Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân pháp 1946 1954 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

VŨ THỊ NGỌC

ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO CHIẾN
TRANH DU KÍCH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1946 – 1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

VŨ THỊ NGỌC

ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN LÃNH ĐẠO CHIẾN
TRANH DU KÍCH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1946 – 1954)

Chuyên ngành:Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN BÌNH

Hà Nội – 2015

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử mới ................................................................... 48
2.1.2. Chủ trương mới của Đảng và Đảng bộ .......................................... 51

3


2.2. Lãnh đạo xây dựng lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích từ
năm 1951 – 1954 ...................................................................................... 56
2.2.1. Xây dựng, củng cố lực lượng, phát triển các khu du kích và căn cứ
du kích (1951-1953) ................................................................................. 56
2.2.2. Đẩy mạnh chiến tranh du kích góp phần đưa cuộc kháng chiếnđến
thắng lợi hoàn toàn (1953 – 1954) ........................................................... 66
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ....... 76
3.1. Nhận xét ............................................................................................ 76
3.1.1. Những ưu điểm và hạn chế ............................................................ 76
3.1.2. Đặc điểm cuộc chiến tranh du kích trên địa bàn Hưng Yên .......... 79
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ............................................................ 84
3.2.1. Vận dụng và phát triển sáng tạo đường lối kháng chiến toàn dân,
toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh. ................................................ 84
3.2.2. Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự các hình thức đấu tranh
khác, trong đó lấy đấu tranh quân sự là chủ yếu. ................................... 87
3.2.3. Kiên trì bám dân, bám đất để xây dựng, phát triển lực lượng chính
trị, vũ trang và lãnh đạo kháng chiến ...................................................... 89
3.2.4. Chú trọng xây dựng lực lượng dân quân, du kích trong quá trình
xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân .......................... 91
3.2.5. Tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong xây dựng lực
lượng vũ trang và lãnh đạo chiến tranh du kích ..................................... 92
KẾT LUẬN ................................................................................................. 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 99
PHỤ LỤC.................................................................................................. 107

truyền thống đánh giặc cứu nước nghìn xưa của cha ông ta, phát triển kinh
5


nghiệm hoạt động du kích trong những năm tiền khởi nghĩa của Cách mạng
tháng Tám. Nó được sự chỉ đạo của đường lối chiến tranh nhân dân, mang
tính chất toàn dân, toàn diện của Đảng và tuân theo quy luật phát triển của
chiến tranh toàn dân. Đảng ta đã tích cực học tập và vận dụng sáng tạo những
kinh nghiệm tiến hành chiến tranh du kích của Liên Xô, Trung Quốc và ngay
cả của nhân dân Pháp chống lại phát xít Đức vào thực tế cuộc chiến tranh du
kích của Việt Nam.
Chiến thuật chiến tranh du kích được Đảng ta sử dụng hiệu quả trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên phạm vi cả nước nói
chung và địa bàn tỉnh Hưng Yên nói riêng.
Trên nền tảng chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ởHưng Yên phát
triển từ không đến có, từ nhỏ hẹp đến rộng lớn, phát triển cả ở nông thôn và
đô thị. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Hưng Yên đã xuất
hiện những hình thức đấu tranh sáng tạo, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu
tranh chính trị và các hình thức đấu tranh khác; đồng thời cũng sớm xuất hiện
thế trận lòng dân, bám đất kiên cường, vững chắc và cách đánh sâu, đánh
hiểm của các đội cảm tử quân, thanh niên xung phong... xuất quỷ nhập thần,
khiến cho quân thù phải khiếp vía kinh hoàng... Đó chính là những bài học
kinh nghiệm ban đầu hết sức quý báu đã được kế thừa, vận dụng và phát triển
lên trình độ cao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.
Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện,
có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với chiến tranh du
kích ở Hưng Yên. Xuất phát từ lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực
dân Pháp (1946 – 1954)” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam.

(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1996), “Vị trí chiến lược của

7


chiến tranh nhân dân ở địa phương và của các lực lượng vũ trang địa
phương” của Võ Nguyên Giáp (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, xuất bản
năm 1972) và “Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Pháp (19451954) của Vũ Văn Ba chủ biên (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, xuất bản
năm 1991). Những tác phẩm này chủ yếu đi vào tổng kết những vấn đề mang
tính chất lý luận về cuộc chiến tranh nhân dân nói chung và chiến tranh du
kích nói riêng mà chưa đi sâu nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với
chiến tranh du kích.
Thứ hai: là những công trình nghiên cứu về vấn đề có liên quan tới
chiến tranh du kích như: tác phẩm “Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở
đồng bằng Bắc Bộ (1946 – 1954)” của tác giả Vũ Quang Hiển (NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2001). Tác phẩm này đề cập tới quá trình lãnh đạo xây
dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp,
nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các căn cứ du kích ở đồng bằng
Bắc Bộ, qua đó đưa ra nhận xét về thành công và hạn chế trong quá trình xây
dựng các căn cứ du kích, đặc điểm hình thành và phát triển của các căn cứ du
kích và vị trí chiến lược của các căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ và rút ra
một số bài học, kinh nghiệm.
Tác phẩm “Đặc trưng của chiến tranh du kích ở vùng đồng bằng Liên
khu 3 trong kháng chiến chống Pháp” của Bộ Tổng Tham mưu do Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 1998. Đây là công trình nghiên cứu có
tính chất chuyên khảo về đặc trưng của chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc
Bộ dưới góc độ lịch sử, là tài liệu quý giúp tác giả luận văn có cách nhìn tổng
quát, so sánh, đối chiếu được khi thực hiện đề tài Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
lãnh đạo chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Pháp.
Thứ ba: là những cuốn sách lịch sử và lịch sử Đảng bộ các địa phương ở

Thư viện Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên và Thư viện tỉnh Hưng Yên
cùng một số tài liệu kể trên.

9


3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích
- Làm sáng tỏ những chủ trương, đường lối của Đảng bộ Hưng Yên
trong lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương (1946 – 1954).
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và bước đầu đúc rút những bài học,
kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích ở Hưng Yên thời kỳ
này, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác quân
sự địa phương.
Nhiệm vụ
- Tập hợp những tư liệu lịch sử cơ bản có liên quan đến vấn đề Đảng bộ
lãnh đạo chiến tranh du kích ở Hưng Yên.
- Làm rõ các phong trào quần chúng trong việc thực hiện chủ trương của
Đảng bộ.
- Tái hiện quá trình Đảng bộ Hưng Yên lãnh đạo quân và dân trên địa
bàn tỉnh tiến hành cuộc chiến tranh du kích trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Chủ trương, đường lối của Đảng bộ Hưng Yên lãnh đạo, chỉ đạo chiến
tranh du kích trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở địa phương.
- Những diễn biến chính của chiến tranh du kích ở Hưng Yên.
- Những thành công và hạn chế của Đảng bộ Hưng Yên trong lãnh đạo
chiến tranh du kích.
Phạm vi nghiên cứu

- Các sách lịch sử kháng chiến chống Pháp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Một số sách chuyên khảo vể chiến tranh du kích.
- Một số luận văn, luận án đã thực hiện.

11


Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận sử học Mác - xít, tác giả sử dụng phương
pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử là: kết hợp giữa phương pháp lịch sử và
phương pháp logic. Ngoài ra, đề tài bước đầu tiếp cận và vận dụng các
phương pháp: phương pháp phân tích, so sánh lịch sử, thống kê…
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Trình bày có hệ thống về chủ trương, đường lối của Đảng bộ Hưng Yên
về tiến hành chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược (1946 – 1954).
- Nêu lên một số đặc điểm, ưu điểm và những hạn chế của Đảng bộ
Hưng Yên trong lãnh đạo chiến tranh du kích trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, qua đó đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử.
- Góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu cho chiến tranh nhân dân
địa phương nói riêng và nguồn tư liệu lịch sử dân tộc trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, giúp thế hệ trẻ Hưng Yên hiểu rõ hơn tội ác của thực
dân Pháp và càng thêm tự hào với những chiến công vang dội, những trang sử
vẻ vang của thế hệ cha anh.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chiến tranh du kích từ năm
1946 – 1950.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chiến tranh du kích từ năm

Hưng Yên lần thứ nhất (tháng 08/1873) và hạ thành Hưng Yên lần thứ hai
(tháng 03/1883), địa giới Hưng Yên vẫn như khi mới thành lập. Đến năm
1894, tỉnh Hưng Yên có thêm vùng đất của Bắc Ninh (một số tổng của huyện

13


Lương Tài và Siêu Loại), Hải Dương (huyện Mỹ Hào); ranh giới phía Bắc tới
sông Chu Đậu, phía Tây là sông Hồng, phía Đông là sông Cửu Yên và sông
Luộc trở thành ranh giới tự nhiên phía Nam của tỉnh. Địa giới hành chính này
giữ từ năm 1894 đến cách mạng tháng Tám 1945.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời, từ tháng 06/1947 đến tháng 04/1999, Hưng Yên có sự thay
đổi địa giới hành chính tới 26 lần lớn, nhỏ. Năm 1949, Hưng Yên có 10 đơn
vị hành chính cấp huyện là Văn Giang, Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái
Châu, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ và thị xã Hưng Yên với 117 xã. Đến tháng
01/1968, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ra Nghị quyết số 544/NQ-TVQH hợp
nhất hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng gồm 10 huyện, thị
xã của Hưng Yên và 12 huyện, thị xã của Hải Dương. Đến tháng 11/1996,
Quốc hội khóa IX đã phê chuẩn tách Hải Hưng thành hai tỉnh là Hưng Yên và
Hải Dương sau 29 năm hợp nhất. Ngày 01/01/1997 tỉnh Hưng Yên được tái
lập gồm thị xã Hưng Yên và 5 huyện là Mỹ Văn, Châu Giang, Phù Tiên, Ân
Thi và Kim Động. Đến tháng 04/1999, tỉnh Hưng Yên có 10 đơn vị cấp huyện
là thị xã Hưng Yên, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Lâm, Mỹ Hào, Kim Động, Ân Thi,
Văn Giang, Yên Mỹ, Khoái Châu với 160 đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã,
phường, thị trấn).
Nằm ở tả ngạn sông Hồng thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc
của tỉnh giáp với Bắc Ninh và Thành phố Hà Nội.Sông Luộc từ ngã ba Tuần
Vương đến Hạ Đồng dài hơn 21km là ranh giới tự nhiên phía Nam của tỉnh
tiếp giáp với Thái Bình.Ranh giới tự nhiên phía Tây là sông Hồng tiếp giáp

đồi núi, không có rừng và không có biển. Đất đai của Hưng Yên có độ cao
trung bình 4m so với mực nước biển. Phần lớn đất đai ven sông Hồng, sông
Luộc là đất phù sa, vùng tiếp giáp là đất thịt pha cát, còn ở vùng nội đồng như
các huyện Ân Thi, Yên Mỹ, Mỹ Hào, phía bắc huyện Văn Lâm, Tiên Lữ; phía
đông các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động chủ yếu là đất thịt. Đất

15


đai của Hưng Yên nghiêng dần từ Tây sang Đông bởi phù sa bồi lắng do
nhiều lần lụt lội.
Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều lại chịu
ảnh hưởng của thủy triều hay gây úng nên nhìn chung khó cấu trúc công sự
ngầm, khó khăn trong việc lập kho tàng, cất giữ tài sản. Bên cạnh đó, mạng
lưới sông ngòi, kênh lạch chằng chịt còn tạo thêm trở ngại lớn là địa bàn bị
chia cắt, chiến trường dễ bị bao vây, cô lập.
Những yếu tố đất đai, nguồn nước, thời tiết, khí hậu đã tạo nên những
khu dân cư khác nhau và cảnh cư trú, sinh sống cũng khác nhau. Việc định cư
vốn theo quy luật bám trụ theo nguồn nước nên nhân dân Hưng Yên đã ưu
tiên chọn nơi sinh sống theo các triền sông. Các vùng ven sông Hồng, sông
Luộc đã hình thành các khu vực làng mạc dày đặc, thuận tiện cho việc trú và
giấu quân, cơ động lực lượng và tổ chức chiến đấu liên hoàn. Tuy nhiên, làng
mạc ở những vùng này phần nhiều trống trải, ít có lũy tre kiên cố, nhiều
đường ngang, lối tắt dễ tiếp cận làng này sang làng khác, không thuận lợi cho
việc tổ chức chiến đấu theo lối cố thủ.
Do có vị trí và địa thế tự nhiên như vậy, cho nên trong suốt quá trình
dựng nước và giữ nước, vùng đất Hưng Yên luôn là vị trí có ý nghĩa chiến
lược.
Theo nhiều thư tịch cổ và lịch sử thành văn thì nhân dân Hưng Yên đã
sớm cùng nhân dân cả nước đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm. Thời cổ đại

Đạo Bãi Sậy – một đơn vị quản quân tương đương cấp tỉnh – và lập 2 Binh
đoàn tác chiến để chống lại nghĩa quân. Hưng Yên cũng là nơi sinh thành và
nuôi dưỡng nhà yêu nước Hoàng Hoa Thám (quê ở Dị Chế, Tiên Lữ).Ông là
người lãnh đạo nghĩa quân Yên Thế, một trong những thủ lĩnh nổi tiếng sau
thời Cần Vương.
Kế thừa truyền thống vẻ vang đó, được Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ
Chí Minh lãnh đạo, nhân dân Hưng Yên đã cùng với cả nước đấu tranh để

17


giành và giữ được độc lập, tự do. Từ khi Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của
Hưng Yên ra đời tại Thuần Hưng (Khoái Châu) năm 1929 đến trước ngày
Tổng khời nghĩa tháng 08/1945, phong trào cách mạng của nhân dân Hưng
Yên tuy bị địch đàn áp dã man, nhiều lần tổ chức và cơ sở bị phá vỡ; nhiều
đảng viên, cán bộ, quần chúng cách mạng bị giết hại và tù đày… nhưng
không ngừng được củng cố và phát triển.
Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân nhưng
công việc của cách mạng còn đang bộn bề và mới mẻ, lực lượng cán bộ cách
mạng còn mỏng, chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền, quản lý xã hội. Trong
khi đó, tàn dư của chính quyền và chế độ cũ còn khá mạnh và rất phức tạp,
giặc ngoài lại đang dòm ngó. Cũng như cả nước, quân và dân Hưng Yên lại
đứng trước những khó khăn mới và hăng hái hoàn thành những nhiệm vụ mới
khi người dân đã thực sự được làm chủ cuộc sống và vận mệnh đối với quốc
gia, dân tộc, địa phương và gia đình.
Hưng Yên có số dân không lớn, nhưng tốc độ phát triển nhanh và mật độ
khá cao. Sau cách mạng tháng Tám 1945, toàn tỉnh có 480.000 người, đến
năm 1949 có 589.800 người.
Sau gần 8 năm cùng cả nước kháng chiến chống Pháp, ngày 08/10/1954,
khi tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi vị trí Cống Ao Sầu (Văn Giang), quân ta

Trung Hoa nhưng thực dân Pháp lại được tạo điều kiện ráo riết thực hiện âm
mưu xâm lược nước ta.
Sau khi Hiệp ước Pháp – Hoa được ký kết, ngày 03/03/1946, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Tình hình và Chủ trương.Chỉ thị nhận
định, Hiệp ước Pháp – Hoa là biểu hiện của sự thỏa hiệp giữa bọn đế quốc với
nhau; Chỉ thị phân tích vấn đề lúc này không phải là muốn đánh hay không
muốn đánh.Vấn đề là biết mình, biết người, nhận định một cách khách quan
những điều kiện lợi hại trong và ngoài nước mà chủ trương cho đúng. Trung
ương Đảng quyết định chọn giải pháp hòa hoãn, đàm phán với Pháp để buộc

19


quân đội Trung Hoa dân quốc phải rút về nước, tránh được tình thế một lúc ta
phải đối mặt với nhiều kẻ thù, bảo toàn lực lượng tranh thủ thời gian hòa hoãn
để xây dựng lực lượng chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới, tiến tới giành
thắng lợi hoàn toàn. Lập trường của ta trong cuộc đàm phán với Pháp được
Trung ương Đảng vạch ra là: Pháp phải thừa nhận quyền độc lập tự quyết của
của dân ta, công nhận chính phủ, quân đội, nghị viện, tài chính, ngoại giao…
và sự thống nhất của đất nước ta.
Thế nhưng, thực dân Pháp đã bội ước. Với khí thế sục sôi của cả nước
sau Cách mạng tháng Tám, với lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã
phát triển sau gần một năm tranh thủ xây dựng, toàn thể nhân dân Việt Nam
đoàn kết một lòng cùng với Đảng và Chính phủ quyết tâm chiến đấu đến cùng
vì nền độc lập và thống nhất của tổ quốc.
Ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàndân
kháng chiến. Bản Chỉ thị đã vạch rõ mục đích, tính chất và đường lối chung
chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp là toàn dân, toàn diện, trường
kỳ và tự lực cánh sinh.
Ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1946, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và tác phẩm Kháng chiến nhất
định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh là những văn kiện lịch sử, định
hình đường lối kháng chiến của Đảng một cách cơ bản. Đó là đường lối tiến
hành chiến tranh cách mạng trên cơ sở động viên và tổ chức quần chúng sâu
rộng để tiếp tục sự nghiệp của cách mạng tháng Tám, xây dựng một nước
Việt Nam mới, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh để sánh vai với các
cường quốc năm châu giống như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng
là đường lối kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giành độc lập cho
nhân dân ta với cuộc đấu tranh chung của của giai cấp vô sản và nhân dân các
dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc trong phong trào cách mạng thế
giới sau chiến tranh thế giới thứ hai.

21


Như vậy, ngay khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trung ương
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra những vấn đề cơ bản về đường
lối kháng chiến, đoàn kết toàn dân đánh giặc cứu nước. Toàn dân kháng chiến
là nội dung của chiến tranh nhân dân Việt Nam, là tinh thần xuyên suốt mọi
chủ trương, là tư tưởng, chỉ đạo mọi kế hoạch tác chiến và xây dựng lực
lượng. Toàn diện kháng chiến là kháng chiến cả về chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, ngoại giao, nhằm huy động mọi khả năng, phát huy mọi sức mạnh,
sử dụng và kết hợp mọi hình thức đấu tranh, liên hiệp với mọi lực lượng cách
mạng và tiến bộ trên thế giới để đánh bại kẻ thù. Trường kỳ kháng chiến là
chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam đánh kẻ thù có ưu thế về lực
lượng quân sự, vừa đánh vừa vũ trang thêm, vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân,
vừa đánh vừa học hỏi kinh nghiệm, dần chuyển hóa so sánh lực lượng, đồng
thời lợi dụng những chuyển biến của tình hình quốc tế có lợi cho cuộc kháng
chiến của ta, từng bước đánh bại từng kế hoạch của kẻ thù để giành thắng lợi
cuối cùng. Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỷ là bước phát triển mới

Hưng Yên nằm sát thủ đô Hà Nội và trên tuyến đường giao thông chiến
lược nên những ngày sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tình hình cũng rất
sôi động. Cùng với khí thế cách mạng sôi sục và niềm phấn khởi, tin tưởng
của người dân vừa được giải phóng thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của thực
dân phong kiến, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên cũng đứng trước muôn vàn
những khó khăn.
Lúc này, nhân dân trong tỉnh đang gặp nhiều khó khăn sau nạn đói
khủng khiếp và nạn lụt năm 1945.Nông thôn, nông nghiệp tiêu điều; công
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đình đốn. Bộ máy chính quyền vừa
mới thành lập, cán bộ tuy hăng say nhiệt tình với cách mạng nhưng còn nhiều
bỡ ngỡ trước những công tác mới mẻ. Ngày 20/11/1945, hơn 3.000 quân Nhật

23


từ các nơi dồn về, cùng với số quân đã đồn trú trước tháng 08/1945 chờ ngày
quân Đồng Minh đến tước vũ khí về nước cũng gây cho địa phương nhiều
khó khăn. Cùng ngày đó, hơn 800 quân đội Trung Hoa dân quốc kéo vào thị
xã để giải giáp quân đội Nhật. Quân đội Trung Hoa dân quốc cũng không giấu
mưu đồ tập hợp, xây dựng lực lượng phản động tại chỗ để lật đổ chính quyền
cách mạng và vơ vét của cải.
Tổng khởi nghĩa thắng lợi, để chuẩn bị bước vào thời kỳ đấu tranh và
xây dựng mới, Xứ ủy Bắc kỳ đã tăng cường cho Hưng Yên một đội ngũ cán
bộ có uy tín và năng lực, cử đồng chí Vũ Duy Hiệu làm Bí thư Tỉnh ủy. Bên
cạnh việc quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài
và tự lực cánh sinh của Đảng, Đảng bộ tỉnh còn đề ra nhiều nhiệm vụ cụ thể
để củng cố và xây dựng bộ máy chính quyền nhân dân các cấp; mở rộng và
củng cố mặt trận Việt Minh và các tổ chức quần chúng như tổ chức Thanh
niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, …; tổ chức, xây dựng
và phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng.

quốc; thực hiện chủ trương của Trung ương về củng cố và tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân, mở rộng mặt trận và lực lượng vũ trang; khẩn trương
huấn luyện quân sự, phát động phong trào tự trang bị vũ khí, lập “quỹ nghĩa
thương”, “quỹ bảo vệ” tích trữ lương thực, chuẩn bị cho lực lượng vũ trang…
Trong khoảng thời gian hơn một năm, từ Cách mạng tháng Tám đến cuối
năm 1946, Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên đã giành được những thắng lợi
bước đầu rất quan trọng trong việc xây dựng và củng cố chính quyền cách
mạng, phát triển tiềm lực về mọi mặt để chuẩn bị cho kháng chiến.
1.1.3. Chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích từ tháng 09/1945
đến tháng 11/1946
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đương đầu với
biết bao khó khăn, trở ngại về kinh tế - xã hội, các ngành sản xuất bị đình đốn,
tài chính kiệt quệ, di sản văn hóa thực dân phong kiến cùng các tệ nạn xã hội

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status