm kỳ của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI,XII và Đại hội
Đảng bộ lần thứ XIII về phương hướng phát triển du lịch đến năm 2015 và
năm 2020.
- Trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện
đường lối, chủ trương của Đảng, nghị quyết của Đảng bộ về phát triển du lịch
từ năm 1996 đến năm 2010; nêu bật thành tựu, hạn chế, đóng góp của ngành
du lịch trong phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Ninh.
- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh qua 15 năm (1996-2010) lãnh đạo phát triển du lịch.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Thời gian nghiên cứu chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2010.

4


4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng trong khóa luận chủ yếu là các sách thông
sử và chuyên khảo, các Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ tỉnh; các Chương trình phát triển du lịch của tỉnh, Báo cáo hàng
năm của Tỉnh ủy, Niên giám thống kê của tỉnh; các công trình nghiên cứu về
du lịch có liên quan và thực tiễn hoạt động du lịch ở Quảng Ninh trong những
năm cuối thế kỉ XX và thập kỉ đầu của thế kỉ XXI.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài lịch sử, phương pháp sử dụng trong khóa luận bao gồm các
phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích…
5. Đóng góp của khóa luận

phần của cuộc sống con người, ngành du lịch đã nhanh chóng trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn được biết đến là ngành công nghiệp không khói.
Trên những góc độ khác nhau có nhiều định nghĩa về du lịch:
Theo Tổ chức du lịch Quốc tế: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động
của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và
tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng
như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục
nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại
trừ du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch là một dạng nghỉ ngơi
năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Các nhà nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế quốc dân đã đưa ra một
định nghĩa mới về du lịch trên cơ sở tổng hợp những lí luận và thực tiễn của
du lịch: Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức
hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh

6


nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải
trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem
lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản
thân doanh nghiệp [11; tr.16].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966), khi đứng trên góc
độ mục đích chuyến đi: “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng có sự tham quan
tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem
danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật” [12].
Trong Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999), tại Điều 1, Chương I –
Những quy định chung, Nhà nước Việt Nam xác định:
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn
hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch

ngành kinh tế khác cùng phát triển. Với những mặt thuận lợi, tích cực mà phát
triển du lịch đem lại thì du lịch có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế nước ta.
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán
cân thu chi đất nước, du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa
điểm du lịch. Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia
có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài. Trong phạm vi quốc gia, hoạt động
du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa, điều hòa nguồn
vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kếm phát triển hơn, kích
thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…
Một lợi ích khác mà ngành du lịch đem lại là góp phần giải quyết vấn
đề việc làm. Bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần đến một
lượng lớn lao động. Du lịch tạo nguồn thu nhập cho người lao động và giải
quyết các vấn đề xã hội. Du lịch Việt Nam trong thời gian qua cũng đóng góp
nhiều cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Tốc độ tăng
trưởng hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.

8


1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu Tổ quốc nằm về phía Đông Bắc Việt
Nam có hình dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng Đông Bắc – Tây
Nam. Phía Đông nghiêng xuống nửa phần đầu Vịnh Bắc Bộ, phía Tây dựa
lưng vào núi đồi trùng điệp. Tọa độ địa lý khoảng 106026’ đến 108031’ kinh
độ Đông và từ 20040’ đến 21040’ vĩ độ Bắc. Bề ngang từ Đông sang Tây nơi
rộng nhất là 195km, bề dọc từ Bắc xuống Nam khoảng 102km. Phía Đông
Bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, có chiều dài

khăn cho việc phá triển kinh tế nói chung và du lịch của tỉnh nói riêng.
1.2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Tỉnh Quảng Ninh có một thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Hạ
Long), 3 thành phố (Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí), 1 thị xã (Quảng Yên), 9
huyện (Đông Triều, Hoành Bồ, Cô Tô, Vân Đồn, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình
Liêu, Đầm Hà, Hải Hà) với 186 xã, phường, thị trấn.
Dân cư: Tính đến năm 2011, dân số tỉnh Quảng Ninh có 1.163.700
người, mật độ dân số đạt 191 người/km2. Toàn tỉnh có 34 dân tộc và người
nước ngoài cùng sinh sống trong đó người Kinh đông nhất trên 1 triệu người
ngoài ra còn các dân tộc khác như Sán Dìu, Sán Chay, Tày…
Về y tế: Cơ sở vật chất của ngành y tế Quảng Ninh được đầu tư nâng
cấp đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Toàn tỉnh có 15 bệnh
viện, 9 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung
tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường [23; tr.6].
Về văn hóa – giáo dục: Tỉnh tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn
nghệ, thể dục thể thao tạo môi trường vui chơi lành mạnh. Về giáo dục của

10


tỉnh, tính đến năm 2008, toàn tỉnh có 152 trường mầm non, 164 trường tiểu
học, 139 trường trung học cơ sở, 51 trường trung học phổ thông, 10 trung tâm
hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên…Ngân sách đầu tư cho giáo dục
bình quân hàng năm đạt 30%. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các trường
đại học và cao đẳng như: Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, cao đẳng Sư
phạm Nam Khê… [24; tr.9].
Về kinh tế: Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tầu của
vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch
lớn nhất của Việt Nam với Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long đã hai
lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ, địa chất, địa mạo. Quảng

về văn hóa, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế. Trên vịnh có rất nhiều đảo
đất, hang động, bãi tắm cùng cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều
hình thức du lịch hấp dẫn. Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch
trọng điểm quốc gia, động lực phát triển du lịch Bắc Bộ.
Vịnh Bái Tử Long nằm liền với Vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều
đảo đá trải dài ven biển. Nó chứa đựng vẻ đẹp hoang sơ cùng với nhiều bãi
tắm tại các đảo nhỏ Quan Lạn, Minh Châu… Đáp ứng nhu cầu của các du
khách thích khám phá tận hưởng vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên.
Các bãi biển: Các bãi biển ven bờ Quảng Ninh nhìn chung thoải, nông
và khá rộng rãi thích hợp phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Có những
bãi tắm đẹp như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu…
Hệ thống các đảo: Quảng Ninh là một trong những tỉnh có nhiều đảo
nhất ở Việt Nam, trong đó có nhiều đảo lớn như Cô Tô, Quan Lạn, Ngọc
Vừng…
Ngoài ra tỉnh còn có tài nguyên du lịch sinh thái rừng và hệ sinh thái
ngập mặn ven biển. Tạo nhiều hơn những điểm du lịch hấp dẫn cho du khách.

12


Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn cũng là một trong những thế mạnh của
Quảng Ninh với hệ thống di tích lịch sử văn hóa, tâm linh. Đầu tiên phải kể
đến trung tâm văn hóa tâm linh và tín ngưỡng Yên Tử. Đây được coi là vùng
đất phát tích Phật giáo Việ Nam - Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân
Tông sáng lập lên. Lễ hội Yên Tử được tổ chức mỗi năm một lần bắt đầu từ
ngày 10/1 âm lịch và kết thúc vào cuối tháng 3 âm lịch. Khu di tích Yên Tử
bao gồm một hệ thống chùa, am, tháp và rừng cây cổ thụ hòa cùng cảnh vật
thiên nhiên kéo dài từ Dốc Đỏ đến núi Yên Tử (thuộc xã Thượng Yên Công,
thành phố Uông Bí ).

Các khách sạn với quy mô lớn nhỏ được xây dựng, trong đó có những khách
sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên các khách sạn phần lớn chưa đáp ứng
đủ các yêu cầu chuẩn quốc tế và còn phân bố không đều.
Cùng với ngành công nghiệp thì du lịch được xem là động lực phát
triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Cho nên, số lao động trong ngành du lịch
tăng nhanh, năm 1994 Quảng Ninh có 987 lao động trực tiếp phục vụ trong
các cơ sở du lịch Nhà nước. Nếu tính chung lao động tham ra hoạt động du
lịch có thể lên đến hàng chục nghìn người. Nâng cao chất lượng đội ngũ lao
động phục vụ du lịch là vấn đề cần chú trọng vì nó quyết định tới chất lượng
và hiệu quả du lịch.
Bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng thì công tác quản lý Nhà nước về du
lịch trên địa bàn tỉnh có tiến bộ. Điều này được thể hiện trong việc tổ chức,
triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, việc phối hợp liên
ngành cùng các cấp chính quyền đảm bảo khai thác hợp lý tài nguyên du lịch,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong công tác quản lý Nhà nước,
Quảng Ninh vẫn tiếp tục thực hiện các chương trình hợp tác du lịch với Pháp,
Na Uy, Trung Quốc…
Hoạt động du lịch Quảng Ninh đang có những bước tiến bộ đáng kể tuy
nhiên vẫn tồn tại nhũng hạn chế. Đó là, cơ sở hạ tầng kĩ thuật còn thiếu đồng

14


bộ; các cơ sở lưu trú chưa đáp ứng được về tiêu chuẩn quốc tế; trình độ lao
động phục vụ du lịch chưa ngang tầm nhiệm vụ; công tác quản lý còn nhiều
bất cập và việc tiếp cận thị trường du lịch quốc tế chậm. Đó là những khó
khăn thách thức trong việc tiếp tục phát triển kinh tế du lịch của Quảng Ninh
đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh phải phấn đấu khắc phục.

15



nước ta có những tiến bộ bước đầu trong việc tổ chức đón ngày càng nhiều
khách nước ngoài đến Việt Nam, việt kiều về thăm Tổ quốc và nhân dân du
lịch trong và ngoài nước; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy giao
lưu văn hóa, làm cho nhân dân thế giới hiểu biết thêm về con người, đất nước
Việt Nam, tranh thủ được thiện cảm và sự đồng tình ủng hộ quốc tế với nhân
dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10; tr.640].
Năm 1999, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Du lịch
là nhằm thể chế hóa đường lối phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước. Pháp
lệnh Du lịch ban hành là cơ sở pháp lý để tiếp tục phát triển du lịch, tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch, khuyến khích các tổ chức và cá nhân
tham gia kinh doanh du lịch.
Đến năm 2005, Luật du lịch được Quốc hội thông qua tạo khuôn khổ
pháp lý vững chắc cho hoạt động du lịch. Các văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và một số chỉ thị của trung ương, chính phủ
cũng khẳng định vai trò quan trọng của du lịch trong nền kinh tế. Nghị quyết
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: “Triển khai thực hiện quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất
nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái, môi trường. Xây dựng các
chương trình và các điểm du lịch hấp dẫn về văn hóa, di tích lịch sử và khu
danh lam thắng cảnh. Huy động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch…
Phấn đấu đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại dịch vụ
tầm cỡ trong khu vực [8; tr.195].
Như vậy, ngành du lịch được Đảng xác định là một ngành kinh tế quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước với mục tiêu phát
triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm
cỡ trong khu vực [15; tr.4].

17



Tiếp đó, Nghị quyết số 08-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đổi
mới và phát triển du lịch Quảng Ninh trong giai đoạn 2001- 2010 với mục
tiêu và định hướng cụ thể như sau: Phấn đấu đến năm 2005 du lịch Quảng
Ninh đón từ 3,5, đến 4 triệu lượt khách, trong đó 1,5 triệu lượt khách quốc tế,
đến năm 2010 đón 6 triệu lượt khách trong đó có 2,5 triệu lượt khách quốc tế.
Doanh thu từ du lịch đến năm 2005 chiếm 10,2 -10,5% GDP, tới năm 2010
chiếm 13,2-13,5% GDP của tỉnh. Về không gian du lịch hình thành 4 trung
tâm du lịch của tỉnh: Hạ Long, Móng Cái-Trà Cổ, Uông Bí-Đông Triều-Yên
Hưng và Vân Đồn. Đến năm 2005 thu hút 15000 và đến năm 2010 là 25000
lao động trực tiếp trong ngành du lịch. Huy động nguồn lực 7.506 tỷ đồng
đầu tư cho du lịch trong giai đoạn 2001-2010.
Tháng 3 năm 2005, Tỉnh ủy Quảng Ninh ra nghị quyết số 21 về đẩy
mạnh phát triển các ngành dịch vụ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015.
Nghị quyết đề ra mục tiêu phát triển du lịch Quảng Ninh thành một trung tâm
du lịch hàng đầu của cả nước, phấn đấu xây dựng du lịch Quảng Ninh trở thành
thương hiệu mạnh trong khu vực Đông Nam Á vào năm 2015 [2; tr.5].
2.1.2. Quá trình phát triển kinh tế du lịch của Quảng Ninh
Thực hiện các nghị quyết của Đại hội X của tỉnh, Đảng bộ tỉnh và nhân
dân Quảng Ninh đã đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển du lịch thành ngành
kinh tế mũi nhọn. Theo đó, toàn tỉnh đã hình thành 4 trung tâm du lịch Hạ
Long, Móng Cái-Trà Cổ, Uông Bí-Đông Triều-Yên Hưng, Vân Đồn. Các giá
trị du lịch được chia thành: du lịch tham quan, du lịch tâm linh, du lịch trương
mại, du lịch biển và du lịch sinh thái. Nhờ sự định hướng đúng đắn và khai
thác có hiệu quả các thế mạnh mà du lịch Quảng Ninh giai đoạn 1996-2005
đã đạt được những thành tựu lớn.
Thu hút khách du lịch: Năm 1996 tổng số khách du lịch đến Quảng
Ninh là 1,2 triệu lượt trong đó khách quốc tế chiếm 39% [25; tr.15]. Đến năm



20


Trích đoạn Một số kinh nghiệm chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status