Đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục tu nam 1996 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG TUYẾT

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

\

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG TUYẾT

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


1


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CSVC

:

Cơ sở vật chất

GD&ĐT

:

Giáo dục và đào tạo

GDTX

:

Giáo dục thường xuyên

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

KT-XH


:

Trung học cơ sở

THPT

:

Trung học phổ thông

TTHTCĐ

:

Trung tâm học tập cộng đồng

TW

:

Trung ương

UBND

:

Ủy ban nhân dân

XHHGD

theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ,
của kinh tế tri thức trong quá trình toàn cầu hóa đã đặt ra cho tất cả các nước, nhất
là các nước chậm phát triển muốn tồn tại, đứng vững và phát triển phải kịp thời nắm
bắt và làm chủ tri thức, đi tắt đón đầu một cách phù hợp. Muốn làm được điều đó
thì phát triển giáo dục được coi là nền tảng cơ bản. Thấy rõ tầm quan trọng đó,
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta
đã xây dựng định hướng phát triển giáo dục, coi đây là lĩnh vực then chốt để xây
dựng và phát triển bền vững đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996)
của Đảng nhấn mạnh: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [20,
tr.107]. Tiếp đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng xác định:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
3


nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [22, tr.108-109].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Giáo
dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và
động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [24, tr. 94-95].
Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về giáo dục, trong những năm qua
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã tập trung lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, góp phần to lớn thúc đẩy phát triển KT-XH của tỉnh. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, giáo dục của Ninh Bình vẫn còn bộc lộ
một số khó khăn, hạn chế nhất định, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Yêu
cầu cấp bách đặt ra đối với Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Ninh Bình là nhận thức
đúng đắn, vận dụng và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối giáo dục của Đảng phù
hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Trên tinh thần đó, việc tổng kết quá trình
Đảng bộ tỉnh lãnh đạo sự nghiệp giáo dục, nhằm đánh giá một cách khách quan

số cuốn sách, bài viết, tiêu biểu như: Hồ Chí Minh, “Bàn về công tác giáo dục”,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975; Phạm Văn Đồng, “Về vấn đề giáo dục - đào tạo”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Đỗ Mười, “Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào
tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 1996; Võ Nguyên Giáp, “Mấy vấn đề về khoa học và giáo dục”, Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1986; Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, “Về đường lối
giáo dục xã hội chủ nghĩa”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979… Những công trình trên
khẳng định vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết của việc đẩy mạnh sự nghiệp
giáo dục; đồng thời đưa ra những quan điểm, tư tưởng cơ bản có tính chất định
hướng phát triển giáo dục, phục vụ cho công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, các bộ, ban, ngành, viện nghiên cứu cũng có những cuốn sách, công
trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: Bộ GD&ĐT, Thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ IX, tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả

5


giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đầu thế
kỷ XXI; Bộ GD&ĐT - Tổ chức UNESCO, Giáo dục và nguồn nhân lực Việt Nam,
1992; Viện nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục: Những vấn đề về chiến lược
phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Bộ
GD&ĐT, “Giáo dục cho mọi người Việt Nam - Các thách thức hiện nay và tương
lai”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994; Viện khoa học giáo dục, “Nhà trường phổ thông
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2001; Ban Khoa
giáo TW, Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII )
về Giáo dục - đào tạo 1996 - 2001, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hà Nội, 2001;
Ban Khoa giáo TW, Giáo dục - đào tạo trong thời kỳ mới: Chủ trương, thực hiện,
đánh giá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002… Những công trình này đã tổng
kết các quan điểm, chủ trương của Đảng về giáo dục, đánh giá quá trình thực hiện,

mới giáo dục và đào tạo nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí phát
triển giáo dục, số 4 năm 2003, tr.3-4; Ngô Văn Hiển, “Các giải pháp nâng cao hiệu
quả đầu tư cho giáo dục - đào tạo thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”,
Tạp chí Giáo dục, số 112 năm 2005, tr.8-10…
Những công trình nghiên cứu trên đều nhất quán khẳng định giáo dục là quốc
sách hàng đầu, là động lực cho sự phát triển đất nước trong thế kỷ mới, trên cơ sở
đó đưa ra chiến lược phát triển và biện pháp phù hợp nhằm thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ to lớn của giáo dục. Ngoài ra, các công trình này phản ánh nhiều mặt thực
trạng nền giáo dục nước nhà; luận giải những quan điểm cơ bản của Đảng về giáo
dục từ năm 1945 đến nay; đề ra những phương hướng, giải pháp tích cực nhằm phát
triển nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… Tuy nhiên, các công trình này đề cập những
vấn đề lớn, phạm vi rộng của giáo dục Việt Nam, mà chưa đi sâu vào từng địa
phương cụ thể. Đây là cơ sở, nguồn tư liệu quý giúp tác giả tham khảo và luận giải
những nội dung nghiên cứu của luận văn.

7


2.4. Nhóm các luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng về giáo dục nói chung và ở
các địa phương
Nghiên cứu đường lối, chủ trương chung của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo
dục có một số luận văn như: Phạm Quốc Huy (1996), Đảng Cộng sản Việt Nam với sự
nghiệp đổi mới ngành giáo dục đại học nước nhà 1987 - 1995, Luận văn Thạc sĩ Lịch
sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Hải Anh
(2008), Đảng lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển giáo dục đào tạo 1996 đến
2006, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh… Các luận văn này đã nghiên cứu về các chủ trương, đường lối, quan điểm
của Đảng về giáo dục ở phạm vi quốc gia; quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả đạt
được trong thời gian qua. Đây là tài liệu để tác giả tham khảo khi nghiên cứu về sự vận
dụng quan điểm của Đảng vào giáo dục ở địa phương.

chuyên biệt một cách hệ thống chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
về giáo dục trong những năm 1996 đến 2010 dưới góc độ Lịch sử Đảng như đề tài
luận văn tôi lựa chọn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về giáo dục
thời kỳ từ năm 1996 đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những đặc điểm cụ thể của địa phương và làm rõ yêu cầu khách
quan quá trình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong
những năm 1996 - 2010.
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình vận dụng
các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục để đề ra các
chủ trương cũng như chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục ở địa phương từ năm
1996 đến năm 2010.
- Đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những
thành tựu và hạn chế giáo dục tỉnh Ninh Bình từ năm 1996 đến năm 2010.
- Tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình đối với sự nghiệp giáo dục của địa phương.

9


4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện về giáo dục của
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm 1996 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo toàn diện của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đối
với sự nghiệp giáo dục (chỉ gồm giáo dục MN, giáo dục phổ thông, GDTX) của tỉnh.

các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, do các nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Khoa học xã hội, Lao động, Giáo dục… phát hành để góp phần luận
giải những yêu cầu của luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần tái hiện quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát
triển sự nghiệp giáo dục từ năm 1996 đến năm 2010.
- Luận văn cung cấp thêm những tư liệu liên quan về việc Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình thực hiện đường lối giáo dục của Đảng.
- Luận văn bước đầu nêu lên những nhận xét, rút ra những kinh nghiệm khi
nghiên cứu đề tài.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu ở
tỉnh Ninh Bình, góp phần làm phong phú thêm tài liệu tham khảo cho học tập, giảng
dạy một số chuyên đề Lịch sử Đảng về khía cạnh giáo dục trong các trường học trên
cả nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương 8 tiết

11


CHƢƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC (1996 - 2000)
1.1. Giáo dục tỉnh Ninh Bình trƣớc năm 1996
1.1.1. Đặc điểm tình hình
* Điều kiện tự nhiên và truyền thống lịch sử
Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ, nơi tiếp giáp giữ Bắc Bộ với
Trung Bộ. Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, giáp với hai tỉnh Hà
Nam và Nam Định. Phía Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa có dãy núi Tam Điệp, chạy
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là địa giới. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hòa Bình. Phía

trên 900 nghìn người, mật độ dân số của tỉnh khoảng 675 người/km2. Trên địa bàn
tỉnh có 2 dân tộc chính là Kinh và Mường, hầu hết là người Kinh, còn dân tộc
Mường sống tập trung ở một số xã huyện Nho Quan.
Nhân dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài trồng lúa, nhân dân
còn trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây công
nghiệp. Những nghề thủ công mỹ nghệ nổi tiếng của địa phương như dệt chiếu cói
Kim Sơn, Yên Khánh, khai thác đá, trạm trổ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân, thêu ren ở
Ninh Hải, làm đồ mộc ở Phúc Lộc (Ninh Phong), làm gạch ngói ở Khương Thượng
(Yên Khánh), trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, dệt lụa ở nhiều nơi trong các huyện Gia
Viễn, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đã hun đúc cho nhân dân Ninh Bình tinh thần
yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết, truyền thống hiếu học, lòng nhân ái
cao cả, sự cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh
chống xâm lược, bảo vệ và xây dựng đất nước.
Những địa danh Hoa Lư, Tam Điệp... đã đi vào lịch sử, ghi nhận sự đóng góp to
lớn của quân dân Ninh Bình trong công cuộc dựng nước, giữ nước hàng ngàn năm
của dân tộc ta. Từ trong lịch sử chống ngoại xâm, khắc phục thiên tai, xây dựng đất
nước, quê hương Ninh Bình đã sinh ra và nuôi dưỡng những người anh hùng dân tộc.
Tiêu biểu như Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên nước
Đại Cồ Việt vào thế kỷ X, xây dựng kinh đô ở Trường Yên (Hoa Lư); như năm 1789,
Quang Trung - Nguyễn Huệ đã tập kết quân tại Tam Điệp để làm cuộc tiến công
“thần tốc” đại phá 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long, giành lại độc lập dân
tộc. Ngoài ra, vùng đất này còn là quê hương của nhiều danh nhân văn hóa như
Trương Hán Siêu, Vũ Duy Thanh, Phạm Thận Duật, Vũ Phạm Khải...

13


Những truyền thống tiêu biểu đó được nhân dân Ninh Bình phát huy từ đời này
qua đời khác và càng được phát huy hơn cả từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh


hội Đảng bộ tỉnh đề ra mà còn đạt tốc độ bình quân hàng năm cao hơn tốc độ tăng
bình quân của cả nước [92, tr.21]. Sự ổn định và từng bước phát triển kinh tế đã tác
động tích cực về mặt xã hội. Các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục cũng có những
chuyển biến khá, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, sự nghiệp giáo dục phát
triển cả về chất lượng chuyên môn cũng như CSVC.
Đặc điểm tự nhiên, truyền thống lịch sử và tình hình KT-XH đòi hỏi nhu cầu về
nguồn nhân lực là rất lớn. Sự phát triển kinh tế ngày càng cao cộng với thế mạnh
truyền thống hiếu học là một trong những điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện
chính sách giáo dục của Đảng nhằm phát triển KT-XH ở địa phương. Tuy vậy, sự
đa dạng về điều kiện tự nhiên, tình hình KT-XH còn khó khăn đã tác động tới sự
nghiệp giáo dục của tỉnh Ninh Bình theo cả hướng tích cực và tiêu cực. Thực tế đó
đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Ninh Bình cần có chủ trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn,
phù hợp, sát thực tiễn để phát huy những thế mạnh, khắc phục những mặt hạn chế,
thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của tỉnh ngày càng phát triển hơn nữa.
1.1.2. Thực trạng giáo dục tỉnh Ninh Bình từ khi tái lập tỉnh đến trước năm 1996
Ngày 1/4/1992 tỉnh Ninh Bình chính thức được tái lập, trong điều kiện tình
hình quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch âm mưu “diễn biến hòa
bình” chống phá cách mạng nước ta, tình hình KT-XH trong nước còn nhiều khó
khăn. Những biến động của tình hình quốc tế và trong nước đã ảnh hưởng trực tiếp
đến sự phát triển KT-XH của tỉnh Ninh Bình.
Ngay từ khi tái lập, Đảng bộ tỉnh xác định đúng đắn vị trí quốc sách hàng đầu
của giáo dục trong công cuộc xây dựng, phát triển KT-XH ở địa phương. Quán triệt
và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TW (14/01/1993), Tỉnh
uỷ, HĐND, UBND tỉnh Ninh Bình chủ trương chỉ đạo tập trung đầu tư thích đáng
cho sự nghiệp giáo dục, đảm bảo hoạt động thường xuyên của toàn ngành giáo dục
với mức đầu tư lớn trong tổng chi ngân sách địa phương. Trên cơ sở những quan
điểm chỉ đạo của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XII (8/1992) đã
nhấn mạnh: “Vì lợi ích trước mắt và lâu dài của đất nước, của quê hương, phải thật

chương trình cải cách, 100% lớp mẫu giáo đảm bảo an toàn, không xảy ra tai
nạn…). Đối với giáo dục phổ thông, chất lượng được nâng lên cả diện đại trà và

16


mũi nhọn. Tỷ lệ học sinh giỏi tăng, tỷ lệ học sinh kém giảm dần, tỷ lệ học sinh
bỏ học, lưu ban giảm mạnh, nhất là chất lượng trường chuyên, lớp chọn được
nâng cao. Bên cạnh đó, từ năm học 1991 - 1992, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp TH
thường xuyên đạt 98% - 99%; THCS đạt 92% - 99%, THPT năm thấp nhất đạt
91,7%, năm cao nhất đạt 99,8%; số học sinh trúng tuyển vào các trường đại học,
cao đẳng mỗi năm một tăng. Đặc biệt, thành tích học sinh giỏi Quốc gia có những
bước tiến khả quan (năm học 1992 - 1993, có 23 giải; năm học 1993 - 1994, có 45
giải; nhất là năm học 1994 - 1995, có 56 giải, trong đó có 8 giải nhất, dẫn đầu toàn
quốc về thành tích đội tuyển học sinh giỏi TH).
Thứ hai, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được xây dựng theo
hướng đủ, đồng bộ, chuẩn hóa và từng bước nâng chuẩn, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp giáo dục trong giai đoạn mới. Trong giai đoạn 1992 - 1996, tỉnh đã thực
hiện bồi dưỡng giáo viên các cấp theo đúng chỉ đạo của Bộ. Tính đến tháng
12/1994, số giáo viên đạt chuẩn đào tạo với TH 88%, THCS 83%, THPT 97%, nhà
trẻ 20%, mẫu giáo 33% [55, tr.6]. Đội ngũ cán bộ quản lý sở, phòng, trường đã
được kiện toàn dần theo tiêu chuẩn chức danh của Nhà nước. Bên cạnh đó, cán bộ
quản lý các cấp đều được tham gia học lớp bồi dưỡng quản lý nên công tác quản lý
giáo dục đã có chuyển biến tích cực. Cùng với yêu cầu về năng lực chuyên môn thì
đại bộ phận giáo viên và cán bộ quản lý giữ gìn được phẩm chất đạo đức, yêu
ngành, yêu nghề tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác.
Thứ ba, CSVC trường học bước đầu được nâng lên. Trong thời gian này phong
trào xây dựng trường cao tầng, trường kiên cố phát triển mạnh. Chương trình chống
xuống cấp, xóa ca ba và xây dựng thêm nhiều trường học kiên cố được triển khai
khẩn trương. Kết quả ban đầu, đến năm học 1995 - 1996, toàn tỉnh có 301 trường

khăn còn có phòng học tranh tre, nứa lá. Nhiều nơi thiếu phòng học phải học ca ba,
hoặc phải học nhờ nhà dân. Số trường có phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm còn
rất ít. Toàn tỉnh khi tái lập không trường nào đạt trường chuẩn Quốc gia.
Đội ngũ giáo viên hạn chế lớn nhất là tỷ lệ đạt chuẩn đào tạo thì cao nhưng
trình độ chuyên môn nghiệp vụ so với yêu cầu của nội dung chương trình cải cách
giáo dục, yêu cầu đổi mới nội dung đào tạo còn thấp. Sự đổi mới về phương pháp
giảng dạy còn yếu và trì trệ. Ý thức phấn đấu tu dưỡng, trách nhiệm và lương tâm
nghề nghiệp của một bộ phận giáo viên còn yếu do không nhận thức đầy đủ về giáo

18


dục trong cơ chế thị trường. Đời sống giáo viên tuy được cải thiện nhưng nhìn
chung còn nhiều khó khăn, nhất là ở nông thôn, miền núi ảnh hưởng nhiều tới việc
tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ. Khó khăn lớn nhất trong quá trình xây dựng
đội ngũ là việc xác định biên chế lao động trong ngành không thống nhất giữa TW
và địa phương, giữa tổ chức và Bộ chủ quản. Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng
nhất là giáo viên TH. Trong những năm học tới, tình trạng thiếu trầm trọng giáo
viên THCS, THPT là một thách thức lớn đối với tỉnh; nhất là thiếu giáo viên dạy kỹ
thuật, phân ban, giáo viên nhạc, họa, thể dục.
Sự đa dạng của loại hình phổ thông còn rất hạn chế (đến năm học 1994 - 1995,
chỉ mới có 1 trường THPT bán công và một số lớp bán công trong vài trường THPT
công lập). Tình trạng quá tải số học sinh trên lớp; kinh phí đầu tư cho chuyên môn
quá hạn hẹp; sự chênh lệch trong trình độ giữa các loại hình đào tạo, nhất là chất
lượng tuyển sinh của các lớp GDTX so với chính quy rất thấp… nên chất lượng học
tập không cao.
Bên cạnh đó, công tác PCGD và xóa mù chữ chưa bền vững. Công tác quản lý
giáo dục cũng gặp không ít khó khăn như: Công tác tổ chức, quản lý ngân sách còn
nhiều ách tắc về cơ chế; công tác tổng hợp thống kê số liệu còn gặp nhiều khó khăn
do hệ thống biểu mẫu chưa thống nhất… Công tác phát triển Đảng trong các trường

quan tâm đến hoạt động XHHGD nhưng chưa phát động thành một phong trào thực
sự rộng rãi.
Sau 4 năm tái lập tỉnh, giáo dục Ninh Bình có những thành tựu và bước phát
triển nhất định, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho
công cuộc xây dựng, bảo vệ, đổi mới đất nước nói chung, Ninh Bình nói riêng.
Nhưng giáo dục của tỉnh cũng còn tồn tại những yếu kém, bất cập. Bước sang thời
kỳ mới, cả nước và tỉnh Ninh Bình đứng trước những cơ hội cũng như thách thức
lớn, đặt ra những yêu cầu, nội dung rất mới, rất cao về nguồn lực con người. Thực
tế đó tất yếu đòi hỏi phải có nhận thức, quan điểm, mục tiêu, biện pháp phát triển
giáo dục mới cả về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục; phải đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục của đất nước. Trong điều kiện đó, yêu cầu các cấp
ủy Đảng, chính quyền và Sở GD&ĐT tỉnh Ninh Bình cần có chủ trương, giải pháp
chiến lược phát triển giáo dục đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển KT-XH của
địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

20


1.2. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình vận dụng chủ trƣơng của Đảng về giáo dục
(1996 - 2000 )
1.2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục
Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức lại về thời kỳ quá độ và tổng kết,
khảo nghiệm gần 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII (6/1996) Đảng ta khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước chung quanh, giữ
được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền và định hướng phát
triển xã hội chủ nghĩa” [19, tr.27].
Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của nước ta: vốn là một nước có nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH và bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong bối cảnh quốc tế có nhiều chuyển biến nên muốn thực hiện công nghiệp hóa,

hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường ảnh hưởng tới giáo dục. Đồng thời,
chống khuynh hướng “thương mại hóa”, đề phòng khuynh hướng phi chính trị hóa
giáo dục và không truyền bá tôn giáo trong trường học.
Hai là, thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
Quán triệt tinh thần giáo dục cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết
định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội theo đó đầu tư cho giáo dục là đầu tư
phát triển. Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là
chính sách đầu tư và chính sách tiền lương, đồng thời cần có các giải pháp mạnh mẽ
để phát triển giáo dục.
Ba là, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân
Tất cả mọi người đều được đi học, học thường xuyên, học suốt đời và cùng
chăm lo cho giáo dục. Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn
thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách
nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, đóng góp trí tuệ, nhân lực,
vật lực, tài lực cho giáo dục. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo
dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi.
Bốn là, phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển KT-XH, những tiến bộ khoa
học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh.

22


Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu
quả; thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận
gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội.
Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Tạo điều kiện cho tất cả mọi người ai cũng được học hành, người nghèo được
Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để có khả năng tham gia học tập. Những người học
giỏi cũng được bảo đảm những điều kiện cần thiết để phát triển tài năng.
Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status