Đảng bộ thành phố đà nẵng lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng tu nam 1997 den nam 2006 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

ĐẶNG QUANG VINH

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2011

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

ĐẶNG QUANG VINH

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1

Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ THỰC TRẠNG XÂY
DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM
1986 ĐẾN NĂM 1996 ............................................................................. 8

1.1. Tổng quan về Thành phố Đà Nẵng ............................................................ 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................. 8
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội .................................................................. 10
1.2. Thực trạng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà Nẵng
trong 10 năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 1996 ...................... 12
1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng trong
thời kỳ đổi mới .................................................................................. 12
1.2.2. Thực trạng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà
Nẵng trong 10 năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 1996 ................. 18
Chương 2. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LÃNH ĐẠO TỔ CHỨC XÂY DỰNG
CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006 ....................................... 30

2.1. Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà
Nẵng từ năm 1997 đến năm 2000 .................................................. 30
2.1.1. Chủ trương xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ
Thành phố Đà Nẵng .......................................................................... 30
2.1.2. Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở
Đảng ...................................................................................................... 35

2.2. Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm
2001 đến năm 2006 .......................................................................... 51
2.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) ........................... 51


QUY ƢỚC VIẾT TẮT

BCH:

Ban chấp hành

BCHTW:

Ban Chấp hành Trung ương

BTCTW:

Ban Tổ chức Trung ương

BTV:

Ban Thường vụ

CNH, HĐH:

Công nghiệp hóa, hiện đai hóa

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

ĐTNCS:

Đoàn thanh niên cộng sản

được lập ra ở các xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn
vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị khác.
Tổ chức cơ sở Đảng là một trong những khâu quan trọng trong hệ
thống tổ chức của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo cơ sở. Tổ chức cơ sở
Đảng vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng thành hành động cách mạng của đảng viên và quần chúng nhân
dân, vừa là nơi kiểm nghiệm, tập hợp những kinh nghiệm, sáng kiến, trí tuệ
của đảng viên và quần chúng nhân dân từ phong trào ở cơ sở để hình thành
nên đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời cũng là nơi tiến hành các hoạt
động xây dựng nội bộ Đảng, lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện, sàng lọc và kết
nạp đảng viên, đào tạo đội ngũ cán bộ nhằm bổ sung nguồn sinh lực mới, tăng
cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa, phát triển liên
tục của Đảng. Thực tiễn phong phú, sinh động ở cơ sở là một trong những
nguồn trí tuệ cách mạng to lớn của Đảng.
Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng, là gốc rễ, là những đơn vị cơ bản,
những tế bào của Đảng. Do đó chất lượng của tổ chức cơ sở Đảng là một yếu
tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng và uy tín của Đảng trước quần
chúng nhân dân. Tổ chức cơ sở Đảng mạnh hay không mạnh, việc làm của tổ

7


chức cơ sở Đảng, đảng viên tốt hay không tốt đều có tác động mạnh mẽ đến
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng
công tác xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở Đảng, coi đó là một trong những nhiệm vụ thường xuyên và
quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ mạnh,
chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [19, tr.92], “Chi bộ là nền móng của

đặt ra nhằm đưa công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà Nẵng
đạt được những kết quả cao hơn nữa.
Với những ý nghĩa khoa học thực tiễn đó và để thể hiện tấm lòng tri ân
đối với mảnh đất nơi tôi đang sinh sống và công tác, được sự khuyến khích
của thầy giáo hướng dẫn, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1997 đến năm 2006” cho
luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Quá trình lãnh đạo của Đảng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng đã có nhiều
nhà lãnh đạo và khoa học nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Vấn đề xây
dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà Nẵng cũng có nhiều tài liệu liên
quan. Có thể chia thành các nhóm, loại công trình như sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình chung, tiêu biểu là các cuốn sách: Hồ
Chí Minh: Về xây dựng Đảng (Nxb. Sự thật, 1981); Phạm Ngọc Quang, Trần
Đình Nghiêm: Thời kỳ mới và sứ mệnh của Đảng (Nxb. Chính trị quốc gia,
2001); Nguyễn Phú Trọng: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới
(Nxb. Chính trị quốc gia, 2000); Lê Huy Bảo: Điều lệ Đảng từ Đại hội đến
Đại hội (Nxb. Chính trị quốc gia, 2003); Nguyễn Trọng Phúc: Vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (Nxb. Chính trị quốc
gia, 2003); Nhiều tác giả: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986
đến nay (Nxb. Chính trị quốc gia, 2006); Nhiều tác giả: Việt Nam 20 năm đổi
mới (Nxb. Chính trị quốc gia, 2006) v.v… Những tác phẩm nói trên chủ yếu
đề cập đến quan điểm, chủ trương, đường lối lãnh đạo xây dựng Đảng của

9


Đảng, trong đó có nội dung về lãnh đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở
Đảng, một vấn đề mà luận văn kế thừa khi giải quyết đề tài.
Nhóm thứ hai là những sách chuyên luận, chuyên khảo về vấn đề xây

- Hệ thống hóa các chủ trương, biện pháp và cách thức tổ chức thực
hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà
Nẵng từ năm 1997 đến năm 2006.
- Nêu lên những nhận xét, rút ra những kinh nghiệm và đặt ra những
vấn đề góp phần phục vụ công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch,
vững mạnh ở Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Chủ trương, biện pháp lãnh đạo và kết quả của công tác tổ chức xây
dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến
năm 2006.
- Kết quả lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ
Thành phố Đà Nẵng.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu của luận văn là về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ thành phố (chính trị, tư tưởng,
củng cố cơ sở Đảng, phát triển đảng viên, công tác cán bộ, công tác kiểm tra
và kỷ luật); tổng kết thành tựu, hạn chế, những kinh nghiệm trong xây dựng tổ
chức cơ sở Đảng ở Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng.
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong 10 năm từ năm 1997 đến năm 2006.
- Không gian mà đề tài nghiên cứu là ở Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu chủ yếu
* Cơ sở lý luận:
Chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng Cộng sản và tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng Cộng sản Việt Nam.

11




- Phân tích những kinh nghiệm và nêu ra những vấn đề cần giải quyết
trong xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ Tành phố Đà Nẵng thời kỳ
1997 - 2006.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu về công tác
xây dựng Đảng ở Đảng bộ Tành phố Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về Thành phố Đà Nẵng và thực trạng xây dựng
tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà Nẵng từ năm 1986 đến năm 1996.
Chƣơng 2: Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng lãnh đạo tổ chức xây dựng cơ
sở Đảng từ năm 1997 đến năm 2006.
Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm.

13


Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996
1.1. Tổng quan về Thành phố Đà Nẵng
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Trong lịch sử dân tộc, Đà Nẵng được biết đến không chỉ là một thành
phố cảng lớn nhất miền Trung Việt Nam mà còn là một địa danh gắn liền với
công cuộc mở mang bờ cõi Đại Việt từ nhiều thế kỉ trước. Dấu vết của một
cửa ngõ giao lưu quốc tế gắn liền với xứ Đàng Trong vẫn còn, và trong dư ba
của lịch sử, đây là một tiền đồn quan trọng trong công cuộc chống ngoại xâm
của dân tộc Việt Nam.

tích 1248,4 km2 bao gồm vùng nội thành có diện tích 205,87 km2 gồm 5 quận
(Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn và Liên Chiểu) chia làm 33
phường nằm dọc theo con sông Hàn và huyện Hòa Vang với 14 xã và huyện
đảo Trường Sa.
Với vị trí địa lý nằm ở trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông
huyết mạch Bắc Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng
không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên,
là điểm cuối của hành lang kinh tế Đông Tây đi qua các nước Myanma, Lào,
Thái Lan, Việt Nam, Đà Nẵng trở thành cửa ngõ giao thông quan trọng giữa
các địa phương trong cả nước, giữa nước ta với các nước trong khu vực và
trên thế giới, kể cả đường bộ. đường biển, đường hàng không, Đà Nẵng trở
thành một trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, là nơi hội
tụ các công ty lớn của ngành công nghiệp như dệt may, sản xuất hàng tiêu
dùng, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật
liệu xây dựng, ngoài ra Đà Nẵng còn là trung tâm lớn nhất của khu vực miền
Trung - Tây Nguyên về lĩnh vực tài chính, ngân hàng và giáo dục đào tạo.

15


Ngoài sự ưu đãi của thiên nhiên cho Đà Nẵng, thành phố còn được bao
bọc bởi ba Di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút
nữa là di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia phong Nha - Kẻ Bàng. Vì
thế Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di
sản miền Trung. Nhờ vậy Đà Nẵng được xem là thành phố của du lịch, thành
phố của những di tích và của những danh lam thắng cảnh. Do nằm trong một
địa hình đặc biệt, có núi rừng, trung du, đồng bằng, biển cả… Đà Nẵng mang
trong mình một vẻ đẹp đa dạng. Có cái hùng vĩ, phóng khoáng của núi cao và
cái mênh mông, trữ tình của biển cả; có cái mềm mại, khỏe khoắn của sông
ngòi và cũng có những góc khuất, những đường vòng của đèo cao; có cái mơ

nghĩa rộng, tạo điều kiện cho công cuộc phát triển mới. Khai thác tốt những
lợi thế sẵn có, trong những năm qua Đà Nẵng đã có những biến đổi rõ rệt về
nhịp độ và khí thế phát triển. Tốc độ GDP bình quân tăng cao hơn mức bình
quân chung của cả nước, giá trị sản xuất các mặt hàng công nghiệp, nông
nghiệp, thủy sản phát triển toàn diện… kim ngạch xuất khẩu tăng, các ngành
du lịch thương mại, dịch vụ chuyển biến tích cực.
- Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, thành phố chủ trương lấy công
nghiệp làm đòn bẩy phát triển, cơ cấu kinh tế Đà Nẵng có chuyển dịch đáng
kể theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ phù hợp với xu
thế chung của cả nước và những đô thị lớn. Để chuẩn bị cho một cuộc bứt phá
của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với vai trò đầu tàu của mình, những
năm qua, Đà Nẵng đã nỗ lực cải thiện hình ảnh và vị thế của mình để đáp ứng
yêu cầu chung của khu vực.
Với vị thế là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên,
Đà Nẵng là nơi hội tụ các công ty lớn của các ngành dệt may, sản xuất hàng
tiêu dùng, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng… Hiện nay Thành phố Đà Nẵng cũng là trung tâm lớn nhất
của khu vực miền Trung - Tây Nguyên về lĩnh vực tài chính ngân hàng với
hơn 40 ngân hàng thương mại nhà nước, thương mại cổ phần, liên doanh, và
công ty tài chính đang hoạt động, cùng với hàng chục trung tâm giao dịch

17


chứng khoán quy mô lớn… ngoài ra Thành phố Đà Nẵng hiện được xem là
một trong ba trung tâm bưu chính lớn nhất nước với tất cả các loại hình phục
vụ hiện đại và tiện lợi.
Bên cạnh đó, thành phố còn được sự ưu ái của thiên nhiên với nhiều
danh lam thắng cảnh, do đó du lịch cũng được coi là thế mạnh và góp phần
không nhỏ và sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

nông nghiệp và công nghiệp; cơ sở vật chất - kỹ thuật bước đầu được xây
dựng; giành thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc
Tổ quốc; thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế với Lào và Campuchia… Bên cạnh đó
vẫn còn nhiều khó khăn đặt ra đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải giải quyết:
“Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, viên chức còn nhiều khó khăn.
Nhiều người lao động chưa có và chưa đủ việc làm. Nhiều nhu cầu chính
đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá chưa được bảo
đảm” [15, tr.320]; hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Công bằng xã
hội bị vi phạm. Pháp luật, kỷ cương không nghiêm, những hành vi lộng
quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt
động của bọn làm ăn phi pháp... chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời.
“Thực trạng nói trên làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo
của Đảng và sự điều hành của các cơ quan nhà nước” [15, tr.320].
Trong bối cảnh đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội và yêu
cầu bức thiết đặt ra là phải đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5-18/12/986.
Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật” Đại hội đã thẳng thắn đánh giá những thành tựu, chỉ ra những sai lầm,
khuyết điểm, những khó khăn của đất nước. Đại hội khẳng định sai lầm chủ
yếu của Đảng trong thời gian qua là “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ
và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh
hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm
chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng” [15, tr.327]. Những sai lầm và

19


khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội “bắt nguồn từ những khuyết điểm
trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng. Đây là
nguyên nhân của mọi nguyên nhân” [15, tr.327].

của quần chúng” [9, tr.141-142].
- Nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Tổ chức cơ sở Đảng
phải là nơi nắm vững và bảo đảm cho mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chăm lo việc giáo dục, rèn luyện đảng
viên, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách và thu hút vào
Đảng những người ưu tú xuất hiện trong phong trào cách mạng của quần chúng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là Đại hội có ý nghĩa
lịch sử to lớn, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình kế thừa và
đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đường lối đổi
mới toàn diện đất nước là cơ sở hết sức quan trọng để tăng cường hơn nữa sự
đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng và toàn dân để vượt qua mọi khó khăn,
thử thách, xây dựng thành công CNXH ở nước ta.
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ VI, toàn Đảng,
toàn dân ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, khắc phục từng bước
những sai lầm, khuyết điểm trước đây, mở ra những hướng mới, cách làm
mới nhằm thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội và từng bước
đưa đất nước phát triển.
Những thành tựu đạt được trong 5 năm đầu đã chứng tỏ đường lối đổi
mới do Đại hội lần thứ VI đề ra là đúng đắn, đây là cơ sở quan trọng để Đại
hội lần thứ VII (1991) đề ra phương hướng, kế thừa và tiếp tục phát triển
đường lối đổi mới. Đại hội khẳng định công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
hiện nay “đòi hỏi Đảng nhất thiết phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Đây là một
nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của sự
nghiệp đổi mới, sự ổn định và phát triển của đất nước và đối với vận mệnh
của bản thân Đảng. Đây cũng là nguyện vọng và đòi hỏi của nhân dân” [16,
tr.212]. Về công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, Đại hội nêu rõ:

21




23


với nhân dân trên thế giới. Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh
dân tộc và tương lai của đất nước vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ 21.
Để bổ sung và củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và vai trò
tiên phong gương mẫu của đảng viên, ngày 26/11/1996, Bộ Chính trị quy định
về chức năng nhiệm vụ của đảng viên chi bộ cơ sở.
- Quy định số 16/QĐ - TW Về chức năng nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ
trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần tư [20, tr.34].
- Quy định số 15/QĐ - TW Về chức năng nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài [21, tr.29].
1.2.2. Thực trạng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở Thành phố Đà
Nẵng trong 10 năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 1996
Bước vào thời kỳ đổi mới cùng cả nước, Đảng bộ Thành phố Đà Nẵng
(trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng) có 95 tổ chức cơ sở Đảng, với 2.673
đảng viên, phân bố không đều. Trong tổng số 2.673 đảng viên của Đảng bộ,
có 15,86% đảng viên trẻ (từ 18 đến 30 tuổi). Ở các chi, đảng bộ xã, tiểu khu,
HTX tiểu thủ công nghiệp, đảng viên ở độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ rất cao,
nhiều đảng viên chưa đề cao ý thức tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập
thể của quần chúng, công tác phát triển Đảng còn chậm, “năm 1985 mới kết
nạp được 265 đảng viên, số Đảng bộ, Chi bộ vững mạnh đạt 25,70%, số cơ sở
loại khá đạt 70%, số đơn vị yếu kém còn 4,30%” [1, tr.21].
Tính đến cuối năm 1987, “Đảng bộ thành phố có 70% chi bộ, đảng bộ
cơ sở làm tốt công tác cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng. Số
đảng viên tích cực đạt tỷ lệ 77,1% (tăng 17,2% so với năm 1986). Số đảng
viên mới được kết nạp trong năm 1987 tăng 20% so với năm 1985 và tăng
70% so với năm 1986, có trình độ văn hoá và kỹ thuật, có tinh thần trách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status